B. Năm Ất Sửu (1925)

Thứ sáu, 4-6-Ất Sửu (dl 24-7-1925), lúc 9 giờ tối.

Bốn ông : Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu họp nhau tại nhà ông Sang ở phố hàng dừa, Sài Gòn, để thí nghiệm xây bàn theo lối Thần Linh học Tây phương. Bốn ông ngồi quanh một cái bàn tròn một trụ ba chân đặt nơi hàng ba, một chân bàn kê lên cho gập ghình, hai bàn tay đều xòe ra úp lên mặt bàn, im lặng định thần. Lát sau, cái bàn rung động, nghiêng qua lại gõ nhẹ lên gạch. Các ông biết là có vong linh nhập vào bàn, tuy nhiên khi ghi lại các tín hiệu nhận được thì không đọc được ra câu gì hết, có chữ Việt, có chữ Pháp lộn xộn, dường như các vong linh tranh nhau nói. Đến quá khuya mà chưa có được kết quả cụ thể nào, các ông mệt quá, đành dọn dẹp đi nghỉ, hẹn đêm mai thử nữa.

Thứ bảy, 5-6-Ất Sửu (dl 25-7-1925), khoảng 9 giờ tối.

Bốn ông vẫn bày bố y như hôm qua, nhưng chưng hoa quả và nhang đèn tươm tất hơn. Vừa tịnh thần một lát thì có vong linh nhập bàn, liền nhịp chân bàn gõ thành tiếng rõ ràng, không lộn xộn như đêm qua, quí ông ráp lại được 3 chữ : CAO QUỲNH LƯỢNG.

Bốn ông rất vui mừng, vì Cao Quỳnh Lượng là con của ông Cao Quỳnh Diêu, chết đã mấy năm rồi. Ông Cư thử xem có thiệt là Cao Quỳnh Lượng không, liền nói : - Nếu phải là Cao Quỳnh Lượng thì gõ bàn cho biết tên của những người đang ngồi xây bàn nơi đây. Cao Quỳnh Lượng liền gõ bàn đúng tên các vị. Ông Diêu biểu Lượng đi mời ông Nội đến. Chờ một lúc thì chơn linh ông CAO QUỲNH TUÂN (thân phụ của hai ông Diêu và Cư) nhập bàn, gõ cho bài thi : “ Ly trần tuổi đã quá năm mươi, . . . . . “

Kết quả buổi xây bàn nầy thật là mỹ mãn, làm cho bốn ông suy nghĩ rất nhiều, tin tưởng là có thế giới vô hình và có thể nói chuyện với những vong linh đã khuất.

Ngày 10-6-Ất Sửu (dl 30-7-1925), lúc 9 giờ tối.

Bốn ông lại tổ chức xây bàn tại nhà ông Sang. Tối nay, chiếc bàn chuyển động khoan thai nhẹ nhàng, gõ bàn cho một bài thi, tựa là “Thác vì tình” : “Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai, . . . “, xưng tên là : Đoàn Ngọc Quế, con gái.

Quí ông yêu cầu Cô cho biết phần mộ của Cô ở đâu đặng đến viếng. Cô cho biết, mộ của Cô ở trong vườn Bà Lớn, gần Ngã Bảy và tên thiệt của Cô là Vương Thị Lễ.

Mấy hôm sau, ba ông Cư, Tắc, Sang đem đèn nhang đi viếng mộ Cô Lễ thì đúng y như lời cô chỉ dẫn.

Thứ bảy, 19-6-Ất Sửu (dl 8-8-1925), khoảng 8 giờ tối.

Ba ông Cư Tắc Sang xây bàn, Cô Lễ giáng bàn, kết nghĩa anh em với ba ông : Cô gọi ông Cư là Trưởng Ca, ông Tắc là Nhị Ca, ông Sang là Tam Ca, còn Cô là Tứ muội. Cô Lễ gọi bà Hiếu (vợ của ông Cư) là Đại tỷ. Tình cảm thân thiết của quí vị như trong một gia đình.

Quí ông cứ tiếp tục xây bàn, có nhiều chơn linh đến xướng họa thi phú để cho quí ông có thêm đức tin về các chơn linh nơi cõi vô hình.

Thứ sáu, 10-7-Ất Sửu (dl 28-8-1925), tối.

Tại nhà ông Cư, ba ông Cư, Tắc, Sang xây bàn như thường lệ. Khi tay vừa đặt vào bàn, bàn liền chuyển động, cho bốn câu thi “Ớt cay cay ớt gẫm mà cay, .. .“ và xưng danh là “ A à “.

Mùng 1-8-Ất Sửu (dl 18-9-1925), tối.

Cô Vương Thị Lễ nhập bàn tiết lộ cho ba ông biết, Cô là Thất Nương của Diêu Trì Cung nơi cõi thiêng liêng, trên có Cửu Thiên Nương Nương cai quản, còn Cô Hớn Liên Bạch là Bát Nương. Ba ông xin Cô dạy cách cầu Cửu Thiên Nương Nương. Thất Nương bảo ba ông phải ăn chay trước 3 ngày và phải có ngọc cơ mới cầu Nương Nương đặng. Thất Nương chỉ vẽ cho 3 ông cách cầu bằng ngọc cơ.

Mùng 8-8-Ất Sửu (dl 25-9-1925), tối.

Đấng A Ă Â giáng bàn, dạy ba ông nhân đó mà làm một cái tiệc chay vào đêm Trung Thu để đãi Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu vị Tiên Nương.

Đêm 15-8-Ất Sửu (dl 2-10-1925) : HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG.

Ba ông Cư, Tắc, Sang thiết lễ Hội Yến DTC tại tư gia của ông Cư (134 đường Bourdais, Sài Gòn). Quí ông lập bàn hương án, chưng những thứ hoa thơm, xông trầm trọn ngày (nhà không tiếp khách). Sắp đặt tiệc ấy do bà Hiếu vâng lịnh lập thành. Trên là bàn thờ Đức Phật Mẫu, dưới đặt một bàn dài, sắp 9 cái ghế như có người ngồi vậy, chén, đũa, muỗng, ly, tách, đều giống y như đãi người hữu hình. Đến giờ Tý, quí vị lên nhang đèn, quì lạy thành kỉnh, rồi đem ngọc cơ ra cầu. Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương giáng chào mừng.

Ba ông, mỗi người đều có chuẩn bị sẵn một bài thi mừng do Thất Nương dặn trước, lần lượt ngâm lên để hiến lễ Nương Nương. Đức Phật Mẫu và 9 Cô an vị lắng nghe.

Chừng nhập tiệc, Thất Nương mời ba ông ngồi chung vào tiệc cho vui. Ba ông thấy không thể chối từ nên sắp sau lưng 9 Cô ba cái ghế, ba ông xá rồi ngồi xuống.

Cách chừng nửa giờ sau, như là mãn tiệc, ba ông phò cơ tái cầu. Lịnh Nương Nương và 9 Cô để lời cảm tạ, mỗi vị cho một bài thi bốn câu, lại hứa rằng : “Từ đây có ngọc cơ rồi thì tiện cho DTC Cửu Cô đến dạy việc.”

Kể từ ngày nầy, quí ông sử dụng ngọc cơ cầu các Đấng theo lối Cầu Tiên của Đạo gia, nhận các Thánh giáo rất nhanh so với lối Xây Bàn của Thần Linh học.

Đêm 3-9-Ất Sửu (dl 20-10-1925).

Đấng AĂÂ giáng, nói với ba ông:“Tôi nói lộ Thiên cơ, trên Ngọc Hư bắt tội, xin tam vị Đạo hữu cầu Ngọc Hư Cung tha tội cho tôi. Nếu không lo cầu giùm thì tôi bị phạt.”

Ba ông liền đặt một bài thi khẩn cầu, rồi lập bàn hương án cầu DTC xin Ngọc Hư tha tội cho ông AĂÂ.

Đêm 27-10-Ất Sửu (dl 12-12-1925).

Đấng Cửu Thiên Huyền Nữ giáng đàn truyền lịnh : “Mùng 1 nầy, tam vị đạo hữu vọng Thiên cầu Đạo.”

Ba ông không biết Vọng Thiên cầu Đạo là làm gì, bèn cầu hỏi Thất Nương. Thất Nương trả lời : "Không phải phận sự của em, xin hỏi ông AĂÂ".

Ba ông không thỏa mãn, bèn cầu hỏi các Đấng khác, nhưng các Đấng ấy cũng trả lời tương tự như Thất Nương.

Đêm 30-10-Ất Sửu (dl 15-12-1925).

Ba ông cầu Đấng AĂÂ, Ngài giáng dạy : “Ngày mùng 1 tháng 11 nầy, tam vị phải vọng Thiên cầu Đạo, tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa trời, mỗi người cầm 9 cây nhang mà vái rằng : “ Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vọng bái Cao Đài Thượng Đế ban ơn đủ phước lành cho ba tôi cải tà qui chánh.”

Đêm mùng 1-11-Ất Sửu (dl 16-12-1925) : VỌNG THIÊN CẦU ĐẠO.

Ba vị Cư, Tắc, Sang mặc quốc phục nghiêm chỉnh, lập bàn hương án trước sân nhà ông Cư, cạnh lề đường, mỗi ông cầm 9 cây nhang quì giữa trời cầu nguyện y như Đấng AĂÂ dạy. Lúc đó khoảng 10 giờ đêm, người hiếu kỳ bu lại xem ba ông cầu cúng gì mà lạ vậy.

Sau khi tàn 9 cây nhang, ba ông trở vô nhà, đem ngọc cơ ra cầu. Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng, viết chữ nho, ba không không hiểu. Khi Đấng Cao Đài thăng rồi, ba ông liền cầu Đấng AĂÂ. Ngài giáng dạy : Đức Cao Đài Thượng Đế nói, tam vị chưa đủ đức tin về Ngài nên hỏi gạn lại, tam vị phải nghĩ cho thấu. Rồi Ngài cho bài thi bốn câu : “ Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng, . . . . “

Đêm mùng 4-11-Ất Sửu (dl 19-12-1925).

Ba ngày sau khi Vọng Thiên Cầu Đạo, Đấng AĂÂ giáng cho ba ông bài thi :

Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài,
Bởi đức ngày xưa có buổi nay.
Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,
Gìn lòng tu tánh, chớ đơn sai.

Như vậy là Đấng Thượng Đế đã chấp nhận lời vọng Thiên cầu Đạo của ba ông Cư, Tắc, Sang, và sẽ mở ra một mối đạo mới gọi là Đạo Cao Đài để cứu độ nhơn sanh.

Đêm mùng 9-11-Ất Sửu (dl 24-12-1925) : Đêm NOEL 1925.

Nhân Lễ Chúa Giáng Sinh, ba ông tập hợp lại nhà ông Cư để cầu cơ. Đấng AĂÂ giáng cơ xác nhận : AĂÂ chính là Cao Đài Thượng Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát để dạy đạo tại nước Việt Nam, và Đức Chí Tôn ban lịnh cho ba ông : “Chẳng bao lâu đây, các con phải ra giúp Thầy khai đạo.”

Đêm 18-11-Ất Sửu (dl 2-1-1926) : Thầy bắt đầu dạy Đạo.

Đức Chí Tôn khởi sự dạy đạo cho ba ông Cư, Tắc, Sang và căn dặn hai ông Cư, Tắc mỗi việc chi đều phải triệt để tuân lịnh Thầy.

Ngày 27-11-Ất Sửu (dl 11-1-1926).

Ông Lê Văn Trung đến hầu đàn tại nhà ông Cư, được Đức Chí Tôn ban cho bốn câu thi.

[Ông Trung trước đó được ông Nguyễn Hữu Đắc hướng dẫn đến hầu đàn Chợ Gạo ở Phú Lâm (nhà của ông Lê Thành Vạn), tại đây Đức Lý Thái Bạch giáng đàn, độ ông Trung, làm cho cặp mắt của ông hết bịnh, sáng trở lại].

Ngày 3-12-Ất Sửu (dl 16-1-1926).

Ông Quí Cao giáng cơ cho bài thi “ Tu như cỏ úa gặp mù sương “ và sau đó ông giải thích về Ngũ kỵ, tức là Ngũ vị tân mà Phật giáo cấm dùng.

Ngày 5-12-Ất Sửu (dl 18-1-1926).

Hai ông Cư và Tắc vâng lịnh Đức Chí Tôn đến nhà ông Lê Văn Trung ở Chợ Lớn để lập đàn. Đức Chí Tôn dạy ông Trung : “Trung, nhứt tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thác cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng của con mà suy lấy.

Trong dịp nầy, Đức Chí Tôn dạy ông Trung phải hiệp với hai ông Cư và Tắc lo việc mở Đạo.

Ngày 14-12-Ất Sửu (dl 27-1-1926).

Quí ông bạch hỏi Đức Chí Tôn về cách thờ phượng. Đức Chí Tôn dạy quí ông đến gặp ông Ngô Văn Chiêu để xem cách thức. (Ông Chiêu lúc đó ngụ tại lầu 2, số nhà 110 đường Bonard, nay là đại lộ Lê Lợi, Sài Gòn).

Nói riêng về Ngài Ngô Văn Chiêu :

- Mùng 1 Tết Tân Dậu (dl 8-2-1921), Đức Chí Tôn giáng bảo ông Chiêu ăn chay 3 năm (Chiêu ! Tam niên trường trai), xem như ông Chiêu được Đức Chí Tôn thâu làm môn đệ đầu tiên, trong lúc đó ông Chiêu đang làm Quận trưởng quận Phú Quốc.

- Ngày 13-3-Tân Dậu (dl 20-4-1921), ông Chiêu đang ngồi sau dinh Quận nhìn ra biển, chợt thấy hiện ra một con mắt lớn, chói lọi hào quang. Ông Chiêu sợ hãi, vái : "Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin cho biến mất tức thì."

- Vài ngày sau, ông Chiêu lại thấy Thiên Nhãn hiện ra lần nữa, Ngài lại khấn xin vẽ Thiên Nhãn như thế để thờ, thì Thiên Nhãn từ từ biến mất.

- Sau đó, ông Ngô Văn Chiêu được nhà cầm quyền Pháp đổi về làm việc tại Sài Gòn. Ngài rời đảo Phú Quốc ngày 28-6-Giáp Tý (dl 29-7-1924), về tới Sài Gòn ngay ngày hôm sau, thuê nhà tại 110 đường Bonard để cư ngụ, còn gia đình của Ngài vẫn ở tại Thị xã Tân An.

Ngày 18-12-Ất Sửu (dl 31-1-1926).

Ông Lê Văn Trung lập bàn thờ Thầy rất long trọng và tổ chức lễ Khai đàn Thượng tượng. Đức Chí Tôn giáng dạy ông Trung cách sắp đặt thờ Tam Trấn Oai Nghiêm.

Ngày 30-12-Ất Sửu (dl 12-2-1926) : Đêm giao thừa.

Đức Chí Tôn dạy Ngài Chiêu hiệp với quí ông lập phái đoàn đi viếng thăm nhà các môn đệ của Đức Chí Tôn trong dịp giao thừa cuối năm Ất Sửu.

Ngài Chiêu làm pháp đàn, hai Ngài Cư và Tắc phò loan, ông Nguyễn Trung Hậu làm độc giả và ông Tuyết Tân Thành làm điển ký.

Phái đoàn lần lượt đi đến từng nhà của các môn đệ, đến mỗi nhà thì phò loan cho Đức Chí Tôn giáng dạy.

Khi phái đoàn đến nhà Ngài Lê Văn Trung thì vừa kịp đón lễ Giao thừa.

Đúng giờ Tý năm mới Bính Dần, Đức Chí Tôn giáng ban Thánh giáo đầu tiên rất quan trọng :

“ Chư đệ tử nghe,

CHIÊU buổi trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ, dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức, đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó.

TRUNG, KỲ, HOÀI, ba con phải lo thay mặt cho CHIÊU mà đi độ người. Nghe và tuân theo.

BẢN, SANG, GIẢNG, QUÍ lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.

ĐỨC tập cơ, HẬU tập cơ, sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo. “

Ấy là lời Thánh giáo đầu tiên.

Đây là ngày giờ mà Đức Chí Tôn khởi lập Đạo Cao Đài : giờ Tý mùng 1 Tết năm Bính Dần.