7. Sự huyền diệu của Cơ Bút.
ID026773 - Chương : 7. Sự huyền diệu của Cơ Bút. 🖶 Print this Chương
Phần : II. Cơ Bút
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

7. Sự huyền diệu của Cơ Bút.

1. Ông Le Fol, Thống Đốc Nam Kỳ phò cơ.

Ngày 7-10-1926, Thống Đốc Nam Kỳ là ông Le Fol tiếp nhận Tờ Khai Đạo do Ngài Lê Văn Trung mang tới.

Trong thời gian ấy, ông Le Fol cũng nhận nhiều báo cáo bất lợi cho Đạo từ các cấp dưới trình lên. Ông Le Fol phân vân, cân nhắc.

Được biết Ngài Ngô Văn Chiêu làm việc tại dinh Thống Đốc, thờ Đức Cao Đài, lại không có tên trong Tờ Khai Đạo. Một hôm, ông bà Le Fol tự ý đến tư gia của Ngài Chiêu tìm hiểu. Khi nghe Ngài Chiêu cho biết về huyền diệu cơ bút, do hiếu kỳ cũng như muốn tự thử nghiệm, ông bà Le Fol đề nghị được chính mình phò loan. Ngài Chiêu chấp nhận và làm pháp đàn trợ điển.

Lúc cơ lên, ông bà Le Fol mê man, đến khi tỉnh lại, tiếp được một bản văn bằng Pháp ngữ, ý cho biết trong vòng mấy ngày tới, ông bà sẽ nhận được tin buồn.

Quả thật, sau đó ít ngày, có tin từ Pháp qua, cho biết cha của ông Le Fol đã mất.

2. Toàn quyền Pasquier hại đạo, bị chết cháy.

Ông Pierre Pasquier làm Toàn Quyền Đông Dương từ năm 1928 đến năm 1934. Ông quyết tâm tiêu diệt Đạo Cao Đài, nên làm giả tạo nhiều hồ sơ để đem về Pháp, chứng minh với Chánh phủ Pháp là Đạo Cao Đài là một tổ chức chánh trị dưới lớp tôn giáo chống lại nước Pháp.

Pasquier đi máy bay về Paris, còn đang bay trên bầu trời của thành phố Marseille, bỗng nhiên phi cơ phát cháy nổ tung. Pasquier cùng với gia đình và toàn bộ hồ sơ ngụy tạo đều bị đốt cháy ra tro.

Đó là vì Pasquier phạm Thiên điều, nên bị chư Thần diệt thác, linh hồn bị đày vào Phong đô.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ngày 28-6-Giáp Tuất (dl 8-8-1934) nói rằng:

“Những kẻ nào dám vi phạm vào Thiêng liêng, dù xa dù gần, đều phải bị trừng phạt.

Hãy xem tên Toàn Quyền Pasquier và nhiều kẻ khác bị giết chết bởi phán quyết thiêng liêng. Không một ai có thể tránh thoát những cơn thịnh nộ của Trời, nếu chống lại Đấng Thượng Đế. Hãy nghe theo và tin tưởng sự công bằng của Thượng Đế”.

Hai năm sau, Pasquier được phép giáng cơ để xưng tội cùng Hội Thánh. Bài giáng cơ chép ra như sau:

Tòa Thánh, ngày 18-81936 (âl 2-7-Bính Tý).

PIERRE PASQUIER

Tôi nói tiếng An Nam.

Tôi đã cầm đặng một cuốn sách Nho, học thông Đạo lý.

Cái tư tưởng của tôi buổi nọ, nó thiên về bên Khổng giáo chớ không phải hướng qua bên Phật đạo. Tôi càng suy xét thì lại lấy làm lạ vì cớ nào tôi lại dùng Nhà Thiền toan phá Đạo Cao Đài buổi nọ. Quái dị thay!

Tôi đã đám xưng mình là văn sĩ Nho phong, kinh truyện, văn chương trước mắt mà lại chịu thiệt thòi sai sót, chẳng hiểu đặng rằng Nho giáo chuyển luân tạo dựng toàn cầu Tân thế.

Sự lạc lầm ấy do đâu mà có?

Ôi! Quan trường! Ôi nha lại! Vì mi mà làm cho ta phải đui mắt, linh hồn phạm tội nghịch ý Chí Tôn, Thiên điều tàn sát. Hận thay ngôi vị đế vương là đao kiếm trừ mạng linh hồn mà chớ. Gớm thay! Ghê thay!

THI:
Vương bá bửu ngôi thị ngục hình,
Thiên lao như thử tấc công khanh.
Đồ thân phát phối cầm dân mạng,
Y phục đai cân thị tử thành.
THĂNG.

Việc Toàn Quyền Pasquier chết cháy trên không ứng với câu sấm tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Giữa năm hai bảy mười ba,
Bỗng đâu lửa cháy tám gà trên mây.

Tám gà: Hán văn gọi là Bát Kê, đồng âm với tiếng Pháp là Pasquier, tên của viên Toàn Quyền Đông Dương.

3. Paul Doumer bị giảm tuổi thọ 12 năm.

Ông Paul Doumer làm Toàn Quyền Đông Dương từ năm 1897 đến 1902, làm Chủ tịch Thượng Nghị Viện năm 1927 và Tổng Thống Cộng Hòa Pháp năm 1931, bị ám sát chết tại Paris năm 1932.

Ngày 3-8-Giáp Tuất (dl 11-9-1934), Paul Doumer được phép giáng cơ, nói với Đức Quyền Giáo Tông:

“ – Phải, nhưng tôi đã thiếu sót một bổn phận mật thiết trước khi chết, đó là không chấp thuận đúng lúc sự tự do tín ngưỡng của quí Ngài.

- Phải, nhưng quí vị có biết chăng, thật là khó khăn cho việc thay đổi lòng dạ con người. Họ có chịu nghe tôi nói không? Sự thiếu sót bổn phận thiêng liêng ấy đối với Đấng Thượng Đế làm tôi trả giá 12 năm của đời sống tôi. (Tuổi thọ giảm 12 năm).

Tôi đến để chỉ nói với quí Ngài như thế. Xin cáo biệt.”

4. Chuyện ông De Lagarde theo Đạo Cao Đài.

Ông De Lagarde, trước kia không theo đạo nào hết, ông là người tín ngưỡng tự do (libre penseur), làm Chủ sự Sở Bưu Điện ở thủ đô nước Lào đã mấy năm, ông có người vợ người Nam ở Cần Thơ tên là Nguyễn Thị Trụ, nên ông nói tiếng Việt khá.

Một hôm, nhằm ngày chủ nhựt, ông đi săn bắn trong rừng, bị một bầy voi đuổi, ông liệu bề không bắn được và không dám chống cự, bèn ù té chạy. Vì kinh hoảng nên ông bị vấp ngã té vào một bụi gai, cào chảy máu cả mặt mày.

Do tai nạn nầy, ông De Lagarde bị thương nặng nơi hai con mắt. Mấy bác sĩ ở Vạn Tượng (Vientiane) chữa không khỏi, ông bị mù luôn. Người vợ đưa ông đi đến các bác sĩ danh tiếng ở Hà Nội và Sài Gòn để chữa trị, nhưng đôi mắt ông vẫn không lành, tốn không biết bao nhiêu tiền bạc nhưng đành phải chịu mù lòa, ông phải nghỉ việc và chức vụ của ông bị một người khác thay thế. Đó là khoảng năm 1935.

Bỗng dưng một hôm, mấy bà bạn của vợ ông khuyên nên đưa ông đi lên Tòa Thánh Tây Ninh, vì người ta đồn rằng nơi đó, nếu bệnh nhân thành tâm thì có Tiên giáng bút cho thuốc trị, bình gì cũng lành.

Trong lúc tuyệt vọng về y khoa Tây phương, ông De Lagarde nghe lời người vợ VN, thành tâm cầu nguyện, nếu có vị Tiên nào giáng bút chữa lành bịnh mắt của ông, thì ông xin theo Đạo Cao Đài và sẽ hy sinh suốt đời ông cho Đạo.

Buổi cầu cơ được tổ chức tại Tòa Thánh Tây Ninh vào đêm Rằm, vợ chồng ông De Lagarde đều thành tâm cầu nguyện, và chính ông cũng theo đúng các nghi lễ của Đạo Cao Đài, ông ăn chay, giữ gìn thân thể và tâm hồn trong sạch suốt 3 ngày đêm trước buổi cầu cơ.

Thế rồi trong không khí trang nghiêm tịch mịch của đêm khuya, trước bửu điện huyền linh, ông De Lagarde vào hầu đàn cơ, quả nhiên có một vị Tiên giáng cơ kêu ông De Lagarde cho bài thi bằng tiếng Việt, trong đó bảo ông lấy một ít tro nhang hòa vào ly nước lạnh dâng cúng trên bàn thờ mà xoa vào đôi mắt mù lòa, xoa như thế thường xuyên 3 ngày đêm thì sẽ thấy lại ánh sáng.

Ông De Lagarde làm đúng như lời Tiên dặn, ngày thứ nhứt, ngày thứ nhì, ngày thứ ba, sáng ngày thứ tư, bà vợ xoa cho ông giọt nước mầu nhiệm cuối cùng còn ở đáy ly, bỗng nhiên cặp mắt của ông lần lần hé mở, lim dim như người mới ngủ dậy, rồi mở hẳn, ông De Lagarde mừng quýnh, đang nằm trên giường liền ngồi dậy la lớn lên:

- Tôi đã thấy lại được rồi! Tôi đã thấy lại được rồi!

Và thật thế, ông De Lagarde đã hết mù lòa nhờ huyền diệu thiêng liêng, cặp mắt ông sáng lại như trước.

Ông được trở lại làm công chức Sở Bưu Điện Hà Nội.

Sau đó, hai ông bà De Lagarde đều nhập môn theo Đạo Cao Đài, và đó là 2 tín đồ nam nữ rất nhiệt thành, hăng hái tham gia việc lập công quả phổ độ nhơn sanh. Ông De Lagarde được phong Lễ Sanh phái Thượng và bà vợ của ông là Nguyễn Thị Trụ được phong Nữ Lễ Sanh Hương Trụ.

(Kể theo Lễ Sanh Ngọc Đoan Thanh)

5. Thần Thổ Địa bảo vệ Thánh Thất Cầu Kho.

Năm 1926, một buổi nọ, bổn đạo Thánh Thất Cầu Kho chuẩn bị lập đàn cầu cơ, trong số đó có các vị: Đoàn Văn Bản, Vương Quan Kỳ, Huỳnh Trung Tuất,... Mọi người đã vào nhập đàn thì người cháu của ông Đốc Bản là điềm chỉ viên của Tây (Pháp) báo cho mật thám Pháp đến bắt.

Ngay lúc đó, Thần Thổ Địa giáng cơ báo rằng: “Chư nhu khá bình tâm nghe Địa báo đàn, khoảng 5 phút nữa, mã tà Tây sẽ đến vây bắt chư nhu. Chư nhu bình tĩnh, yên lặng, việc ấy đã có thiêng liêng lo rồi.”

Khi Thần Thổ Địa thăng thì lính Tây (Pháp) cũng vừa đến bố ráp Thánh Thất Cầu Kho.

Người cháu của ông Đốc Bản vừa chỉ điểm thì thiêng liêng bắt y mê man đứng trân tại chỗ, ngay lúc đó, nhà đèn cũng vừa cúp điện. Thời cơ đã đến, các vị lập đàn và hầu đàn liền thoát ra ngoài, giải tán, mạnh ai nấy lặng lẽ về nhà.

Khoảng 15 phút sau, nhà đèn có điện trở lại, người cháu của ông Đốc Bản cũng tỉnh lại, lính Tây vào Thánh Thất quan sát không có chi khác lạ, rầy la kẻ chỉ điểm, rồi cũng rút êm. Người cháu bị ông Đốc Bản đuổi đi, không cho ở đó nữa. Tuy nhiên, sau đó y ăn năn hối cải, xin nhập môn vào Đạo.

6. Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức giúp Đạo.

Ngài Hiến Pháp tự thuật lại như sau:

“Khi thọ phong chánh thức vào hàng Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài với chức Hiến Pháp Chơn Quân, Đức thường lên xuống Tòa Thánh Tây Ninh để hành đạo trong lúc rảnh rang, vì Đức vẫn còn giúp việc cho Chánh phủ Pháp, tùng sự tại Sở Hỏa Xa Sài Gòn.

Sau, Đức được ông Chánh Sở Mật Thám Nam Kỳ là ông Nadau mời đến để giao chức vụ Thông dịch viên Sở ấy.

Trước khi nhận lời, Đức có cầu cơ thỉnh giáo Đức Chí Tôn, vì lúc bình thường, Đức không thích giúp việc cho Sở ấy, là Sở không có cảm tình đối với dân chúng. Đức Chí Tôn dạy Đức nên qua giúp việc cho Sở ấy, vì sẽ có cơ hội giúp Đạo.

Quả thật như lời Đức Chí Tôn nói, chẳng bao lâu sau ông Cao Quỳnh Cư (tức Đức Cao Thượng Phẩm) có ra bản “PHỔ CÁO CHÚNG SANH” để truyền bá Đạo Cao Đài, trên bìa bản Phổ Cáo ấy có tựa đề “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Lần đầu tiên bản Phổ Cáo ấy không có in kèm thêm chữ Hán, nhưng lần in sau, ông Cư có thêm 6 chữ Hán (大 道 三 期 普 度). Để tượng trưng Tam giáo qui nguyên, ngoài bìa Phổ Cáo Chúng Sanh có vẽ hình ba vị Giáo chủ là: Đức Thích Ca, Đức Lão Tử và Đức Khổng Tử.

Bản Phổ Cáo Chúng Sanh in lần đầu được gởi ra Nha Tổng Giám Đốc Mật Thám Hà Nội để dịch ra Pháp văn. Nhưng người thông dịch viên ngoài ấy lại dịch câu tựa: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Đạo lớn cứu vớt ba Kỳ.

Lúc đó là lúc nhà cầm quyền Pháp để ý theo dõi hành vi Đạo Cao Đài rất gắt, nên Hà Nội gởi bài dịch văn ấy vào Nam hỏi ông Chánh Sở Mật Thám Nadau, có phải Đạo Cao Đài làm chánh trị không, để họ giải tán.

Nhằm lúc ấy, ông Nadau tin dùng Đức, nên ông mới đến hỏi bài dịch văn ấy có đúng nghĩa không?

Đức trả lời rằng: Không đúng, vì nguyên văn câu ấy có nghĩa là Đại Đạo mở lần thứ ba để độ rỗi, chớ không phải cứu vớt ba Kỳ (trong Liên bang Pháp là Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ). Để trưng bằng cớ cụ thể, Đức đem trao cho ông Nadau bản Phổ Cáo Chúng Sanh có in kèm chữ Hán.

Ông liền phúc trình ra Hà Nội giải thích rõ việc ấy. Nhờ đó mà Đạo khỏi bị giải tán và người Đạo cũng đỡ khổ. Đó là bằng chứng Đức cứu Đạo”.

7. Đức Chí Tôn độ ông bà Nguyễn Ngọc Thơ – Lâm Ngọc Thanh theo Đạo, ngày 6-6-Bính Dần (dl 15-7-1926).

Một ngày nọ vào đầu năm Bính Dần, ông Phạm Tấn Đãi chấp bút để học Đạo, thì được lịnh Chí Tôn dạy: “Con hiệp cùng Trung để đi độ Thơ”.

Ông Đãi vâng lịnh Đức Chí Tôn, từ Cần Giuộc đi lên Sài Gòn, tìm đến nhà ông Cao Quỳnh Cư để hỏi thăm ông Lê Văn Trung thì Bà Cư đáp: “Ông Trung có ra đây, vừa mới đi lên nhà ông Nguyễn Ngọc Thơ”.

Ông Đãi hỏi thăm địa chỉ của ông Thơ, liền đi lên Tân Định tìm được nhà ông Thơ thì gặp ông Trung tại đó.

Ông Đãi trình bày về Thánh giáo của Đức Chí Tôn, thì ông Thơ nói: “Tôi muốn làm sao hai ông cầu nguyện thế nào cho tôi chấp bút được thì tôi mới tin”.

Ông Trung nhận lời vào bảo ông Thơ phải ăn chay 3 ngày, đồng thời hai ông Trung và Đãi cũng ở đó hiệp nhau cầu nguyện.

Ông Thơ chấp bút thông công được với Đức Chí Tôn, nên ông bằng lòng theo Đạo. Ông Thơ nói: Xin làm thế nào để độ luôn vợ của ông là Bà Lâm Ngọc Thanh đang ở Vũng Liêm theo Đạo luôn cho thuận một đường.

Ông Trung cầu nguyện, Ơn Trên cho biết hiện giờ Bà Thanh đang làm việc gì ở Vũng Liêm, từng chi tiết, ông Thơ ghi chép rồi đánh điện kêu Bà lên Sài Gòn.

Khi Bà lên tới thì ông Thơ hỏi Bà các việc Bà đã làm trong ngày hôm qua, thì Bà nói đúng như Ơn Trên đã cho biết. Thế là hai ông bà Thơ và Thanh đều tin và theo Đạo.

Ngày ông Nguyễn Ngọc Thơ và bà Lâm Ngọc Thanh nhập môn theo Đạo Cao Đài là ngày Thứ năm, 6-6-Bính Dần (dl 15-7-1926).

8. Đêm 24-9-Ất Sửu (dl 10-11-1925)

Ngài Lê Văn Duyệt giáng đàn cho thi thời cuộc VN.

Có mấy chí sĩ đến hầu đàn nhờ ba ông xây bàn hỏi về thời cuộc. Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt giáng bàn trả lời rất chính xác làm cho quí ông thỏa mãn ước vọng.

Đây là đêm mà ba ông: Cư, Tắc, Sang ngậm ngùi và xúc động hơn hết khi Ngài Tả Quân nhập bàn cho bài thi:

Đã ghe phen phấn khởi can qua,
Thuộc địa trách ai nhượng nghiệp nhà.
Trăm họ than van nòi bộc lại,
Ba kỳ uất ức phép Tây tà.
Xa thơ biến gãy rời vương thất,
Nam đảnh hầu thay sáng quốc gia.
Ách nước nạn dân gần muốn mãn,
Hết hồi áp chế tới khi hòa.

Cách mấy hôm sau, Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt nhập bàn cho tiếp bài thi thứ nhì:

Khi hòa tuy có chí đồng thinh,
Vận nước nên hư cũng bởi mình.
Tôi giặc lắm người xô vũ trụ,
Lòng trung mấy kẻ xót sanh linh.
Đường dài chớ nệ ngàn công gắng,
Bước nhọc đừng nao một dạ thìn.
Đồ sộ giang sơn xưa phủi sạch,
Trông vào tua vẹn nỗi đinh ninh.

Ngài Cao Hoài Sang bạch với Đức Ngài:

- Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần Vương có nên họp nhau đứng dậy làm cách mạng để thoát ách nô lệ chăng?

Ngài Tả Quân trả lời bằng bài thi 4 câu:

Mạnh yếu hai đàng đã hiển nhiên,
Đôi mươi năm nữa nước nhà yên.
Dằn lòng ẩn nhẫn xem thời thế,
Đừng vội gây nên cuộc đảo huyền.

9. Nhờ Cơ Bút báo trước nên Ngài Giáo Sư Thượng Vinh Thanh và các Chức sắc tại Văn phòng Long Xuyên thoát nạn ngày 11-10-Nhâm Ngọ (dl 18-11-1942).

Trong thời kỳ đầu, Ngài Giáo Sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) được lịnh Đức Lý Giáo Tông và Đức Quyền Giáo Tông dạy hợp tác với quân đội Nhựt để cứu Đạo, Ngài Giáo Sư Vinh sắp đặt công việc Đạo nơi Kim Biên xong thì liền trở về Long Xuyên đặng triệu tập nhơn tài và thảo chương trình làm việc.

Lúc bấy giờ, tại Văn phòng Long Xuyên, Chức sắc và Đạo hữu vô ra tấp nập, bàn bàn luận luận hình như sắp gặp con đường để giải thoát cho Đạo khỏi bị đàn áp của Chánh phủ Pháp, ai cũng đầy vẻ hân hoan tràn trề hy vọng.

Tối lại cầu Đức Lý Đại Tiên và Đức Quyền Giáo Tông giáng dạy những hành trình và cho hay nhiều tin rất lạc quan. Đức Lý căn dặn: Ngày 11-10-Nhâm Ngọ (dl 18-11-1942) phải khởi hành lên Sài Gòn.

Nên rạng ngày 11 thì Văn phòng Đạo tại Long Xuyên đóng cửa giải tán, kẻ lên Sài Gòn, người đi Lục tỉnh, thì đến chiều, có Mật thám Pháp đến khám xét, nhưng chỉ còn một mình ông Lễ Sanh Thượng Tý Thanh ở đó để trả lời, nên không xảy ra việc chi phiền phức nguy hiểm.

Nếu Đức Lý Giáo Tông không căn dặn khởi hành vào sáng ngày 11 thì tất cả những người trong Văn phòng Đạo tại Long Xuyên đều bị Pháp bắt vào chiều hôm đó.

(Theo Lịch Sử QĐCĐ của Nguyễn Thành Danh)

10. Đức Hộ Pháp thuyết đạo Huyền Diệu Cơ Bút:

Đêm 30-4-Tân Mão (dl 4-6-1951): Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Giảng Đài Tòa Thánh về Huyền diệu Cơ Bút.

HUYỀN DIỆU CƠ BÚT

“Đêm nay Bần đạo thuyết về Huyền diệu Cơ Bút. Cả Thánh Thể Đức Chí Tôn, cả con cái Nam Nữ của Người cũng vậy, đã biết về Huyền diệu Cơ Bút. Nó là vấn đề mà chúng ta không thế gì lấy trí khôn tưởng tượng của chúng ta định cái chơn giả của nó đặng.

Tại sao? Trong cái huyền diệu thiêng liêng ấy nó gồm cả bí mật huyển vi của cơ thể tạo đoan hữu hình và vô vi của Càn Khôn Vũ Trụ. Chúng ta thử nghĩ, các bậc chơn tu đắc pháp, họ chỉ tìm đặng hiểu Vô Vi Cảnh đặng lập giáo là khó khăn thể nào, từ thử đến giờ, biết bao nhiêu kẻ tu mà tính lại coi được bao nhiêu người đắc Pháp đắc Đạo?

Tìm thấu đáo cho đặng cái bí mật huyền vi vô định của Càn Khôn Vũ Trụ, nó lại khó khăn quá lẽ, chẳng hề khi nào chúng ta lấy trí khôn định quyết đặng, định nó chỉ có chúng ta tìm hiểu lấy trí thức mình đặng định cái chơn tướng của vạn vật hữu hình, tức nhiên chúng ta chỉ học phương pháp cách vật trí tri. Chúng ta đã thấy cái trở lực biết bao nhiêu khó khăn, huống chi các việc trong Cơ Bút thống hiệp cả sự khó khăn của Huyền Vi Cảnh với Hữu Hình Cảnh nữa.

Nó khó lắm, nếu luận điều ấy, Bần đạo phải ngồi viết không biết bao nhiêu sách mới có thể tả ra mảy may được. Lên tại Giảng đài nầy 15 phút hay nửa giờ, thuyết về Cơ Bút chẳng khác nào chúng ta cầm ly nước đổ xuống biển.

Ấy vậy, Bần đạo chỉ lấy cái đại cương của nó, nói cho Thánh Thể Đức Chí Tôn và toàn cả con cái nam nữ của Ngài thấu đáo mảy may chút ít, đặng khỏi bị Cơ Bút làm cho đức tin tàn phá tiêu diệt mà chớ.

Bần đạo buộc mới đây lập Thánh Lịnh định khuôn luật của Cơ Bút, vì có nhiều lẽ, trước đây Bần đạo khoan dung để cho Cơ Bút tự do. Khoan dung ấy làm cho phiền lòng Đức Lý, cho nên Đức Lý trách Bần đạo cầm quyền Hộ Pháp trong tay điều trị mà không định luật để cho rối loạn Cơ Bút. Nên Bần đạo lập Thánh Lịnh đó, cùng chẳng đã mới lập Thánh Lịnh, vì từ trước đến giờ, Bần đạo để cho Cơ Bút tự do.

Bần đạo nói thật tại Giảng đài nầy, Bần đạo thấu đáo được Thánh ý của Đức Chí Tôn. Ổng lấy cái giả đặng lập cái thiệt, chỉ có tay Ông Trời làm được mà thôi, không ai làm đặng hết, chớ hành tàng của cơ Đời họ đều lấy cái giả.

Chính mình Đại Từ Phụ hồi mới ban sơ đến đề 4 câu thi như vầy:

Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô.
Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như nương viết của chàng Hồ.

Lấy cái giả của Đời, Ngài tạo cái thiệt của Ngài, duy chỉ có Ông Trời làm được mà thôi.

Chính Bần đạo có thí nghiệm, Bần đạo có người bạn thiết ở ngoài đời, thi giỏi văn hay, bạn đồng chí với nhau, biết tài lực nhau, người ấy nghĩ rằng cả Cơ Bút trong cửa Đạo xuất hiện ra do đầu óc của Cao Thượng Phẩm và Bần đạo. Người ấy cho rằng, văn Cao Thượng Phẩm cũng hay, chính mình Bần đạo thì cũng giỏi, người ấy cho rằng cả Thánh giáo ấy do Cao Thượng Phẩm và Bần đạo mà xuất hiện.

Bần đạo thấy cái nghi ấy của bạn, bây giờ muốn độ bạn thì Bần đạo phải làm thế nào?

Muốn thử giả thiệt đặng biết Ông Trời là ai, bạn làm ơn cầm cây viết đây, bạn là nhà văn, bạn muốn viết chi thì viết, còn Bần đạo sẽ dâng sớ cho Đức Chí Tôn. Bần đạo làm một bài thi tứ tuyệt cầu xin Đức Chí Tôn cho biết sự chơn giả các quyền năng của Ngài đặng độ bạn.

Người bạn ấy cầm cây viết, viết ra 4 câu thi tứ tuyệt, chừng viết rồi, Bần đạo đưa 4 câu thi Bần đạo đã làm để trong bao thơ, chừng xé ra coi, họa đúng với 4 câu thi của bạn.

Bần đạo hỏi, Bần đạo chỉ cái đầu óc phàm và trí khôn của ta là khí cụ của Đấng Chí Linh kia cho bạn ngó thấy.

Đấng Chí Linh đã lấy cái giả của bạn làm cái thiệt đó vậy. Người bạn ấy tỉnh giấc lại, tự mình theo đạo, sự thật vậy.

Ôi! Huyền diệu cơ bút! Chúng ta không thể gì tả cho được!

Trong Càn Khôn Vũ Trụ có hai ông chủ:

- Ông chủ vô hình của Càn Khôn Vũ Trụ, ông chủ vô hình trên cõi Thiêng liêng hằng sống, ấy là Đấng Tạo đoan, là Đấng Chí Linh, là Đấng Đại Từ Phụ.

- Ông chủ thứ nhì là NGƯỜI, tối linh trong vạn vật, cốt yếu của Đức Chí Tôn sanh ra loài người đặng lấy quyền của Ngài cầm quyền vạn linh hữu hình, tức là cầm quyền vạn linh vô hình của Ngài đó vậy.

Bởi vậy, Tiên Nho chúng ta nhìn nhận Thiên thượng Thiên hạ. Thiên thượng là Đức Chí Tôn, Thiên hạ là loài người.

Muốn đặng thấu đáo Càn Khôn Vũ Trụ, tinh thông vạn vật, Đức Chí Tôn dùng Cơ Bút.

Ngài nói rằng: Một phần của con, và một phần của Thầy hiệp nhứt mới thấu đáo Càn Khôn Vũ Trụ, tinh thông vạn vật. Hai người chủ quyền ấy, một người về hữu hình, một người về vô hình, hiệp lại với nhau mới làm chủ cơ thể Càn Khôn Vũ Trụ, có lạ chi?

Lạ chăng là cây cơ của chúng ta đưa lên hợp lực hai quyền năng ấy, trong đó cây cơ đưa lên là lấy hai cái sống của hai Ông Chủ làm cái sống duy nhứt, đặng phục lịnh quyền hành thiêng liêng của Đức Chí Tôn sử dụng mà thôi, thì nó là cây viết thiêng liêng của Đức Chí Tôn đó vậy.

Khéo, chúng ta phải khéo. Cảnh Vô vi Vô Tử Thiên, lại cũng có cảnh Hữu Tử Thiên. Chừng nào vô hàng phẩm đứng địa vị Vô Tử Thiên, tánh chất của họ cao siêu, không còn phàm chất.

Các Đấng thiêng liêng còn ở trong Hữu Tử Thiên thì họ cũng như ta vậy, cũng có quân tử, tiểu nhân, cũng cá nhân cá tánh như ta vậy. Các Đấng ấy thế nào thì ta thế đó, có nhiều hàng phẩm mà ta không luận cho cùng, cũng có kẻ thân với ta, mà cũng có kẻ thù nghịch đáo để với chúng ta, không thế gì chúng ta hòa giải với họ đặng. Chúng ta đã ngó thấy trong Đạo pháp, nếu có Phật thì có Ma, có Trời thì có Quỉ; chúng ta chịu hai cửa, một là cửa thua, hai là cửa ăn.

Các chơn linh từ bậc Hữu Tử Thiên trở xuống biết bao nhiêu mà nói, họ không đáng gì là thầy ta mà họ mơ vọng dạy ta, biểu ta làm học trò họ. Đám chơn linh đó, nhứt là ở trong Đại Hải Chúng, đệ nhứt nguy hiểm hơn hết là Kim Quang Sứ tự là Quỉ Vương. Nếu chúng ta đã tu, rủi như lầm nghe nó thì làm đầy tớ cho nó, làm môn sanh của nó.

Có một điều Bần đạo thấy hiển nhiên trước mắt, khi mới mở Đạo, Thánh Thể Đức Chí Tôn còn thương yêu hòa ái với nhau, chưa đến nỗi chia rẽ, chưa đến nỗi thù địch, kế Kim Quang Sứ đến.

Kim Quang Sứ đến cầm cơ viết câu nầy:

Chín phẩm Thần Tiên nể mặt ta,

Ông Giáo Sư Bảy (Lê Văn Bảy) ở Kim Biên nói: - Ông nào đây chắc lớn lắm, bước ra quì xuống lạy. Cơ viết luôn:

Thích Ca dầu trọng khó giao hòa.

Kế Ông Chữ (Đặng Trung Chữ) bước ra, quì xuống lạy nữa. Cơ viết tiếp:

Lấy chơn đem giả tô Thiên vị,
Thắng bại phàm tâm liệu thế à?

Tới chừng ký tên Kim Quang Sứ mới biết là Quỉ Vương, là Tà giáo.

Hai người đã theo nó, bằng cớ hiển nhiên, các bạn ngó thấy. Các bạn của ta đã lầm cái thiệt ra cái giả.

Nếu không giải quyết được cái hư thiệt, chúng ta phải theo Tà giáo mà chớ! Duy có Đức Chí Tôn lấy cái giả làm cái chơn được.

(Xin xem thêm lại Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Q.4 bài thứ 07. Ban Đạo Sử ấn hành lần thứ nhứt năm Đinh Mão - 1975)