8. Những trường hợp thử Cơ Bút.
ID026774 - Chương : 8. Những trường hợp thử Cơ Bút. 🖶 Print this Chương
Phần : II. Cơ Bút
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

8. Những trường hợp thử Cơ Bút.

1. Đêm 4-7-Ất Sửu (dl 22-8-1925)

Cô Hớn Liên Bạch nhập bàn làm thi.

Khi quí ông ngồi vào xây bàn, vừa đặt tay lên bàn thì Cô Vương Thị Lễ giáng. Ông Cao Hoài Sang nói:

- Tứ muội, còn chị em nào biết làm thi, xin mời giùm về để họa thi cho vui.

Cô Lễ gõ bàn trả lời:

- Có chị Hớn Liên Bạch làm thi hay lắm, vậy xin chờ em một chút.

Giây phút, bàn chuyển động, Cô Lễ giới thiệu Cô Hớn Liên Bạch. Ông Sang có ý hồ nghi Cô Lễ nói gạt mình, nên nói nửa đùa nửa thật, xin để tôi ra đề cho cô bạn mới làm thơ. Ông Sang liền ra đề: “Tiễn biệt tình lang”.

Bàn liền uyển chuyển gõ lia lịa không ngừng, khi ráp lại thành chữ được một bài thi tuyệt diệu sau đây:

TIỄN BIỆT TÌNH LANG
Chia gương căn dặn buổi trường đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất,
Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.
Mờ mệt non Vu ngơ ngẩn luống,
Dặm đâu cách bức nghĩa đâu khinh.

Sau Cô Hớn Liên Bạch xin đổi 2 câu chót lại là:

Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,
Xa xôi ai thấu nỗi đinh ninh.

Ông Sang xin Cô làm tiếp một bài thi nữa lấy nhan đề là: “Hoài lang”. Bàn liền chuyển động gõ ra một bài thi:

HOÀI LANG
Động Đình nhớ buổi tạm chia đường,
Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương.
Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ,
Biển sầu nước nhuộm một màu thương.
Cờ thần chạnh lúc vầy đôi bạn,
Tiệc ngọc nào khi hội nhứt trường.
Mượn vận, lương nhân xin nhắn nhủ,
Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.
HỚN LIÊN BẠCH

2. Đêm 8-7-Ất Sửu (dl 26-8-1925).

Ông Cao Quỳnh Cư nhớ đến ông Huỳnh Thiên Kiều đã mất cách đây khá lâu, mà lúc sống ông làm việc tại sở Tuần thành, bổ vào dinh Đốc lý Sài Gòn, coi về sở Patentes. Ông Kiều là một nhà thơ nổi tiếng, hiệu là Quí Cao. Ông Cư vái ông Quí Cao về xướng họa thi văn.

Lát sau, ông Quí Cao nhâp bàn, xin họa bài thi “Tiễn biệt tình lang” của Cô Hớn Liên Bạch:

Ình ình trống giục thảm trường đình,
Đau nỗi chia phôi một chữ tình.
Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,
Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.
Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,
Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.
Kẻ ở phương trời người góc biển,
Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.
QUÍ CAO
(Huỳnh Thiên Kiều)

Ông Quí Cao gõ bàn tiếp:

Nhắn nhủ mấy anh một ít lời,
Làng mây hồn trẻ đã xa chơi.
Mẹ già nỗi hiếu chưa rồi đạo,
Vợ yếu niềm duyên chẳng trọn đời.
Chạnh nhớ quê xưa lòng xót xáy,
Buồn trông cảnh cũ dạ bời bời.
Ai về gởi lạy tình sông núi,
Kiếp khác ân sinh sẽ đáp bồi.
QUÍ CAO

3. Đêm 4-8-Ất Sửu (dl 21-9-1925).

Ông Cao Hoài Sang bữa nay cảm thấy buồn nên đề bài thi “Tự thán” có ý than thân trách phận, sao lăn lóc với tình đời, tuy tuổi chưa bao nhiêu mà đà mòn mỏi. Ông Sang đưa bài thi cho ông Cao Quỳnh Cư xem và có ý mời chư vong linh họa vận. Bài của ông Cao Hoài Sang như vầy:

TỰ THÁN
Sầu dài ngày vắn có chi vui,
Toan tính thâu đêm ruột rối nùi.
Ngược gió thuyền đầy cơn sóng dập,
Xuôi dòng nước lớn vạt bèo trôi.
Buổi đường danh lợi thêm gay trở,
Ngảnh lối tang thương luống ngậm ngùi.
Lần lựa xuân hè năm tháng lụn,
Thôi thôi đến thế, thế thì thôi!
CAO HOÀI SANG

Cô Đoàn Ngọc Quế giáng bàn họa vận:

Chung tình đoạn gánh khó làm vui,
Lần gỡ chưa xong chỉ rối nùi.
Lời hẹn xưa còn vầng nguyệt chứng,
Hương thề nay thả giữa dòng trôi.
Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,
Đá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.
Một khối tuyền đài tình khó dứt,
Ráp gương kiếp khác quyết chờ thôi.
ĐOÀN NGỌC QUẾ

Trong bài thơ có 2 chữ “Tình” ở câu phá và thúc, thế là trùng tự. Quí ông hỏi thì bàn gõ ra chữ: Permis (cho phép).

4. Đêm 11-8-Ất Sửu (dl 28-9-1925)

Ông Nguyễn Trung Hậu, nguyên trước là thi hữu với thi sĩ Huỳnh Thiên Kiều, hiệu là Quí Cao, nghe tin ông Quí Cao giáng bàn làm thi nơi nhà Cao Quỳnh Cư, ông Hậu liền tìm đến nhờ ông Cư xây bàn thỉnh Quí Cao về làm thi.

Hai ông Cư và Tắc thỉnh bàn ra, đốt nhang vái ông Quí Cao, rồi ngồi vào đặt tay lên bàn. Tịnh thần một chốc thì bàn bắt đầu chuyển động. Ông Quí Cao nhập bàn, cho bài thi:

Âm Dương tuy cách cũng chung trời,
Sinh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng ngửa đổ,
Thương nhau nhắn nhủ một đôi lời.
QUÍ CAO

Ông Hậu cũng còn nửa tin nửa ngờ, bèn nói: - Tôi sẵn có một bài thi đem theo đây, xin đọc cho anh nghe và xin anh họa lại cho vui.

Ông Quí Cao gõ bàn 2 cái, nghĩa là ưng chịu.

Bài thi của ông Hậu như vầy:

Mấy năm vùng vẫy cũng tay không,
Nào khác chiêm bao một giấc nồng.
Cử nắng tuần mưa dày dạn mặt,
Mồi danh bả lợi ngẩn ngơ lòng.
Ngày qua thỏn mỏn xuân thu dập,
Gương rạng phui pha cát bụi lồng.
Chừ gặp cố nhân lời ướm hỏi,
Hỏi ra cho biết nẻo cùng thông.

Ông Quí Cao liền gõ bàn họa lại một mạch không ngập ngừng chút nào cả. Bài họa như vầy:

Một tiếng u minh gióng cửa không,
Phồn hoa giục tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền bát nhã qua tình biển,
Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.
Cuộc thế lạnh lùng lằn gió lọt,
Đường đời ngán ngẫm bụi trần lồng.
Kiếp tu xưa tiếc chưa nên đạo,
Oan trái phủi rồi phép Phật thông.
QUÍ CAO

5. Đêm 14-8-Ất Sửu (dl 1-10-1925)

Thân phụ của Ngài Cao Hoài Sang giáng bàn.

Cụ Cao Hoài Ân (cũng gọi là Cao Hoằng Ân) giáng bàn, ông là thân phụ của Cao Hoài Sang.

Ông Cư yêu cầu ông Cao Hoài Ân làm một bài thi theo vận Từ Thứ. Ông liền gõ bàn cho bài thi sau đây:

Thuyền khơi gió ngược khá nương voi,
Vận thới hầu nên đã thấy mòi.
Vườn cúc hôm nay muôn cụm rỡ,
Rừng tòng buổi trước một cây còi.
Hồng nương dặm gió chi sờn cánh.
Ngựa ruổi đường hòe há nhọc roi.
Nín nẳm chờ qua cơn bĩ cực,
Thìn lòng chừng có lượng đôi thoi.
CAO HOÀI ÂN

6. Yết Ma Luật thử cơ bút.

Ngày 2-12-Ất Sửu (dl 17-12-1925).

Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng cơ loan truyền nhanh chóng trong giới trí thức và tu sĩ, khiến dư luận xôn xao.

Cụ Yết Ma Luật chủ chùa Hội Phước Tự ở làng Phước Hậu, tổng Phước Điền, thuộc quận Cần Giuộc, là một tu sĩ được nhiều người kính trọng, nghe có cơ bút Tiên Phật giáng, nhưng cụ không tin, liền lên Sài Gòn, đến tận nơi cầu cơ nhà ông Cao Quỳnh Cư đặng thử. Cụ viết một bài thơ để trong túi áo, cụ vái: Nếu Thượng Đế giáng cơ thật linh hiển, xin họa bài thơ trong túi tôi.

Đấng Cao Đài Thượng Đế họa:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,
Đời cùn Tiên Phật giáng trần gian.
Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,
Chính thật Ta đây Đấng Ngọc Hoàng.
Cao Đài Thượng Đế

Nhận xong bài họa, cụ Yết Ma Luật đã trọn tin và cho xem bài thơ của Cụ xướng:

Ấm ức tâm tư suốt mộng tràng,
Có đâu Tiên Phật giáng trần gian?
Văn hay chữ giỏi bày thi phú,
Họa đặng thơ đây mới Ngọc Hoàng.
Yết Ma Luật

Cụ Yết Ma Luật tin tưởng Đức Chí Tôn nên nhập môn vào Đạo Cao Đài.

Ngày 22-7-Bính Dần, cụ được Đức Chí Tôn ân phong Giáo Sư phái Thái: Thái Luật Thanh.

7. Đêm 17-11-Ất Sửu (dl 1-1-1926) [Tết dương lịch]

Có ông bà Đốc Phủ Chi theo Đạo Thiên Chúa đến nhà ông Cao Quỳnh Cư muốn xem thử cơ bút nên nói với ông:

“Xin cho tôi để thử trên bàn cầu cơ hình Đức Chúa Jésus và một cây Thánh giá. Nếu Đức Cao Đài là Thượng Đế thiệt thì mới giáng cơ được, bằng là Quỉ Vương thấy hai vật báu ấy tự nhiên phải tránh.”

Ông Cư bằng lòng cho thử, đoạn ông Cư cùng ông Tắc ngồi vào hai bên bàn để phò Ngọc cơ.

Trước hết, có Thánh Pierre giáng cho 4 câu thi:

SAINT PIERRE
Thiên đàng giữ cửa góc trời tây,
Truyền đạo cho dân biết mặt Thầy.
Cứu chuộc đã gần đôi ngàn tuổi,
Cao Đài phú thác dắt dìu bây.

Tiếp theo, Đấng Thượng Đế giáng cơ như vầy:

THẦY
Các con hiểu Jésus là ai chăng?
Trước Ta đổ máu cho loài người vì thương yêu.
Nay Ta đến cứu loài người cũng vì thương yêu.
Bây đủ thương yêu Ta dường ấy chăng?
Ta cần bây biết ăn năn hầu cứu chữa bây.

8. Ông Phan Khắc Sửu thử cơ bút.

Tuy đã có nhiều người thử thách, nhưng ông Phan Khắc Sửu vẫn không tin. Ông đến dự đàn cơ, âm thầm viết một bài thơ 5 vần mà 2 vần trên khác 3 vần dưới, không nói một lời, đến đốt trước đàn cơ, xin họa y 5 vần.

Đấng Cao Đài đang dạy Đạo cho chư môn đệ, bỗng cơ ngưng đề tài đang giảng dạy, họa lại bài thơ y theo 5 vần của ông Phan Khắc Sửu, khiến mọi người ngạc nhiên:

Cơ Trời khó tỏ hỡi con ơi!
Nghiệp quả tiền khiên của giống nòi.
Bởi luyến mồi thơm, cam cá chậu,
Vì ganh tiếng gáy, chịu chim lồng.
Trời khai Đại Đạo nên yên dạ,
Đất dậy phong ba cứ vững lòng.
Gắng trả cho rồi căn nợ ấy,
Tu mà cứu thế dễ như không.
Cao Đài Thượng Đế

Ông Phan Khắc Sửu nhận được bài họa, liền xin làm môn đệ Đấng Cao Đài Thượng Đế vì bài thơ của ông xướng có tám câu mà 2 vần trên khác 3 vần dưới, chép ra như sau:

Cao Đài Tiên Trưởng hỡi ông ơi!
Linh hiển sao không cứu giống nòi.
Trăm họ điêu linh thân cá chậu,
Muôn dân đồ thán phận chim lồng.
Coi mòi diệt chủng càng đau dạ,
Thấy cảnh vong bang bắt não lòng.
Nạn nước ách dân như thế ấy,
Ngồi mà tu niệm có yên không?

Đấng Cao Đài Thượng Đế cho ông Phan Khắc Sửu thêm bài thơ:

Đường Đạo tìm vào mới rõ cơ,
Cơ mầu giải khổ chớ chần chờ.
Chờ cho trễ bước thuyền xa bến,
Bến tục thoát vòng hết ước mơ.
Cao Đài Thượng Đế
(Trích tài liệu của Ban Đạo Sử quay ronéo, trang 88)

9. Ông TỒNG thử cơ bút.

Ông Tồng muốn thử cơ bút của Đạo Cao Đài có linh thiêng hay không, ông đặt một bài thơ tứ tuyệt, rồi ông cầu nguyện và đốt đi. Việc nầy chỉ có một mình ông biết mà thôi.

Ba tuần lễ sau, ông đến hầu đàn tại một đàn cơ phổ độ của Đạo Cao Đài. Đấng Cao Đài Tiên Ông giáng cơ gọi:

- Tồng, Thầy trả lời cho con đây:

Chúa tể Càn khôn đúng Ngọc Hoàng,
Giáng trần để cứu kẻ lầm than.
Ba nhành nay đã qui nguyên một,
Qui chánh cải tà thảy thái an.

Nguyên bài thơ tứ tuyệt của ông Tồng là:

Thượng giới nếu như có Ngọc Hoàng,
Dưới trần lắm kẻ chịu lầm than.
Bao giờ thoát khỏi vòng nô lệ,
Hưởng được hòa bình sống thái an.

Ông Tồng thấy sự hiển linh nầy của Đấng Cao Đài Tiên Ông nên ông tin tưởng và sau đó xin theo Đạo Cao Đài.

Ông Tồng sau nầy được thăng lên tới phẩm Phối Sư và thường thuật lại cho con cháu nghe sự hiển linh nầy.

(Trích trong “Bản Tin ĐĐ” trang 94 số 4/74 tháng 7 năm 1999, bài của Tiến Sĩ Trần Quang Hải).

10. Cuộc thử cơ của Chi phái Tiên Thiên.

Chi Phái Tiên Thiên do ông Nguyễn Bửu Tài cầm đầu, hướng dẫn các Chức sắc Tiên Thiên qui hiệp về Tòa Thánh Tây Ninh, được Đức Lý Giáo Tông ân phong Phối Sư Thượng Tài Thanh (Trong phái Tiên Thiên, ông Tài phẩm vị Đầu Sư).

Ngày 4-2-Tân Mão (dl 11-3-1951), tại Thanh Trước Đàn (lập nơi Tiền Phong Hội Quán ở Ngã Năm, Châu Thành Thánh Địa) tổ chức cuộc thử Cơ Bút:

- Một bên là Cơ Bút của Tòa Thánh Tây Ninh do 2 vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài phò cơ: Nhung và Hưởng.

- Một bên là Cơ Bút của Chi Phái Tiên Thiên do 2 đồng tử của phái Tiên Thiên phò cơ.

Hầu đàn gồm: Các Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Sĩ quan cao cấp của Quân đội Cao Đài, và các Chức sắc của phái Tiên Thiên.

Buổi thử cơ bắt đầu.

Đức Lý Giáo Tông giáng bên đàn cơ do hai vị Luật Sự Nhung và Hưởng phò cơ:

LÝ GIÁO TÔNG

Chào con cái Chí Tôn.

Thượng Tài Thanh, hiền hữu có biết chăng, Đạo Thầy vốn có một.

Khai Pháp hiền hữu chấp bút nhang đuổi nó ...... vì đây trước mặt Lão lại còn cho Thần Cái trụ.

Thượng Tài Thanh, hỏi một Hội Thánh có mấy Đài Hiệp Thiên và mấy Đài Cửu Trùng?

Chính tay Lão đã lập Nghị Định thứ 8, có đâu Lão lại phá luật, còn Đài Hiệp Thiên do Hộ Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước cho Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Hiền hữu vốn biết Lão đương quyền Giáo Tông đó chứ? Cơ chia phe phân phái cũng do đó có phải?

Nè, Lão cho hay rằng, Hội Nhơn Sanh sắp đến đó, thử hỏi Chức sắc và tín đồ (phái Tiên Thiên) đem về đặng bao nhiêu?

Hiền hữu khá nhớ rằng, được phẩm thì dễ chớ ngồi yên khó lắm. Sự không chịu qui thuận của các Chức sắc và tín đồ Tiên Thiên là lỗi nơi hiền hữu chớ không phải của họ.

Từ đây, hiền hữu cứ ra nghiêm lịnh coi. Nên nhớ rằng, với tình thì Lão dung thứ được, chớ về luật pháp e khó dung tha.

Cao Sĩ Tấn, Lão biết hiền hữu có ý bất mãn nhưng Lão khuyên hiền hữu khá suy nghĩ sẽ thấy rõ đường đi. Đức Chí Tôn khai Đạo chẳng bó buộc một ai hết thảy, nếu ngoan thì là con Thầy, còn dại thì mặc tình Quỉ dẫn.

Những cặp đồng tử của hiền hữu tuy vốn có xuất thần nhưng bị hồi điển do bổn thân.

Hiền hữu khá đem họ nhờ sự trau luyện của Hiệp Thiên Đài Chức sắc thì sẽ ứng dụng được ngày sau.

Hiền hữu thử hỏi chúng nó coi rằng trước đêm 24 vừa qua, nó có suy nghĩ gì chăng?

Thượng Tài Thanh, hiền hữu hiểu lời của Lão rồi chớ?

Bảo Thế, Khai Pháp và Tiếp Đạo sáng ngày mai, phải xuống Trí Huệ Cung tường thuật cặn kẽ cho Đức Hộ Pháp nghe.

Còn hai em Hưởng và Nhung, Lão khen đó, hai em đã giúp Lão chỉnh đốn Cửu Trùng Đài nhiều lắm đó. Lão mang ơn nơi cõi hư linh, còn hữu hình Lão không có quyền. THĂNG.

TÁI CẦU:

THƯỢNG TRUNG NHỰT

Chào mấy em.

Cười . . . Ông Già nộ khí dữ quá ta!

Lúc nãy đồng tử của họ có một người tà tâm nên ổng đánh nó đó.

Bạch: - . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

- Không sao, tuy vậy chớ Thượng Tài Thanh và Cao Sĩ Tấn biết suy nghĩ lắm, họ bị quá mê tín mà nên nông nỗi. Cười....

Coi chừng đồng tử bị đánh bịnh ta ơi! Tội nghiệp, không phải tự họ muốn lên giả, nhưng bị thần trược mà bị hồi điển. Những người đồng tử họ bất bình, họ nói mình xúm nhau mà làm ngưng nghề của họ, chớ không phải là Đức Lý. Cười.... Mặc tình lúc nãy, Ông Già đã nói trước rồi.

Còn KHOA thì coi hình như muốn dẹo muốn rớt.

Em Trung Dõng nên gần gũi dẫn dụ họ. Nếu họ có ức thì xin Đức Hộ Pháp phò loan tại Trí Huệ Cung một lần nữa, nhưng cấm không cho đồng tử theo, vì e có hại đến họ.

Cười . . . Cần cơ gãy . . . Cười . . .

Anh nói thiệt, nếu cơ không gãy thì e cho họ phát điên rồi mà chớ, đó cũng may cho họ vì đầu cơ không có điển, hành pháp không được.

Thôi cũng yên một phần, em Trung Dõng cười đi em! THĂNG.

Ghi chú:

Trung Dõng: hiệu của Trung Tướng Nguyễn Văn Thành.

KHOA: Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa.

Cây Cơ do 2 đồng tử phái Tiên Thiên phò bị Đức Lý Giáo Tông dùng phép huyền diệu đánh gãy đôi cần cơ.

* * *

Một cuộc thử cơ khác.

(Trích trong Nguyệt San Cao Đài Giáo Lý Xuân Mậu Tý – 1948) với nhan đề: Hai cuộc phỏng vấn lạ lùng.

Năm 1926, theo gót nhà thần thi Tản Đà, có hai văn sĩ cay chua sự thế đã cả gan phỏng vấn Đấng NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ về vận mạng nước non. Đức Chí Tôn ban cho hai bài Thánh Huấn rạng ngời trí huệ làm cho hai ông vô cùng cảm khái.

Bài của ông Lão thành:
(Sớ kín đốt trước khi hầu đàn)
Cao Đài Tiên Trưởng hỡi ông ôi!
Tôi mọi Nam bang mấy thuở rồi.
Huyết hận đống xương cao tợ núi,
Thành lòng chí sĩ lấp sông trôi.
Nước tràn đất Bắc, ông hay biết?
Tai họa nhà Nam có nữa thôi?
Con người thế giới cùng con cả,
Cao Đài Tiên Trưởng hỡi ông ôi!

Thánh Huấn của Đức Chí Tôn:

Cơ Trời khó tỏ, hỡi con ôi!
Lo lắng bao nhiêu cũng chẳng rồi.
Vay trả, trả vay, nơi số định,
Ỷ mình vượt biển tợ bèo trôi.
Oan khiên nợ trước bao giờ trả?
Gặp máy hành tàng mới chịu thôi.
Cuộc thế đổi dời, ai có biết?
Cơ Trời khó tỏ, hỡi con ôi!

Bài của ông thanh niên:

Mấy lời thành thật hỏi cùng ông,
Linh hiển sao không cứu giống dòng?
Trăm họ nát gan thân cá chậu,
Muôn dân đồ thán phận chim lồng.
Coi mòi tuyệt chủng mà đau dạ,
Thấy kẻ đồng bang luống chạnh lòng.
Cảnh nước nợ nhà ra sức ấy,
Ngồi mà đạo đức có yên không?

Thánh Huấn của Đức Chí Tôn:

Trên Thiên Cung nghe lời con hỏi,
Cho nên Thầy tìm tỏi tới con.
Cảm lòng thương nước thương non,
Hỏi Thầy, Thầy phải dạy con cho rành.
Lòng thương nước đã đành phải tiết,
Song Cơ Trời khó biết con ơi.
Đời con cũng hãy còn dài,
Tuổi con một lớn một ngày một khôn.
Nền tranh cạnh đúc khuôn từ trước,
Mấy ngàn năm dựng nước mấy phen.
Mấy phen máu đỏ xương đen,
Dựng rồi lại mất, được yên mấy hồi.
Đọc Quốc sử, khóc rồi lại nín,
Nín đi rồi, ngồi tính mà coi.
Bốn ngàn năm lẽ đã rồi,
Thử coi được mấy lúc ngồi cho yên?
Trong dân sự thất điên bát đảo,
Ngoài chiến trường đổ máu phơi sương. (xương?)
Kể ra chi xiết thảm thương,
Nay đương bình địa, mai trường chiến tranh.
Cũng vì nỗi tranh giành quyền lợi,
Hóa cho nên đồng loại giết nhau!
Than ôi! Nhơn loại còn đâu?
Gẫm trong cuộc thế lụy sầu chứa chan.
Mắt đã thấy không an được bụng,
Truyền Đạo nầy cứu chúng sanh linh.
Tam Kỳ Phổ Độ chánh minh,
Dạy cho bỏ hết dục tình mới thôi.
Dạy cho bỏ thói đời tranh cạnh,
Đừng tham giàu, tham hạnh phước chung.
Thế gian chung một tấm lòng.