19. Cách xưng hô
ID026660 - Chương : 19. Cách xưng hô 🖶 Print this Chương
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

A. Cách xưng hô.

Trong Đạo Cao Đài, cách xưng hô giữa Chức sắc và tín đồ cần phải có tánh cách khiêm tốn và có vẻ đạo, nên Hội Thánh ban hành Huấn Lịnh dạy rõ sau đây :

Văn Phòng ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
HỘ PHÁP (Nhị thập thất niên)
----- TÒA THÁNH TÂY NINH
Số: 211/CV

HUẤN LỊNH
THÁI, THƯỢNG, và NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ

Gởi cho chư vị Thiên phong Chức sắc, toàn đạo.

Chư Hiền huynh, Hiền tỷ,

Nhận thấy công văn về mặt Đạo, có một phần ít Chức sắc không mấy rành cách xưng hô cùng nhau cho y một khuôn khổ.

Muốn bổ khuyết điều ấy và do nơi sự đề nghị của Hội Thánh, Đức Hộ Pháp đã phê chuẩn Huấn Lịnh nầy, xin chư Hiền huynh, Hiền tỷ do theo các danh từ xưng hô cùng nhau kể dưới đây mà dùng trong cáccông văn của Đạo.

1. Giáo Tông và Hộ Pháp xưng : Bần đạo.

2. Chưởng Pháp và Đầu Sư xưng : Tinh tế.

Tinh là tinh vi, thuần túy, Tế là tế độ chúng sanh.

3. Chánh Phối Sư và Phối Sư xưng là : Tiện minh.

Tiện là tiếng khiêm tốn, ám chỉ là còn thiếu kém tài đức.

Minh là sáng, minh mẫn, lấy trí khôn mà xét đoán việc hành sự.

4. Giáo Sư xưng là Tiện hiền.

Chữ Tiện, như đã giải ở trên. Chữ Hiền, là hiền đức, hiền lành. Đức Chí Tôn đã ban cho 72 Giáo Sư là Thất thập nhị Hiền thì tính cách xưng hô của Giáo Sư có chữ Hiền, hiểu nghĩa trắng, thiết tưởng cũng không quá đáng.

5. Giáo Hữu xưng là Tiện đệ.

Chữ Tiện, như đã giải ở trên. Chữ Đệ là em, mà có nghĩa trong số Tam thiên Đồ đệ của Đức Chí Tôn ban cho.

6. Lễ Sanh xưng là Thiểu phẩm.

Thiểu là ít, là nhỏ, xưng là chức nhỏ một cách khiêm cung. Lễ Sanh là người có hạnh đức hơn hết trong chư môn đệ của Đức Chí Tôn mà dùng chữ khiêm tốn xưng mình thì giá trị càng cao.

Luận một cách tổng quát, Chức sắc nhỏ đối với Chức sắc lớn hơn, có thể gọi là Hiền huynh, còn mình tự xưng là Tiện đệ, còn bề trên xưng với cấp dưới thì tự gọi là Tiện huynh, kêu em là Hiền đệ.

Luận về hai tiếng : ÔngNgài hay dùng thường thức trong Đạo :

- Từ Tín đồ đến Giáo Hữu thì dùng chữ ÔNG.

- Từ Giáo Sư trở lên mới dùng chữ NGÀI.

- Trong việc liên quan giữa gia đình thân thuộc thì cứ giữ tiếng xưng hô như xưa nay : cô, bác, cậu, dì, anh, chị, em, cháu, . . . .

Đặc biệt, riêng về Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp thì phải để trên các văn kiện :

Bạch Đức Giáo Tông hay Bạch Đức Hộ Pháp,

Kế đó là : Bạch Đức Ngài, dài theo câu chuyện nếu lập đi lập lại thì đề Bạch Đức Ngài luôn.

Trên văn kiện chánh thức gởi cho Chức sắc cấp trên thì phải để chức phẩm.

Thí dụ như : Giáo Hữu mà gởi cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư thì đề :

Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh, Khâm Châu Đạo Cần Thơ,

Kính gởi : Ngài Quyền Ngọc Chánh Phối Sư.

Hàng dưới cách khoảng thì đề :

Kính Ngài Quyền Ngọc Chánh Phối Sư,

Rồi trong văn kiện thì xưng hô như cách đã chỉ trên, hoặc dùng tiếng chung mà gọi người là Hiền huynh, xưng là Tiện đệ.

Bên nữ phái, trên đối với dưới thì xưng là Tiện tỷ, gọi em là Hiền muội, dưới đối với trên thì gọi bề trên là Hiền tỷ, xưng mình là Tiện muội.

Vậy, từ đây, xin chư vị Chức sắc nam nữ tuân theo Huấn Lịnh nầy, tùy giai cấp mà xưng hô cùng nhau và ban hành cho toàn Đạo đặng rõ.

Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 15-7-Nhâm Thìn (dl 3-9-1952).

Nữ Chánh Phối Sư Q.Thái CPS Q.Thượng CPS Q. Ngọc CPS
(ấn ký) (ấn ký) (ấn ký) (ấn ký)
Hương Hiếu Thái Khí Thanh Thượng Sáng Thanh Ngọc Non Thanh

 

B. Hạnh khiêm nhượng.

“ Khiêm nhượng là hạ mình để nhường người, để tặng người trên mình.

Kẻ tài sơ mà biết khiêm nhượng, người tài giỏi mới vui dạ dắt dìu chỉ bảo. Người học giỏi biết khiêm nhượng, kẻ tài sơ mới đem lòng mến phục. Nên biết rằng dầu mình tài cao trí sáng bực nào cũng có người khác giỏi hơn mình.

Vả lại, nếu đem cái học lực hữu hạn của ta mà so sánh với biển Thánh mênh mông, rừng nhu thăm thẳm thì có thấm tháp vào đâu mà hòng tự đắc ?

Vì vậy mà Thánh hiền xưa đã nói : Học chừng nào càng thấy mình dốt chừng nấy.

Thánh hiền xưa thì vậy, còn người đời nay phần nhiều hễ mở miệng ra là khoe mình giỏi, không đợi ai khen. Cái tánh tự kiêu ấy làm cho con người như mù quáng, nên hễ việc chi của mình làm, lời chi của mình nói, đều cho là phải cả, rồi hiu hiu tự đắc. Người như vậy không bao giờ thấy chỗ lỗi của mình mà sửa đổi, hoặc chỗ dở của mình mà học hỏi cho hay.

Người tài giỏi chẳng cần khoe khoang, người ta cũng biết; kẻ dở mà cố khoe khoang, người ta đã không mến phục lại còn khinh bỉ là khác.” (Trích B 12 Huấn Luyện Lễ Sanh)

“ Đức Chí Tôn hằng dạy môn đệ của Ngài qua một đoạn Thánh giáo như sau :

Các con coi bực Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát, hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm nhượng là thế nào ! Vì vậy mà nhiều kẻ môn đệ cho Thầy là nhỏ.

Hạnh khiêm nhượng là hạnh của mỗi đứa phải noi theo gương Thầy, mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhượng sao cho bằng Thầy.

Đức Khổng Thánh hằng dạy chư môn đệ :

Dầu mình có thông minh đến bực nào cũng phải xem mình như ngu dốt; dầu mình có công cao hơn thiên hạ cũng phải nhường người; dầu mình có sức mạnh hơn đời cũng coi mình như mềm yếu; dầu mình giàu có đầy bốn biển cũng coi mình như nghèo nàn vậy.

Ấy là hạnh khiêm nhượng của các bậc cổ nhân như thế là phương hay để giữ gìn thực lực của mình, không để cho tánh kiêu sa phóng túng, tính tự đắc tự kiêu là cái nhược điểm của tâm lý thường tình xô đẩy vào nẻo quấy, có hại cho tinh thần đạo đức.

Phàm làm người có tài năng là nhờ có tâm đức trước hết, nếu không khéo giữ gìn được tâm đức mà tự đắc tự kiêu thì tài năng quán thế cũng trở nên tối tăm tiêu tán, lắm khi còn đưa mình đến nơi hoạn nạn là khác. . . . . . .

Chỉ có tinh thần đạo đức là đáng cho chúng ta trông cậy mà khỏi sợ bị lầm lạc. Tinh thần đạo đức lấy nhỏ nhoi, khiêm nhượng làm cốt yếu.

Thế nên qua các giáo điều của Thánh nhân lưu truyền giác thế đều khuyên dạy nên học tánh khiêm cung hòa nhã để làm phương hay xử thế, tiếp vật cho được ôn nhu dè dặt, mới tránh khỏi sai lầm.

Ví bằng tự kiêu tự đắc, tức là buông trôi theo mặt sóng của thế tình, sao cho khỏi vùi dập mảnh thân phàm mà nhiều phen khốn đốn.

Hạnh khiêm nhượng là hạnh bảo vệ thân tâm quí báu nhứt, vì hễ làm người bắt đầu tự kiêu là bắt đầu bước trên đường nguy vong đó vậy.

Đời sống khiêm tốn là đời sống thanh cao khoáng đạt nhứt, có thể bảo tồn được thân tâm dù trải qua bao nhiêu sự tàn phá của thời gian. . . . . . .

Vì vậy, đức tánh khiêm nhượng là đáng cho ta quan tâm hơn hết.” (Trích Hạnh đường Huấn luyện Lễ Sanh)