2. Xây Bàn tại Nam Vang.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Xây Bàn tại nhà ông Cao Đức Trọng ở Kim Biên (Nam Vang):

Đức Hộ Pháp đắc lịnh Đức Chí Tôn đi Kim Biên (Phnom Pênh) để mở Đạo Cao Đài tại đây vào cuối tháng sáu năm Đinh Mão (1927). Đức Hộ Pháp tạm ngụ tại nhà ông Cao Đức Trọng (anh ruột của Ngài Cao Hoài Sang), trong dãy phố 8 căn gọi là phố Lang Cô trong ngỏ hẽm của đường Ohier. Nhà ông Cao Đức Trọng ở căn bìa phía đường cái đi vào, nhà của ông Trần Quang Vinh ở cách đó hai căn, căn thứ năm là nhà của ông Đặng Trung Chữ làm kế toán hãng buôn.

Ông Trần Quang Vinh thuật lại giai đoạn Đức Hộ Pháp Xây Bàn tại đây trong quyển Bổ Túc Hồi Ký như sau:

“Trong lúc anh em thân thuộc ở gần toàn là công tư chức, hằng đêm tụ họp trước sân nhà ông Cao Đức Trọng chuyện trò và nhơn dịp ấy tiếp xúc với Đức Hộ Pháp là người bạn mới ở Sài Gòn đổi lên. Trong những câu chuyện thường, Đức Hộ Pháp hằng đàm luận về thi phú văn chương, nhứt là nhắc nhở các bài thi học hỏi nơi Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng, tường thuật bao nhiêu huyền diệu trong việc Xây Bàn và cầu cơ lúc ở Sài Gòn, lập đi lập lại những thi văn hướng dẫn về con đường đạo đức, những bài tiên tri nói về Đạo Cao Đài và tương lai nước Việt.

Câu chuyện rất hấp dẫn, thâu phục được các bạn trí thức, kéo tới việc Xây Bàn thử để xem các Đấng dạy thế nào.

* Huyền diệu Cơ Bút: Xây Bàn và Cầu Cơ tại nhà ông Cao Đức Trọng:

Lúc mới khởi việc Xây Bàn thì chỉ có Đức Hộ Pháp và ông Cao Đức Trọng để tay lên bàn tròn, ba chơn (cái bàn nầy giống hệt cái bàn tại nhà Ngài Cao Hoài Sang ở Sài Gòn dùng để Xây Bàn trước đây). Cơ lên nhưng bàn nhịp hơi yếu, thêm một người nữa để tay vào thì bàn nhịp mạnh hơn. Cách đếm và ráp chữ cũng giống y như lúc Đức Hộ Pháp hiệp với các bạn ở Sài Gòn xây bàn vậy.

Trong những bạn bè đến chơi, có người xin hỏi về gia đạo, về tương lai, về việc nước, v.v... thì tức khắc được thưởng một bài thi hoặc 4 câu hoặc 8 câu để thỏa mãn lòng hiếu kỳ.

Những vị được bài thi, đọc đi đọc lại tự biết việc mình, khen cơ nói trúng phốc nên khen lấy khen để, gọi là linh thiêng, tỏ vẻ kính trọng hơn trước, rồi tiếng đồn lan rộng, nhiều người khác đến mỗi đêm.

Càng ngày khách càng đông. Xây Bàn thì chậm chạp, chỉ mỗi đêm được năm ba bài thi, nên Đức Hộ Pháp nảy ra hai ý kiến tuyệt diệu:

Một là: Tạo ra một Tiểu Ngọc Cơ, hình thức như Ngọc Cơ tại Tòa Thánh, cũng có cần cơ, mỏ cơ và một cái giỏ đương bằng mây phất giấy vàng, ngang miệng giỏ có một cây ngang dẹp, giữa cây có soi một cái lỗ cho vừa đút xuống cái cốt bàn cơ. Bàn cơ thì hình vuông như bàn cờ tướng, trên mặt có vẽ chữ A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, . . . tới chữ Z theo hình rẽ quạt. Khi đút Ngọc Cơ vào cốt, hai vị phò loan hai tay nắm miệng giỏ, mỗi người một bên. Khi điển quang vào tay thì Ngọc Cơ chuyển động, quay qua quay lại trên trụ cốt, xây vòng theo chữ vẽ hình rẽ quạt, khi đến chữ nào mỏ cơ ngừng thì có người hầu kế bên đọc, một người khác viết lại từ chữ.

Cách thức nầy tuy chậm hơn Ngọc Cơ ở Tòa Thánh nhưng mau hơn Xây Bàn gấp 10 lần.

Hai là: Buộc ai muốn cầu cạnh điều chi thì phải dâng sớ, phải viết một tờ sớ kể lể việc mình cầu khẩn, đội lên đầu khi hầu đàn, cơ giáng thì tuần tự kêu tên từ người.

Huyền diệu thay! Mỗi khi có một hai chục người dâng sớ, hai vị phò loan là Đức Hộ Pháp và ông Cao Đức Trọng làm sao biết tên họ, mà trong mỗi bài thi tặng cho mỗi người đều có mang tên người ấy ở đầu bài thi. Trong lá sớ của mỗi người dâng lên là họ hỏi việc riêng của họ, mà trong bài cơ tiếp được thì trả lời trúng theo sở cầu của họ, họ hết sức bái phục.

* Một vụ tráo lá sớ để thử cơ:

Một đêm nọ, có bà góa phụ tên Trần Kim Phụng, là một người đàn bà sang trọng có tên tuổi, lại là bậc thi sĩ ở Nam Vang mà ai ai cũng đều kính nể, đến hầu đàn mà có tư ý là muốn thử cho biết thiệt hư. Bà cũng vào trước đàn cơ quì lạy như mọi người, dâng sớ xin thi.

Trong đàn thì đông đảo, mỗi người đội một lá sớ, lòng thành cầu khẩn. Lúc mới vào đàn, còn đương lộn xộn, kẻ đứng người quì, bỗng nhiên có ông bạn quen, tên Huỳnh Đình Thới, kế toán viên hãng buôn, cố ý đến thử sự linh thiêng của đàn cơ, ông lỏn ra phía sau chỗ bà Trần Kim Phụng đã quì và đội lá sớ lên đầu, ông lén tráo lá sớ của ông thế vào lá sớ của bà mà bà không hay, cũng không ai để ý, rồi ông quì xuống có đội lá sớ của bà Trần Kim Phụng.

Khi cơ giáng ban một bài thi bát cú cho bà Trần Kim Phụng mà lá sớ do ông Huỳnh Đình Thới đội dâng, chữ đầu của bài thi là PHỤNG: Phụng đến bờ dương trổi tiếng kêu. (Tác giả chỉ nhớ câu đầu của bài thi) mà trọn ý tứ của bài thi thì toàn là việc của bà Trần Kim Phụng.

Rồi đến lượt ông Huỳnh Đình Thới, mà lá sớ lại do bà Trần Kim Phụng đội dâng, cớ giáng cho một bài thi bát cú có chữ THỚI đứng đầu, mà ý tứ và sự việc đều đúng theo sở cầu của ông Thới đã viết trong lá sớ.

Khi bãi đàn, đem thi ra đọc lại, ông Thới mới thú thật là ông tráo lá sớ của ông cho bà Trần Kim Phụng đặng thử xem cơ thiệt hay giả, chừng ấy ông mới bái phục sự linh hiển thiêng liêng.”