6. Chấp Bút.

Chấp bút là trường hợp một đồng tử cầm cây viết chì đặt trên mảnh giấy trắng, được một Đấng thiêng liêng giáng điển vào tay cầm bút, viết ra chữ.

Dùng viết chì cầm chấp bút thì dễ tiếp điển hơn các cây viết khác.

Đồng tử chấp bút phải là người được thiêng liêng khai khiếu, thì mới có thể nhận được linh điển của các Đấng thiêng liêng mà viết ra. Đồng tử chấp bút phải giữ tư tưởng thanh cao, không không, để tiếp trọn vẹn linh điển của các Đấng thiêng liêng.

Nếu đồng tử có những tư tưởng riêng, thì nó choán hết tâm trí của đồng tử, nên linh điển mang tư tưởng của các Đấng không thể chen vào được, thành ra việc chấp bút do tư tưởng của đồng tử viết ra, chớ không phải của Đấng thiêng liêng. Điều nầy rất khó tránh, nếu đồng tử chấp bút không phải là người có căn cơ lành, có phận sự lớn trong việc hướng đạo cho nhơn sanh.

Nơi đồng tử ngồi chấp bút phải kín đáo, tinh khiết, thanh tịnh, tay chấp bút và cây bút phải được xông hương khử trược, nên dùng nhiều cây bút chì chuốc sẵn và nhiều tờ giấy trắng đặt kế bên. Quần áo và thân thể của đồng tử phải sạch sẽ trang nghiêm.

Những trường hợp đồng tử chấp bút còn tánh tự đắc, tham vọng danh quyền, hay có mưu đồ chánh trị thì các Đấng thiêng liêng không thể giáng vào được, và bài văn viết ra hoàn toàn do phàm ý của đồng tử, các Đấng thiêng liêng không thể xen vào được, chưa nói việc Tà Thần Tinh Quái có thể nương theo dục vọng của đồng tử mà xúi vào, bày điều tà mị nguy hiểm, xa đường đạo đức.

Trong Đạo Cao Đài, lúc ban đầu còn dùng Cơ Bút phổ độ để thâu nhận tín đồ, ngoài Đức Quyền Giáo Tông, Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, thì Đức Chí Tôn cũng cho một số vị Thời Quân: Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Khai Đạo Phạm Tấn Đãi,... và Ngài Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh chấp bút, để tạo thêm đức tin.

Nhưng sau khi Đức Chí Tôn cấm Cơ Bút phổ độ thì Đức Chí Tôn cũng thâu lại việc Chấp bút của quí Ngài, chỉ còn 3 vị là Chấp bút được: Đức Quyền Giáo Tông, Đức Hộ Pháp và Đức Thượng Phẩm để trực tiếp nhận mệnh lệnh của Đức Chí Tôn điều hành nền Đạo và cũng để học hỏi nơi Đức Chí Tôn và các Đấng về mặt Bí Pháp.

Ngày 1-12-Ất Sửu (dl 14-1-1926),

Ông Đốc Học Đoàn Văn Bản xin với Đức Chí Tôn cho ông Chấp Bút.

Đức Chí Tôn trả lời bằng bài thi:

Bút nở mùa hoa đã có chừng,
Chẳng như củi mục hốt mà bưng.
Gắng công ắt đặng công mà chớ,
Buồn bực rồi sau mới có mừng.

Thầy trả lời rất khéo, ý nói Thầy định cho ai thì nấy đặng, chớ không phải ai cũng có thể cầu cơ và chấp bút được.

Ngày 26-6-Bính Dần (dl 4-8-1926),

Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Phối Sư Thái Thơ Thanh tập Chấp Bút, trích ra như sau:

“Thơ, con rán tập Chấp bút, Thầy chỉ vẽ cho.

Thơ nghe: Khi con ngồi tập thì Thần con cho tịnh, chẳng nhớ chi hết. Khi Thầy giáng thì làm cho con khó chịu một chút, rồi Thầy dạy con viết, mường tượng như con đặt ra vậy, mà không phải con đặt đâu. Thầy đưa Thần con theo Thầy lên không đặng Thầy dạy nó viết chữ chi thì nó cứ viết theo, chớ nó không biết gì hết. Khi ấy con có hơi khó chịu, như điển dính tay con vậy. Ấy là Thầy giáng, song con đừng có lòng sợ thì Thầy mới dễ giáng.

Đãi! Con lấy 9 cây nhang đặng Thầy làm phép Trấn Thần cho nó”. THĂNG.