2. Thất Nương hướng dẫn cầu bằng Ngọc Cơ - Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên.
ID026768 - Chương : 2. Thất Nương hướng dẫn cầu bằng Ngọc Cơ - Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên. 🖶 Print this Chương
Phần : II. Cơ Bút
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

2. Thất Nương hướng dẫn cầu bằng Ngọc Cơ - Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên.

Theo lịch sử của Đạo Cao Đài:

Đêm 5-8-Ất Sửu (dl 22-9-1925), Thất Nương tiết lộ về Diêu Trì Cung và hướng dẫn quí Ngài Cư, Tắc, Sang cách cầu các Đấng bằng Ngọc Cơ.

Thất Nương cho biết về Diêu Trì Cung:

“Trên có Cửu Thiên Nương Nương cai quản, dưới có chín Tiên Nương mà Cô là Thất Nương, Hớn Liên Bạch là Bát Nương.”

Ba ông (Cư, Tắc, Sang) nhờ Thất Nương dạy cho cách cầu Đức Bà Cửu Thiên Nương Nương. Thất Nương nói:

- Ba anh muốn cầu thì phải ăn chay trước ba ngày và cầu vào đêm Trung Thu, phải có Ngọc Cơ cầu mới đặng.

Quí ông không hiểu Ngọc Cơ là chi, nhờ Cô chỉ dạy.

Thất Nương tả hình dáng Ngọc Cơ, dẫn giải rõ căn cội, lấy hình chùm sao Bắc Đẩu tạo thành, dạy cách phò Ngọc Cơ, rồi biểu 3 ông mỗi người làm sẵn một bài thi mừng Đấng Cửu Thiên Nương Nương, sẽ cầu Nương Nương vào đêm Trung Thu.

Dịp may lúc bấy giờ có ông Phán Phan Văn Tý, làm việc ở sở Trường Tiền, vốn là bạn cũ của ông Cư và ở gần nhà ông Cư tại đường Bourdais Sài Gòn. Ông Phán Tý qua lại chơi nhà ông Cư, thấy quí ông Cư, Tắc, Sang xây bàn cầu Tiên, được một bài văn thì lâu quá, nhưng ông chưa dám nói, mãi đến khi ông Cư qua nhà nói muốn cầu bằng Ngọc Cơ nhưng chưa có, ông Phán Tý liền cho biết ông đang có một cây Ngọc Cơ, để ông lấy cho mượn.

Ông Phán Tý liền đi đến ông Âu Kích (tức là Âu Kiệt Lâm pháp danh Âu Minh Chánh) ở chùa Minh Lý đường Douamont đòi lại Ngọc Cơ mà ông đã cho ông Âu Kích mượn từ lâu để thỉnh kinh.

Ông Âu Kích nói: - Hiện giờ tôi chấp bút được rồi, ít khi dùng đến Ngọc Cơ, xin gởi trả lại ông.

Ông Phán Tý liền lấy Ngọc Cơ về cho ông Cư mượn.

Nguồn gốc cây Ngọc Cơ của ông Phan Văn Tý:

Nguyên cây Ngọc Cơ nầy, ông Phán Tý thỉnh nơi chùa Hội Khánh ở Thủ Dầu Một. Ông Trần Hiển Vinh tu ở chùa Hội Khánh thuộc Chi Minh Thiện trong Ngũ Chi Minh Đạo, có tạo ra 12 cây Ngọc Cơ. Ông thân sinh của Trần Hiển Vinh là một pháp sư rất sành việc cầu cơ thỉnh Tiên.

Ông Phán Tý vốn tánh hiếu kỳ, xin thỉnh một cây Ngọc Cơ về nhà, để ngày nay có cho ông Cư mượn dùng.

Cây Ngọc Cơ nầy gồm có một cái giỏ, đan bằng trúc, xuyên qua miệng giỏ là một cái cán dài, ở đầu cán có gắn một cọng mây xuyên qua cán, làm như cái trục đờn gáo, dùng để cơ viết ra chữ bóng trên mặt bàn. Cái giỏ cơ được bọc vải vàng bên ngoài phủ kín các nang trúc. Ngọc Cơ phải được đặt nơi tinh khiết khô ráo, trước khi cầu cơ phải xông hương khử trược.

Khi có Ngọc Cơ rồi, ông Phán Tý tập cho hai ông Cư và Tắc làm đồng tử phò Ngọc Cơ đặng viết ra chữ bóng. Phải tập hai ngày, hai ông Cư và Tắc mới phò Ngọc Cơ thuần thục.

(Ông Phan Văn Tý quê quán ở Thủ Dầu Một, làm công chức sở Trường Tiền, là người theo đàn Minh Thiện Thủ Dầu Một, có nhà ở gần nhà ông Cư. Ông Phán Tý là sui gia của ông Trần Hiển Vinh, chủ đàn Minh Thiện).

Đêm 15-8-Ất Sửu (dl 2-10-1925), khởi đầu phò Ngọc Cơ để cầu các Đấng thiêng liêng.

Từ khi khởi sự Xây Bàn vào ngày 5-6-Ất Sửu cho đến ngày 15-8-Ất Sửu phò Ngọc Cơ cầu Đức Phật Mẫu, tính ra thời gian Xây Bàn kéo dài ngót 2 tháng 10 ngày.

HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG

Đúng vào đêm Trung Thu, 15-8-Ất Sửu, tại nhà ông Cư (134 Bourdais, nay là đường Calmette Sài Gòn), cả thảy đều đủ mặt.

Ông Cư sắp đặt một cái bàn dài, rải bông xung quanh, phía trong bàn, ngay chính giữa, để một cái ghế mây lớn, nối theo là 9 cái ghế mây nhỏ hơn đặt quanh bàn dài, trên bàn chưng dọn những bình bông và trái cây tươi tốt. Đặt trước mỗi cái ghế là một tách trà, một ly rượu, một bộ chén muỗng, đũa.

Vào chập tối, ông Cư đốt hương xông trầm, trang hoàng rất tinh khiết và yêu cầu không tiếp khách tối nay.

Ông Cư lên nhang đèn, cả thảy đều quì lạy, khấn vái. Xong, hai ông Cư và Tắc đem Ngọc Cơ ra cầu. Đây là lần đầu tiên hai ông sử dụng Ngọc Cơ để cầu các Đấng.

Đức Bà Cửu Thiên Nương Nương giáng trước và tiếp theo là Cửu vị Tiên Nương, để lời chào mừng quí ông.

Thất Nương yêu cầu ba ông (Cư, Tắc, Sang) đờn, rồi mỗi người ngâm bài thi của mình (đã làm sẵn do Thất Nương dặn trước) để hiến lễ Đức Phật Mẫu.

Chừng nhập tiệc, Thất Nương mời ba ông ngồi vào bàn cho vui. Ba ông không thể chối từ, nên đem thêm ba cái ghế, sắp sau lưng chín cái ghế nọ, ba ông xá rồi ngồi xuống.

Bà Hiếu (bạn đời của ông Cư) sắp đặt đồ ăn chay sẵn, đi vòng quanh bàn dài, gắp thức ăn đặt vào chén của Mười Đấng, rồi rót rượu và rót nước trà đãi Mười Đấng vô hình, giống như đãi người hữu hình vậy.

Cách chừng nửa giờ sau, như là mãn tiệc, hai ông Cư và Tắc đem Ngọc Cơ tái cầu.

Lịnh Nương Nương và Chín vị Nữ Tiên giáng cơ để lời cảm tạ và nói: - Từ đây có Ngọc Cơ thì tiện cho Diêu Trì Cung đến dạy việc.

Xong, mỗi vị cho một bài thi 4 câu làm kỷ niệm:

CỬU THIÊN NƯƠNG NƯƠNG
Cửu kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,
Thiên Thiên cửu phẩm đắc cao huyền.
Huyền hư tác thế Thần Tiên Nữ,
Nữ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.

Nhứt Nương:
Hoa thu ủ như màu thẹn nguyệt,
Giữa thu ba e tuyết đông về.
Non sông trải cánh Tiên lòe,
Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.

Nhị Nương:
Cẩm tú văn chương hà khách đạo?
Thi Thần tửu Thánh vấn thùy nhân?
Tuy mang lấy tiếng hồng quần,
Cảnh Tiên còn mến, cõi trần anh thư.

Tam Nương:
Tuyến đức năng thành đạo,
Quảng trí đắc cao huyền.
Biển mê lắc lẻo con thuyền,
Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.

Tứ Nương:
Gấm lót ngõ chưa vừa gót ngọc,
Vàng treo nhà ít học không ưa.
Đợi trông nho sĩ tài vừa,
Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.

Ngũ Nương:
Liễu yểu điệu còn ghen nét đẹp,
Tuyết trong ngần khó phép so thân.
Hiu hiu nhẹ gót phong trần,
Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương.

Lục Nương:
Huệ ngào ngạt đưa hơi vò dịu,
Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong.
Nương mây như thả cánh hồng,
Tiêu diêu phất phướn, cõi tòng đưa Tiên.

Thất Nương:
Lễ bái thường hành tâm đạo khởi,
Nhân từ tái thế tử vô ưu.
Ngày xuân gọi thế hảo cừu,
Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên.

Bát Nương:
Hồ HỚN HOA SEN TRẮNG nở ngày,
Càng gần hơi đẹp lại càng say.
Trêu trăng hằng thói dấu mày,
Cợt mây tranh chức Phật đài thêm hoa.

Cửu Nương:
Khiết sạch duyên trần vẹn giữ,
Bạc Liêu ngôi cũ còn lời.
Chính chuyên buồn chẳng trọn đời,
Thương người noi đạo, Phật Trời cũng thương.

Sau khi các Đấng ở Diêu Trì Cung thăng hết rồi thì kế Đấng A Ă Â đến nhập cơ.

Ông Cư và ông Tắc tọc mạch hỏi: - Khi nãy, Diêu Trì Cung đến, có Ngài ở đó không?

Ông A Ă Â đáp: - Có chớ, Ta ở đây từ khi ban sơ đến giờ.

- Ngài có thấy Diêu Trì Cung đến không?

- Có chớ, chính mình Ta tiếp đãi.

Ông Cư hỏi: - Diêu Trì Cung ngó thấy Ngài không?

- Không ngó thấy.

- Sao vậy?

- Ta dùng phép ẩn thân.

Ông Tắc tọc mạch hỏi tiếp: - Như đứa em của tôi là Thất Nương Diêu Trì Cung có thể đạt đạo đặng chăng?

- Đạt đặng chớ.

Ông Cư hỏi: - Phải làm sao?

- Phải tu, bằng không tu thì chẳng đạt đặng.

Ông Tắc hỏi: - Tu chừng bao lâu mới đạt đặng?

Ngài làm thinh không đáp.

Ông Tắc hỏi: - 1 năm, 5 năm, 10 năm, 100 năm, . . .

Ngài cũng làm thinh, rồi thôi không hơi sức nào hỏi nữa, không biết chừng nào mới đạt đặng.

Đêm ấy, quí ông thức tới 3 giờ sáng.

* * *

Kể từ khi hai Ngài Cư và Tắc cầu được các Đấng bằng Ngọc Cơ rồi thì hai Ngài thường dùng Ngọc Cơ hơn là Xây Bàn, bởi vì phò Ngọc Cơ tiếp nhận Thánh giáo rất mau, mau hơn nhiều lần so với Xây Bàn. Đó là tại nhà Ngài Cư.

Còn bên nhà Ngài Cao Hoài Sang thì hai Ngài: Diêu và Sang vẫn cầu các Đấng bằng lối Xây Bàn như lúc trước.

Trước đây, quí ông Xây Bàn là làm theo cách của Thần Linh Học Tây phương thông công với các chơn linh trong cõi vô hình.

Nay nhờ Thất Nương chỉ vẽ cách dùng Ngọc Cơ, các ông dùng Ngọc Cơ để thông công với các Đấng vô hình là theo lối Phò Cơ thỉnh Tiên của Tiên giáo từ bên Tàu truyền sang Việt Nam.

Các vị trong Ngũ Chi Minh Đạo như: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân đều rất rành về cách Phò cơ thỉnh Tiên nầy.

Cách Phò cơ nầy nhanh hơn và tiến bộ hơn rất nhiều so với cách Xây Bàn trước đây.