5. Nguồn gốc của Cơ Bút.
ID026771 - Chương : 5. Nguồn gốc của Cơ Bút. 🖶 Print this Chương
Phần : II. Cơ Bút
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

5. Nguồn gốc của Cơ Bút.

Trong khi quí Ngài: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu xây bàn để thông công với các Đấng thiêng liêng theo cách Xây Bàn của Thần Linh Học Tây phương, thì các vị Chức sắc trong Ngũ Chi Minh Đạo (Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân) đã biết Phò Cơ và Chấp Bút theo cách thức của Đạo Minh Sư từ bên Tàu truyền qua Việt Nam.

Trong lúc đó thì có nhiều đàn cơ thỉnh Tiên cho toa thuốc trị bịnh, được nhiều người cho là linh hiển, tổ chức ở các nơi như: Đàn Chợ Gạo tại Phú Lâm Chợ Lớn (Ngài Lê Văn Trung thường hầu đàn cơ nầy, tại đây Đức Lý Thái Bạch giáng cơ dạy Ngài Lê Văn Trung làm cho Ngài giác ngộ), Đàn tại Chùa Ngọc Hoàng ở Dakao, Đàn Miếu Nổi, Đàn Minh Thiện tại Chùa Quan Thánh ở Thị Xã Thủ Dầu Một rất nổi tiếng (đồng tử là ông Nguyễn Văn Trượng sử dụng Đại Ngọc Cơ, ông không biết chữ Nho, nhưng khi lên cơ thì viết ra toàn là chữ Nho, ý tứ rất cao siêu), ở Cần Thơ có Đàn Cái Khế rất linh hiển....

Các đàn cơ thỉnh Tiên trong thời gian nầy chủ yếu là ban cho phương thuốc trị bịnh nhơn sanh, khuyên nhủ những gia đình có người bịnh nên lo làm phước, giúp người giúp đời, thì mới được tai qua nạn khỏi.

Cây Ngọc Cơ của ông Phán Phan Văn Tý đưa cho Ngài Cao Quỳnh Cư mượn là cây cơ mà ông Tý đã cho ông Âu Minh Chánh mượn một thời gian để cầu cơ thỉnh kinh, sau đó ông Âu Minh Chánh chấp bút được để thỉnh kinh nên giao trả cây Ngọc Cơ nầy lại, và ông Tý đem cho Ngài Cao Quỳnh Cư mượn để cầu Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương trong cuộc lễ Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên tổ chức tại tư gia của Ngài Cao Quỳnh Cư ở đường Bourdais Sài Gòn.

Tất cả những diễn tiến vừa kể trên, ăn khớp nhau một cách có hệ thống, dường như có một sự sắp đặt trước, được điều khiển bởi các Đấng vô hình.

Tuy là nhờ Thất Nương chỉ vẽ để 4 Ngài Cư, Tắc, Sang, Diêu cầu các Đấng trong Diêu Trì Cung lần đầu tiên bằng Cơ Bút trong ngày Rằm tháng 8 năm Ất Sửu, nhưng việc Cơ Bút đã có tại Việt Nam từ lâu do các Đạo sĩ của Đạo Minh Sư từ bên Tàu truyền qua VN, và lúc đó rất thạnh hành.

Cách cầu cơ do Thất Nương chỉ vẽ, cơ viết ra chữ bóng trên bàn cơ, là cách cầu cơ tiến bộ nhứt, viết ra chữ nhanh nhứt (nhanh hơn việc Xây Bàn gấp 50 lần), mà Đồng tử phò cơ (thường gọi là Phò loan) ít mệt nhứt, nên có thể ngồi cầu sơ suốt đêm, liên tiếp từ đêm nầy tới đêm khác, cả mấy năm trường như vậy mà vẫn chịu nổi.

Về sau, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư chỉ phò Đại Ngọc Cơ khi cầu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Đức Lý Thái Bạch, và các Đấng Giáo Chủ, bởi vì cầu bằng Đại Ngọc Cơ phải có một đọc giả được khai khiếu thì mới đọc trúng chữ bóng.

Cho nên khi cầu các Đấng thiêng liêng khác thì quí Ngài thường cầu bằng Tiểu Ngọc Cơ, chỉ vần mẫu tự để ráp lại thì đọc dễ dàng hơn, tuy không mau bằng cầu Đại Ngọc Cơ nhưng cũng mau hơn Xây Bàn gấp 10 lần.

Khi cầu bằng Tiểu Ngọc Cơ, Đồng tử bên Dương kiêm nhiệm đọc giả, nên rất thuận tiện.

Khi xưa, thời vua Quang Tự (1875-1908) nhà Thanh là thời kỳ Cơ Bút được phát minh và rất thạnh hành bên Tàu.

Trong thời kỳ nầy, các quyển Kinh sau đây được các Đấng thiêng liêng giáng cơ ban cho:

Kinh Địa Mẫu, do Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho vào năm Quang Tự thứ 9 (1883).

Kinh Ngọc Hoàng Thiên Tôn Bửu Cáo, do Đức Lữ Tổ giáng cơ ban cho vào năm Quang Tự thứ 17 (1891).

Kinh Quan Thánh Đế Quân Cửu Kiếp Vĩnh Mạng, được giáng cơ ban cho vào năm Quang Tự 20 (1894).

Cuốn Vạn Pháp Qui Tông được Pháp Sư Bùi Văn Nhân, tự là Trần Phúc Thanh, hiệu là Huyền Bách làm ra vào mùa Thu, ngày 9 tháng 8 năm Nhâm Dần (1902), nhằm năm thứ 28 đời vua Quang Tự... ... ...

Tất cả các Kinh sách trên đều được những Đạo sĩ của Đạo Minh Sư từ bên Tàu truyền qua Việt Nam.

Trong cuốn Vạn Pháp Qui Tông, có chỉ rõ cách lập đàn cầu cơ thỉnh Tiên, rất phức tạp: cách sắp đặt lễ nghi, cách vẽ bùa bắt ấn, đọc chú, mỗi Đấng thiêng liêng có bài chú riêng... ... ...

Ban đầu cầu các Đấng theo lối Huyền Cơ, viết chữ Nho trên mâm cát, mỗi lần cầu, cơ viết được vài chữ.

Sau đó mới dùng đồng tử tiếp điển viết ra chữ Nho trên mâm cát: đồng tử cầm một cành đào mà đầu cành đào chấm vào mâm cát. Khi Đấng thiêng liêng giáng điển, đồng tử cầm cành đào rung động, đầu cành đào viết ra chữ trên mặt cát, đọc giả đọc xong rồi thì khỏa cát cho bằng trở lại đặng cơ viết tiếp chữ khác. Cứ như thế mà tiếp được bài văn hay bài Kinh.

Cách dùng đồng tử tiếp điển, mau hơn cách cầu theo lối Huyền Cơ rất nhiều, nhưng lại bị lệ thuộc vào đồng tử. Nếu đồng tử hạp điển thiêng liêng, thì tiếp trọn tư tưởng của Đấng thiêng liêng và bài văn viết ra rất hay, đầy tính cách cao thượng; còn đồng tử không hạp điển, thì tiếp điển không trọn, bài văn viết ra có nhiều chỗ khiếm khuyết.

Cách Phò cơ do Thất Nương chỉ dẫn cho Đức Hộ Pháp, Đức Cao Thượng Phẩm, viết ra chữ bóng trên mặt bàn cơ, là lối phò cơ tiến bộ nhứt, ưu điểm nhứt, viết ra chữ mau nhứt, hơn tất cả các cách phò cơ khác, nhưng đòi hỏi “đọc giả” phải được khai khiếu mới đọc trúng chữ bóng do hai đồng tử tiếp điển viết ra.

Theo lời thuật của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, khi Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho Pháp Chánh Truyền đêm 15 rạng 16-10-Bính Dần, cơ viết rất mau, Điển ký chép không kịp, Ngài Bảo Pháp phải chép tiếp, hai người phân ra chép mới kịp theo đọc giả.

Tóm lại, Cơ Bút trong Đạo Cao Đài, tuy có nguồn gốc từ Cơ Bút của Đạo Minh Sư bên Tàu truyền qua Việt Nam, nhưng do Thất Nương Diêu Trì Cung giáng bàn hướng dẫn cách thức rất đầy đủ và rất tiến bộ, lại viết chữ quốc ngữ, nên càng thêm dễ dàng hơn thời xưa viết chữ Nho rất nhiều.