7). Cáo Từ Tổ - Thành phục - Tang phục.
ID026741 - Mục : 7). Cáo Từ Tổ - Thành phục - Tang phục. 🖶 Print this Mục
Tiết : B. Phần thứ nhì : TANG LỄ (Lễ Sanh, Chức Việc, Đạo Hữu & các phẩm tương đương).
Chương : 24. Tang lễ.
Sách : Bước Đầu Học Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

7). Cáo Từ Tổ - Thành phục - Tang phục.

Dọn hai mâm cơm chay: một đặt trước bàn thờ để cúng Cửu Huyền Thất Tổ, một dọn trước nhà để cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh, cần có đủ bông, rượu, trà.

Tất cả khăn tang và áo tang, xếp trật tự đặt trên một cái mâm, gọi là mâm tang phục, để trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Trên mâm tang phục đốt 2 cây đèn sáp.

Trước hết, Chức việc và gia quyến đến Thiên bàn cúng Đức Chí Tôn, không đọc kinh, chỉ cầu nguyện cho gia quyến thọ tang. Kế đó, qua bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lễ Cáo Từ Tổ, xong rồi qua bàn vong, làm lễ Thành phục phát tang.

A) Cáo Từ Tổ :

Cáo Từ Tổ là lễ báo cáo với Tổ Tiên, trong dòng họ có một người vừa qui liễu.

Trong nghi tiết Cáo Từ Tổ có 2 Lễ sĩ mặc áo xanh đậm, mão trắng có bông đen, đứng hai bên bàn thờ để xướng lễ, có nhạc và đồng nhi.

Nghi tiết Cáo Từ Tổ : Cặp lễ sĩ bắt đầu xướng :

1. Tử tôn tựu vị. (con cháu tới đứng tại vị trí của mình)

Người chủ tế đứng hàng đầu. Tất cả bắt ấn Tý.

2. Giai quì. (đều quì) Tất cả xá 3 xá đều quì xuống.

3. Phần hương. (đốt nhang)

Tiếp lễ đốt 3 cây nhang, trao cho người chủ tế.

4. Nguyện hương. (cầm nhang cầu nguyện)

Chủ tế cầm 3 cây hương đưa lên trán cầu nguyện.

5. Thượng hương. (dâng hương lên)

Người tiếp lễ tiếp lấy 3 cây hương đem cắm vào lư hương trên bàn thờ.

6. Cúc cung bái. (Tất cả cúi mình lạy xuống 3 lạy trơn)

7. Chước tửu. (rót rượu)

Người tiếp lễ lấy nhạo rượu rót vào ly rượu trên bàn thờ.

8. Cúc cung bái. (Tất cả cúi mình lạy xuống 3 lạy trơn)

9. Ai chúc. (đọc kinh tế lễ với giọng buồn rầu)

Đồng nhi tụng Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu, rồi tụng tiếp ba biến Kinh Cứu Khổ.

10. Cúc cung bái. (Tất cả lạy xuống 3 lạy trơn)

11. Điểm trà. (rót nước trà)

Người phụ lễ rót nước trà vào tách nước trà trên bàn thờ.

12. Cúc cung bái. (Tất cả lạy xuống 3 lạy trơn)

13. Hưng bình thân. (cất mình đứng thẳng lên)

Tất cả những người quì tế đứng dậy, xá 3 xá.

14. Tử tôn dĩ hạ giai xuất. (tất cả con cháu từ đó sắp xuống đều bước ra ngoài).

15. Lễ thành. (cuộc tế lễ đã xong).

B) Thành phục - Phát tang.

Thành phục là lễ chịu tang để cho thân nhân người chết mặc quần áo tang.

Đem mâm tang phục qua đặt trước bàn vong.

Chức sắc hay Chức việc mặc đại phục đến cúng cầu nguyện Đức Chí Tôn rồi mới trở lại bàn vong, chờ lễ xướng rồi lấy tang phục của người nào phát cho người nấy (trên tang phục có đề tên của mỗi người).

Nghi tiết lễ Thành phục : (có nhạc lễ)

Hai Lễ sĩ đứng hai bên bàn vong, khởi xướng :

1. Chủ nhơn tựu vị (người chủ đến đứng tại vị trí hành lễ)
2. Giai quì (tất cả đều quì xuống)
3. Phần hương (đốt nhang)
4. Nguyện hương (cầm hương đưa lên trán cầu nguyện)
5. Thượng hương (dâng hương lên cắm vào lư hương)
6. Cúc cung bái (Con cháu lạy xuống 3 lạy trơn)
7. Ngũ phục chi nhơn các phục kỳ phụ (5 thứ quần áo tang, áo của người nào thì lấy mặc vào)
8. Hưng bình thân (đứng dậy).
9. Quán y phục (đội khăn tang và mặc quần áo tang vào)
10. Giai quì (tất cả đều quì xuống trở lại)
11. Cúc cung bái (Con cháu lạy xuống 3 lạy trơn)
12. Hưng bình thân (đứng thẳng dậy)
13. Xuất chủ ngoại nghi. (Tang chủ phân ra quì Nội và Ngoại nghi)

Liền đó, hành lễ Cúng vong, nghi châm chước, nên lễ sĩ không xướng Lễ thành, vì còn hành lễ tiếp tục.

C) Cúng vong :

Cúng vong là cúng tế vong hồn người chết.

Lễ sĩ tiếp tục xướng :

1. Tang chủ tựu vị.
2. Giai quì.
3. Phần hương. (Tiếp lễ đốt hương giao người quì tế)
4. Nguyện hương.
5. Thượng hương.
6. Cúc cung bái.
7. Châm tửu (lần 1)
8. Cúc cung bái.
9. Châm tửu (lần 2)
10. Cúc cung bái.
11. Ai chúc. (Đồng nhi tụng kinh Thế đạo tùy sự sắp đặt người quì tế : vợ tế chồng, chồng tế vợ, con tế cha mẹ)
12. Cúc cung bái.
13. Châm tửu (lần 3)
14. Cúc cung bái.
15. Điểm trà.
16. Cúc cung bái.
17. Hưng bình thân.
18. Tang chủ dĩ hạ giai xuất.
19. Lễ thành.

D) Nói về Tang phục (Ngũ phục) :

Tang phục là quần áo tang. Theo Nho giáo, trong Tang phục có Ngũ phục : là năm loại quần áo tang dùng trong năm trường hợp để tang. Ngũ phục gồm có : Trảm thôi, Tư thôi, Đại công, Tiểu công, Tư ma.

Giải thích Ngũ phục :

1. Trảm thôi ( . . ) : Trảm là cắt đứt, thôi là áo tang. Trảm thôi là áo tang bằng vải thô trắng thật xấu, gấu áo cắt mà không viền, bỏ xủ xuống; quần xổ lai không khâu bằng phẳng.

2. Tư thôi (. . .) : Tư tức là Tề : viền lại cho bằng. Tư thôi là gấu áo tang có lên lai, khâu lại cho bằng phẳng; quần cũng lên lai bằng phẳng.

3. Đại công (. . .) : Tang phục đại công dùng loại vải bớt thô hơn Trảm thôi. Đại công có nghĩa là vải đã dệt gia công nhưng còn thô.

4. Tiểu công(. . .) : Vải dệt kỹ càng tinh vi hơn đại công.

5. Tư ma (. . .) : Tư hay Ti là vải gai sợi nhỏ dùng để may đồ tang. Ma là cây gai dùng để lấy sợi dệt vải thưa. Tư ma là loại vải sợi nhỏ như tơ, tinh vi hơn Tiểu công.

Theo cổ lễ của Nho giáo, thời gian để tang và tang phục được qui định như sau :

Tang 3 năm và 1 năm dùng Trảm thôi hay Tư thôi.
Tang 9 tháng thì dùng tang phục Đại công.
Tang 5 tháng thì dùng tang phục Tiểu công.
Tang 3 tháng thì dùng tang phục Tư ma (Ti ma).

Trong Đạo Cao Đài, theo TÂN KINH, thời hạn để tang giảm bớt, đơn giản hơn cổ lễ, chỉ có 3 hạn để tang :

* Để tang 81 ngày, tới Chung cửu thì mãn. (tương ứng với để tang 3 tháng theo cổ lễ).

* Để tang 281 ngày, tới Tiểu tường thì mãn. (tương ứng với để tang 1 năm theo cổ lễ).

* Để tang 581 ngày, tới Đại tường thì mãn. (tương ứng với để tang 2 năm hoặc 3 năm theo cổ lễ).

CÁCH THỨC ĐỂ TANG

Tang Cha Mẹ :

* Về phần con trai : Con thọ tang cha dùng Trảm thôi và gậy trúc (gậy bằng cây trúc hay cây tre cũng được), đến đại tường là mãn. Con thọ tang mẹ, dùng Trảm thôi và gậy vông (bằng cây vông đồng) đến Đại tường là mãn.

* Về phần con gái : - Con gái xuất giá thọ tang cha mẹ dùng Tư thôi, đến Tiểu tường là mãn.

- Con gái tại gia, chưa xuất giá, dùng Trảm thôi, đến Đại tường là mãn.

Tang phục Trảm thôi bằng vải sô, cổ trịt như áo lễ, không lên trôn, đường sống lưng may lộn ra ngoài, ở phía sau lưng, trên vai may kèm một miếng vải nhỏ (ngang 10 phân, dài 20 phân) gọi là phụ bản, tỏ dấu mang sự đau xót, (tang cha thì phụ bản đặt bên vai trái, tang mẹ thì phụ bản đặt bên vai mặt), quần thì sổ lai, không khâu bằng phẳng, ngang lưng quấn một sợi dây bằng rơm hay bằng bẹ chuối đánh 3 tao.

Tang cha thì con trai chống gậy trúc, tang mẹ thì chống gậy vông. Cây gậy có bề dài bằng khoảng cách từ gót chân lên tới quả tim, gốc chống xuống đất. Tục lệ giải thích việc chống gậy là để tỏ rằng, con vì quá bi ai nên yếu sức phải chống gậy mà đi. Gậy trúc tròn tượng trưng cha, người quân tử; gậy vông có một miếng vải nhỏ hình vuông chụp xuống đầu gậy và buộc lại, tượng trưng mẹ hiền.

Con trai thì đội bức cân bao trùm đầu tóc, làm bằng tấm vải vuông 8 tấc (hay 7 tấc), cổ lễ thì có đội mũ rơm (hay dùng dây chuối thay rơm) bện thành hình tròn bọc vải thô. Con gái thì dùng vải trắng xé đôi khổ vải theo chiều dài, xếp làm 4 lớp, quấn trên đầu.