5. Các cặp Phò loan truyền Đạo.
ID026785 - Chương : 5. Các cặp Phò loan truyền Đạo. 🖶 Print this Chương
Phần : IV. Đồng tử
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

 

5.1 - Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử.

Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử tại Nhà Hội Vạn Linh ngày 26-10-Mậu Thân (dl 15-12-1968), có nói về các cặp đồng tử phò loan truyền Đạo:

“Nói qua Chức sắc Hiệp Thiên Đài được thâu nhập lúc ban sơ, được sai phò cơ đi khắp các tỉnh Nam Kỳ để truyền Đạo, Đức Chí Tôn chỉ định mấy cặp đồng tử:

1. Cặp Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc.
2. Cặp Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu.
3. Cặp Trương Hữu Đức và Nguyễn Trung Hậu.
4. Cặp Trần Duy Nghĩa và Trương Văn Tràng.
5. Cặp Ca Minh Chương và Phạm Văn Tươi.
6. Cặp Phạm Tấn Đãi và Nguyễn Thiêng Kim.
7. Cặp Huỳnh Văn Mai và Võ Văn Nguyên.

Trong mấy người nầy, ông Cao Quỳnh Diêu là tư chức làm việc ở hãng buôn, ông Ca Minh Chương là giáo viên già trên 70 tuổi, ông Nguyễn Trung Hậu là giáo sư tư thục (Trường Trung học tư thục Huỳnh Khương Ninh), còn mấy ông kia đều là công chức, vừa gặp Đạo thì mấy ông liền say mê, cứ ban ngày làm việc hai buổi, chiều ra sở về nhà dùng bữa cơm vừa rồi thì xe đã chờ sẵn trước nhà, trên xe đã có vài vị Chức sắc Cửu Trùng Đài đợi, lên xe đi liền.

Mấy cặp cơ chia nhau và hẹn với mấy vị Chức sắc chứng đàn cận đâu đi đó, hoặc miền Đông, miền Trung, hoặc miền Tây.

Một đêm có thể đi phổ độ hai tỉnh gần nhau như: Tân An, Mỹ Tho hoặc Vĩnh Long, Sađéc. Mấy chỗ khác đi từ tỉnh trở về tới nhà, thường là 6 giờ sáng, nghĩa là ngồi cầm cơ từ 9 giờ tối cho tới 4 giờ sáng.

Đức Chí Tôn giáng cho thi cầu đạo mỗi người một bài, hoặc 8 câu hoặc 4 câu, có khi cho thi tới 100 hay 150 bài một đêm, còn lại người cầu đạo nhiều quá không cho thi kịp thì Đức Chí Tôn toàn thâu nhập môn hết. Thành thử sáng về tới nhà, các vị Phò loan chỉ kịp thay đồ, ghé tiệm dùng điểm tâm rồi đi vô sở làm việc luôn. Kế tối lại thì cũng đi như vậy nữa, trọn cả năm trường, không đêm nào được nghỉ, cũng có khi về nhà sớm hơn.

Lạ thay! Chịu vất vả như vậy mà mấy vị Phò loan cũng như thường, không thấy mệt mỏi hay bịnh hoạn chi hết.

Trong 4 tháng đầu, nhờ sự phò cơ truyền đạo mà số người nhập môn kể hơn một vạn.

Sau đó sự đi phổ độ giảm dần, mỗi tuần đi mấy tỉnh xa chừng vài đêm, còn mấy đêm khác thì dành cho các miền kế cận Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như: Giồng Ông Tố, Hốc Môn, Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Bình Chánh, Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Kim, Bến Lức, Lộc Giang, Hiệp Hòa.

Ngoài ra, tại Thánh Thất Cầu Kho của ông Đốc học Đoàn Văn Bản và nơi Thánh Thất tại Chợ Lớn (nhà của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt) mỗi đêm thứ bảy có lập đàn cầu cơ thâu người nhập môn.

Sau ngày Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén trong 3 tháng, mỗi đêm thứ bảy cũng có đàn cơ nơi đây để phổ độ dân chúng tỉnh Tây Ninh và Lục Tỉnh.

Đức Chí Tôn giáng cơ truyền đạo cho nhơn sanh mãi tới cuối tháng 6 năm 1927 (năm Đinh Mão), Đại Từ Phụ mới ra lịnh ngưng phổ độ bằng Cơ Bút. Về sau, người xin nhập môn cứ dâng sớ và lập Minh Thệ theo Luật đạo. . . . . . . . .

Tóm tắt là Cơ Bút có thể xây dựng nền Đạo và cũng có thể phá hoại nền Đạo, nên khuyên các Đạo hữu có thể là đồng tử, phải vì đại nghiệp chung của Đạo mà dẹp bớt dục vọng và dứt khoát sự mê hoặc lòng người bằng Cơ Bút.”

 

5.2 – Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, khi nói về Ban Đạo Sử, có nhắc đến các vị phò loan truyền Đạo là những Thời Quân Hiệp Thiên Đài:

“Trước hết, xin kể sơ lược Đạo Cao Đài do đâu mà xuất hiện.

Năm Giáp Tý (1924), nhân dịp có ông Đại Úy Pháp Paul Monet, một hội viên của Hội Thần Linh Học Pháp, là bạn của ông Cao Quỳnh Cư đến thăm.

Khi biết được Đại Úy nầy thông công được thế giới vô hình, ba ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang yêu cầu Đại Úy Monet ngồi đồng cốt để giúp ba ông trao đổi tư tưởng với cõi vô hình. Đại Úy Monet vui vẻ nhận lời giúp ba ông.

Nghi thức sắp đặt cuộc thông công được tổ chức, Đại Úy Monet ngồi đồng, một Đấng thiêng liêng giáng.

Quí ông hỏi Đấng thiêng liêng:

- Bốn tôn giáo hiện có tại Việt Nam: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và Gia Tô giáo, vì có những điểm dị đồng nên các tôn giáo thường xung khắc nhau.

Bốn tôn giáo ấy có thể hòa hợp với nhau được không? Cũng như hai nền văn minh Đông phương và Tây phương có thể hòa hợp với nhau được chăng?

Các Đấng thiêng liêng khuyên:

- Tín ngưỡng bắt nguồn từ lương tâm, lương tâm khác nhau tùy theo trạng thái tinh thần của mỗi người. Nó không có cá tính, cũng chẳng bao giờ bị tiêu diệt, bởi vì nó thoát sinh ra ở nơi Thượng Đế. Vậy tự do tín ngưỡng phải được tôn trọng cho tất cả mọi người, nhưng sự hòa hợp trong tinh thần chân thiện mỹ phải là một nhiệm vụ bắt buộc.

Đây là lần đầu tiên, 3 ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang thông công với cõi vô hình.

Thế kỷ 20, phong trào nghiên cứu Thần Linh Học ở Âu Châu tràn qua Việt Nam. Khám phá thế giới vô hình là chủ đề chính của các sách báo và tạp chí thời ấy.

Trong giới nghiên cứu Thần Linh Học ở Việt Nam có đủ các hạng người, nhưng ông Cao Quỳnh Cư đã có một lần chứng kiến cuộc thông công với các Đấng vô hình, nên ông ước vọng liên lạc với thế giới vô hình bằng mọi cách. Điều nầy luôn luôn chiếm ngự tâm trí của ông và có một số người đồng chí hướng.

Nhân Thứ bảy, đêm mùng 5-6-Ất Sửu (dl 25-7-1925), ông Cao Quỳnh Cư đến thăm ông Cao Hoài Sang, gặp ông Phạm Công Tắc cũng đến đó vì ở chung một dãy phố Hàng Dừa bên chợ Thái Bình, nay là đường Cống Quỳnh Sài Gòn.

Ba ông thường đến với nhau, mượn chung trà lời thơ, cung đàn ký gởi nỗi lòng cùng một cái đau quê hương đang quằn quại dưới gót xâm lăng, cùng một cái nhục đồng chủng đang rên siết dưới xiềng xích nô lệ, lúc nào cũng canh cánh bên lòng tình thương dân yêu nước. Nhưng than ôi! Thương yêu thì để dạ chớ biết làm sao!

Vì tình trạng lúc ấy là lúc nước nhà bị đô hộ, mấy ông bạn ấy là người vì hoàn cảnh bắt buộc phải giúp việc cho Pháp để đổi lấy đồng lương, nhưng bên trong thì bao giờ cũng luôn luôn hy vọng giải phóng dân tộc.

Nhờ vậy mà ba bạn chí sĩ nói trên mới nghĩ ra chuyện Xây Bàn để liên lạc với thế giới vô hình, cầu thỉnh các vong linh của người quá cố về làm thi họa vận và học hỏi thêm việc nước.

Trong số các vong linh thì Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt đến cho thi rất cảm khích và rung động làm cho các bạn say sưa với việc Xây Bàn.

Sau lại có các vong linh khác, trong số có Cô Vương Thị Lễ (tức Thất Nương Diêu Trì Cung) tá danh Đoàn Ngọc Quế cho thi rất hay và cảm động.

Sau hết có một chơn linh xưng danh là A Ă Â đến cho nhiều bài thi xuất sắc và xây hướng đàm luận về đạo đức, kết quả là hợp thành một nhóm đồng chí để hằng ngày tiếp xúc nhau và cầu nguyện thỉnh ý ông A Ă Â về tương lai của tổ quốc Việt Nam. Ông A Ă Â vui lòng cho biết bằng Cơ Bút mà đọc giả đã thưởng thức trong nhiều bài Thánh giáo trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Nhơn dịp Giáng sinh của Đức Chúa Jésus Christ đêm 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925, ông A Ă Â giáng cho thi nói về Lễ Giáng Sinh, Ngài cho biết Ngài là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, tá danh là: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giáo Đạo ở nước Việt Nam.

Từ đó, Đấng Cao Đài thường giáng dạy đạo lý cho nhóm quí ông nầy, xưng là THẦY và gọi các ông là môn đệ.

Khi mấy ông muốn thờ Thầy, nhờ Thầy chỉ dẫn thì Thầy bảo đến ông Phủ Ngô Văn Chiêu để ông nầy chỉ rõ.

Vấn đề Xây Bàn và chấp cơ đầu tiên năm đó là năm Ất Sửu (1925), nhằm thời kỳ quí vị chánh trị gia Việt Nam ở hải ngoại trở về nước, đứng lên cổ động giải phóng dân tộc bằng cách bạo động. Dân chúng trong nước có một phần hướng theo, nhứt là ở Sài Gòn và Chợ Lớn, sau nầy được truyền bá khắp cả Việt Nam. Kẻ theo nhóm nầy, người theo đảng khác, thường họp nhau để đi diễn thuyết cổ động.

Vì các lực lượng bạo động đó mà chánh quyền để ý dòm ngó ngăn ngừa, còn có những người khác có tính háo kỳ về tín ngưỡng, nghe đâu có lập đàn cầu Tiên thì đến xem coi cách cầu Tiên phải lập đàn thế nào đặng cầu được Tiên, Tiên xuống phàm hay là chuyện gì? Có thể hỏi Tiên về việc nước được chăng? Vì tiếng đồn với nhau nên thiên hạ đến xem cầu Tiên ngày càng đông.

Trái lại, khi đó quan Phủ Ngô Văn Chiêu lại muốn êm tịnh đặng có thì giờ tham thiền nhập định, không khứng đi phổ độ vì dân chúng ồn ào như thế. Ông thường nói: “Ngô thân bất độ hà thân độ”: Mình độ lấy mình biết trọn vẹn không, huống gì đi độ ai! Nếu ai muốn tu Tiên thì phải từ từ đến nhà tư của ông, ông sẽ chỉ cho cách thờ phượng và cách gìn tâm tu niệm. Hơn nữa, ông cho biết, nếu lập đàn cầu Tiên mà người tụ họp đông quá thì mất vẻ tôn nghiêm, tất là khiếm lễ. Nếu khiếm lễ vì đông người thì các Đấng thiêng liêng và Tiên Ông không giáng.

Chí hướng của ông Ngô Văn Chiêu thì không muốn hội họp đông người khi lập đàn, vì sợ mất sự an ninh trong Đô Thành. Quan Phủ Chiêu muốn giữ an ninh vì sợ đám chính trị gia trà trộn vào quấy phá và vì ông là một công chức của chánh phủ nên muốn như vậy là lẽ phải của ông đó, nên ông từ chối, không chịu hợp tác với quí vị Chức sắc Đại Thiên phong đầu tiên cùng nhau đi phổ độ chúng sanh theo lời Đức Chí Tôn đã dạy.

Trong số Chức sắc Đại Thiên phong có ông Thượng Nghị Viên Lê Văn Trung đứng đầu.

Lần lượt qua năm sau, Tiên Ông mới cho biết rõ danh hiệu là “Cao Đài”, tức là Ngọc Hoàng Thượng Đế viết “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” Giáo Đạo Nam Phương, lập thành Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong nước Việt Nam năm Bính Dần (1926) truyền bá khắp nơi, chẳng những toàn cõi Việt Nam mà còn rải rác nhiều nước ngoài, thâu nạp gần 3 triệu tín đồ không phân biệt màu da sắc tóc, vì Đạo Cao Đài không đối lập với tôn giáo nào cả.

Nhận xét theo kinh nghiệm từ cổ chí kim, những vật gì hay những chí hướng nào do con người tạo ra phần nhiều vì thiếu đạo đức và thiếu thành thật mà phải thất bại, cho đến đạo lý nhơn luân, nên hư cũng do bản tâm đạo đức hay tánh vô đạo của con người mà ra.

Lịch sử chứng minh, đạo đức thắng tội ác, sự thật thắng gian trá, tình thương thắng oán thù. Đạo đức chính là thứ võ khí lợi hại nhứt của chúng ta.

Vì vậy, các vị Giáo chủ giáng trần cố tìm phương pháp để thực hành đạo đức trong nhơn gian. Các Đấng ấy đưa ra mỗi người một lý thuyết khác nhau, nhưng kỳ trung cũng đều là lý thuyết cứu độ nhơn sanh bằng cách thực hành đạo đức, vì hễ đạo đức được truyền bá khắp thế gian thì những tội ác bạo ngược phải hết hoặc giảm bớt dần dần.

Bần sĩ đã vạch rõ Đạo Cao Đài phát sanh do sự Xây Bàn trước, sau mới dùng đến Cơ Bút, để lập thành mối Đạo và truyền bá cho nhơn sanh, lập Pháp Chánh Truyền, Tân Luật và Đạo Luật để làm hiến chế cho nền Đại Đạo. Chức sắc, Đạo hữu chỉ do đó mà thi hành thì khỏi sai đường lạc lối. Tôn chỉ và Giáo lý của Đạo đã do hiến chế nêu rõ.

Nói đến 3 nhà chí sĩ ở đoạn đầu là có ý để nhận xét cá tánh của mỗi người trong ba ông, vì có sự liên hệ đến Cơ Bút.

* Ông thứ nhứt là Cao Quỳnh Cư, sau đắc phong chức Thượng Phẩm. Nhờ đức tánh cao thượng và cương quyết nên khi định làm việc gì thì cố gắng làm cho kỳ được. Bởi thế nên khi nhận chân được mối Đạo thì ông nghe theo tiếng gọi thiêng liêng mà phế đời hành đạo liền, mặc dầu lúc đó ông đang là một công chức của chánh phủ Pháp. Bạn đọc sẽ thấy rõ công nghiệp của ông trong Đạo Sử.

* Ông thứ nhì là Phạm Công Tắc, sau đắc phong Hộ Pháp, cũng có tánh cao thượng và hùng khí, lại thương đời mến đạo, nên khi nhận rõ mối Đạo cũng liền phế đời hành đạo, ông cũng là một công chức lúc ấy.

* Ông thứ ba là Cao Hoài Sang, sau đắc phong Thượng Sanh, cũng có tánh cao thượng và yêu đời mến đạo như hai ông kia, nhưng vì hoàn cảnh gia đình đông con nên phải ở lại với chức vị của ông, vì ông cũng là một công chức. Tuy nhiên, ông cũng nghe theo tiếng gọi thiêng liêng mà hành đạo trong những lúc rảnh rang. Ông rất dày công phổ độ lúc ban sơ.

Ba ông đều đắc vị Thiên phong trước hết và đắc lịnh chấp cơ truyền đạo, phổ độ chúng sanh.

Hai ông Thượng Phẩm và Hộ Pháp họp thành một cặp đồng tử chấp cơ Phong Thánh, truyền giáo, lập Pháp Chánh Truyền, tức là Hiến Chương của nền Đại Đạo hiện giờ. Chúng ta phải nhìn nhận đầu công của hai ông nầy vào bực nhứt vì trước hết và trên hết.

Đức Chí Tôn mượn tay và thần lực của hai ông mà lập thành Đại Đạo cho đến ngày nay. Nếu không có bàn tay xây dựng của hai ông thì đâu có Đại Đạo, đâu có Chức sắc và đại nghiệp hiện giờ cho chúng sanh thừa hưởng.

Rủi thay, trong lúc cần người rường cột trong Đạo mà Đức Thượng Phẩm qui Thiên quá sớm, còn một mình Đức Hộ Pháp thiếu kẻ phụ cơ. Tuy nhiên, người vẫn tiếp tục việc Đạo bằng đủ cách để cho đại nghiệp Đạo được vững bền đồ sộ.

Nhờ bàn tay linh động của Người mà cuộc kiến trúc Đền Thánh, Đền Thờ Phật Mẫu cùng các tòa dinh thự khác được thực hiện rất mỹ mãn. Ngoài sự kinh doanh ấy, Người và Hội Thánh còn khai thác được mấy ngàn mẫu đất, cất Long Hoa Thị, cắt đất phân lô trong vùng ngoại ô Thánh địa cấp phát cho Đạo hữu qui về Thánh địa.

Nhận xét về Cơ Bút thì trong năm Khai Đạo, chúng ta nhận thấy nhiều cặp phò cơ đắc phong chánh thức trong hàng Thập nhị Thời Quân, dưới quyền điều khiển của Tam vị Chưởng quản ba chi Hiệp Thiên Đài: Pháp, Đạo, Thế. Mỗi chi có 4 vị: Bảo, Hiến, Khai, Tiếp.

Cặp thứ nhứt là: Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc.
Cặp thứ nhì là: Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu.

Trong Thập nhị Thời Quân:

Cặp thứ nhứt là: Trương Hữu Đức - Nguyễn Trung Hậu.
Cặp thứ nhì là: Trần Duy Nghĩa – Trương Văn Tràng.
Cặp thứ ba là: Cao Minh Chương - Phạm Văn Tươi.
(Ông Chương tuổi trên 70, yếu lắm, ngồi lâu không được, thường ông Đãi phải vào nâng cơ thay thế)
Cặp thứ tư là: Phạm Tấn Đãi - Nguyễn Thiêng Kim.

Hai cặp cơ sau nầy chỉ có một mình Đãi (tức là Phạm Tấn Đãi) sau đắc phong Khai Đạo, là đồng tử bên tích cực nên chấp bút được có huyền diệu khi Đạo mới phôi thai.

Còn ba ông: Mai, Nguyên, Kim không đến hầu đàn Phong Thánh tại Từ Lâm Tự (Gò Kén) nên có ba ông khác thế vào và đắc phong trong Thập nhị Thời Quân, ba người ấy là:

- Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh.
- Khai Thế Thái Văn Thâu.
- Tiếp Đạo Cao Đức Trọng.

Qua năm 1928, ông Bảo Đạo Ca Minh Chương qui liễu tại làng Mỹ Lộc (Cần Giuộc).

Đạo buổi phôi thai cần có đông người chấp cơ đặng đi phổ độ, nhưng 4 vị Thời Quân thuộc chi Thế thì không viết được. Mấy ông nầy rán bền chí kiên tâm tập luyện mỗi bữa đến nửa đêm, trải qua thời gian 3 tháng tập mà không viết được ra chữ, nên tạm ngưng, nghỉ tập.

Sau cầu hỏi lại các Đấng thiêng liêng, nguyên do nào mà quí vị Thời Quân Chi Thế tập chấp cơ mà viết không ra chữ? Một Đấng thiêng liêng cho biết:

Lúc Đạo mới phôi thai, ai ai cũng muốn tìm học hỏi về đạo đức hoặc bí pháp chơn truyền, mà quí vị nầy là Chi Thế, nếu ban ân cho viết được, họ tuôn ra đồ thế sự thì làm sao Đạo thi hành, hơn nữa mất uy tín, vì thế mà Chi Đạo, Chi Pháp, ai ai cũng chấp cơ viết được, còn Chi Thế chấp cơ viết không được.

Có khi một vị Chi Thế chấp cơ với một vị Chi Đạo hoặc một vị Chi Pháp thì mới viết được. Nhưng 2 vị của 2 Chi nầy phải là đồng tử tích cực (bên Dương) mới viết ra được.

Chúng ta nên nhận định và biết qua khiếu đồng tử của mỗi vị phò loan.

Khiếu của đồng tử ngồi chấp cơ hai bên cũng như đây điện, bên nóng (positif), bên nguội (négatif). Bên nóng là bên tích cực, bên nguội là bên tiêu cực. Bên tích cực mới có thể phát sanh văn tự, còn bên tiêu cực thì nâng cơ trợ điển mà thôi. Vậy làm sao phân biệt được bên nào tích cực, bên nào tiêu cực?

Đây thuộc về vấn đề tâm lý mà nhờ kinh nghiệm lâu ngày, ta có thể nhận rõ Cơ Bút viết ra hay dở, cao thấp, huyền năng đều do bên tích cực. Nếu có tự kỷ ám thị (autosuggestion) thì cũng do bên tích cực mà có.

Mấy vị đồng tử tích cực có thể chấp cơ với các vị đồng tử tích cực khác được là do biết nhường điển cho nhau thủ vai trò tiêu cực để nâng cơ trợ điển cho bên kia viết.

Còn trái lại, đồng tử tiêu cực chấp cơ với đồng tử tiêu cực thì viết không được, bất cầu là Chi nào.

Cũng do sự kinh nghiệm và sự hiểu biết rõ tâm lý mà ta có thể phân tích trong mấy cặp phò loan do Cơ Bút chỉ định trong nền Đại Đạo như trên để phân biệt ai là đồng tử bên tích cực.

Cặp thứ nhứt: Ông Cao Quỳnh Cư và ông Phạm Công Tắc, Đức Chí Tôn ban ân huệ đặc biệt đầy đủ điển lực cả hai ông đều là đồng tử tích cực, nhưng ông Phạm Công Tắc nhường điển tích cực cho ông Cao Quỳnh Cư, để thủ vai tuồng tiêu cực đặng trợ điển chấp cơ buổi ban đầu khai Đạo.

Khi Đức Cao Thượng Phẩm qui Thiên, rồi sau nầy Đức Hộ Pháp tự chấp bút học hỏi đạo lý với các Đấng thiêng liêng, còn chấp cơ thì với ai cũng được kết quả vì là đồng tử tích cực.

Cặp thứ nhì: Cao Hoài Sang – Cao Quỳnh Diêu, cũng nhận định được bên Sang là tích cực.

Cặp thứ ba: Trương Hữu Đức - Nguyễn Trung Hậu, bên Đức là tích cực.

Cặp thứ tư: Trần Duy Nghĩa – Trương Văn Tràng, bên Nghĩa là tích cực.

Cặp thứ năm: Ca Minh Chương - Phạm Văn Tươi, bên Chương là tích cực, nhưng vì ông Chương già yếu cầm cơ ngồi lâu không nổi, nên ông Đãi thường phải vào thay thế.

Cặp thứ sáu: Phạm Tấn Đãi - Nguyễn Thiêng Kim, bên Đãi là tích cực.

Nhận xét mà hiểu được khiếu đồng tử, ta thấy rõ Đức Hộ Pháp là một chơn linh siêu việt mới đủ năng lực xây dựng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tạo tác Tổ Đình đồ sộ với nhiều sự nghiệp bất hủ, không ai có thể phủ nhận được.

Về việc Cơ Bút trong Đạo, người đáng là bậc Sư Tổ.”

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

5.3 – Ngài Bảo Pháp nói về Huyền Khiếu của đồng tử.

“Người chấp cơ gọi theo danh từ thông thường là đồng tử, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi là Chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Đồng tử là người có đặc khiếu xuất Chơn thần ra khỏi Phách đến hầu Thần Tiên nghe dạy bảo bằng cách chuyển di tư tưởng, rồi nhờ linh điển Thần Tiên giáng hiệp với nhơn điển đồng tử làm cho cánh tay cử động mà diễn giải tư tưởng ra bằng văn tự.

Có 2 thứ Đồng tử: Đồng mê và Đồng tỉnh.

Chấp cơ mà mê, Chơn thần xuất trọn khỏi Phách (Chơn thần vốn còn dính với Phách bởi sợi từ khí), tiếp được rõ ràng tư tưởng của Thần Tiên nên diễn ra nhiều bài thi phú văn chương tuyệt diệu, hoặc nhiều bài đạo lý cao thâm, nhưng mãn đàn, Chơn thần đồng tử phải mệt mỏi.

Ngày xưa các nhà văn nho hay lập đàn thỉnh Tiên trên non cao thanh vắng và dùng đồng mê. Tiên thường giáng cho nhiều bài thi tuyệt bút với khí vị Thần Tiên, hoặc có tánh cách tiên tri, song ý nghĩa ẩn vi khó hiểu, đợi việc xảy ra rồi mới thấy rõ, có khi giáng cho toa thuốc chữa bịnh thiệt là linh nghiệm, nhưng cách cầu cơ ấy rất khó, đàn nội phải thanh tịnh, một tiếng gà gáy hay chó sủa, một khua động bất thường, đủ làm cho Chơn thần đồng tử hoảng hốt nhập về phách, thế là đàn cơ lỡ dở.

Chấp cơ mà tỉnh, chỉ có một phần Chơn thần xuất ra, nên tiếp tư tưởng không được rõ ràng, bài chấp cơ thường khuyết điểm, nhưng được tiện lợi là không buộc phải thiết đàn nơi chốn non cao thanh vắng, và khi mãn đàn, Chơn thần đồng tử ít mệt.

Thần Tiên lại tùy đặc khiếu của đồng tỉnh mà truyền tư tưởng bằng cách giáng tâm hay giáng thủ.

Đồng tử giáng tâm, tuy chưa viết ra mà thần trí biết trước mang máng những lời sắp viết ra, tựa hồ như tự mình đặt để vậy.

Đồng tử giáng thủ tựa như bộ máy, tay cứ chiều theo điển lực, cử động viết ra chớ không hay biết chi hết.

Lập Đạo kỳ ba nầy, Đức Thượng Đế dùng đồng tỉnh mới tiện cơ phổ độ. Nếu dùng đồng mê, người chấp cơ đâu đủ lực lượng tinh thần đặng chịu nổi đêm nầy sang đêm khác và luôn như vậy mấy năm trường.

Lại mỗi đàn cơ, Đức Chí Tôn dùng hai người Phò loan cho đủ Âm Dương hiệp nhứt là cơ sanh hóa của Đạo.

Người chấp cơ bên Hữu (bắt ngoài ngó vô) thuộc Âm tiếp tư tưởng rồi truyền qua người bên Tả thuộc Dương tiếp điển viết ra.

Còn Chấp bút thì một đồng tử, song bút pháp chỉ dùng tiếp Mật lịnh và Bí truyền, chớ không dùng về cơ phổ độ.

Thủ cơ và chấp bút là cách thông công gián tiếp với các Đấng thiêng liêng.

Lần lần người tu đến bực cao siêu, đắc Nhãn Thông và Nhĩ Thông thì sẽ trực tiếp thông công, khỏi phải nhờ trung gian là Cơ Bút nữa.

Vả chăng, Cơ Bút là việc tối quan trọng, vì lẽ Tà Chánh khó phân, nên chi Đức Chí Tôn có dạy:

“Cơ Bút là việc tối quan trọng, nếu không có chơn linh quí trọng thủ cơ thì Tà Quái xen vào khuấy rối các con làm cho phải thất nhơn tâm.

“Thầy nói cho các con biết, bực Chơn Thánh mà phải đọa trần, nếu không đủ tánh chất dìu dẫn nhơn sanh, cũng chưa đáng cầm bút cho Thầy truyền Đạo.”

Cõi Trung giới có nhiều hạng Âm Linh (Các bực Âm Linh ấy đại loại là: các vì Thánh, Chánh Thần, Tà Thần, Bát Bộ quỉ loại, vong linh của thường nhơn, nhơn phách và thú phách ly trần) mà hạng nào, thanh hay trược, thiện hay ác, cũng giáng cơ được hết. Vậy tránh sao khỏi Chánh Tà lẫn lộn.

Vẫn biết Pháp đàn (người chứng đàn) phải biết biện phân, phán đoán thiệt hư, nhưng với trí phàm hữu hạn, dễ gì tránh khỏi sai lầm. Đồng chưa minh, chỉ tiếp xúc với Âm Linh hạ đẳng mà thôi.

Một điều quan trọng nữa là người thủ cơ hay chấp bút mà không đại tịnh để dứt vọng niệm thì chỉ viết ra những tư tưởng chứa sẵn trong thần trí, kỳ thật không có Âm Linh nào giáng.

Chúng ta biết tư tưởng vốn biến thành hình và sống một thời gian lâu hay mau tùy theo sức tư tưởng mạnh hay yếu. Đồng tử cần phải diệt hết tư tưởng thấp hèn về bản ngã và cá nhơn, lúc nào cũng phải giữ cho cõi tâm an tịnh, chớ chẳng đợi khi chấp cơ.

Ví dụ đồng tử có một dục vọng gì, dục vọng ấy chưa thỏa mãn thì nó vẫn còn nuôi nấng trong Chơn thần, nó tượng nên hình như cái thai trong thai bào, càng lâu càng lớn, đợi đến ngày tháng (đến khi có dịp) là sanh ra.

Đến khi đồng tử chấp cơ, dẫu rằng lúc nầy rán giữ đại tịnh, không sanh vọng niệm mới, nhưng cái vọng niệm cũ kia đã tượng nên hình, bấy giờ có dịp sanh ra.

Vì vậy mà cũng một đồng tử chấp cơ, có bài Thánh huấn làm cho chúng ta kính phục vô cùng, mà cũng có bài làm cho chúng ta chán nãn.

Ở trường hợp nầy, đồng tử bị tư tưởng mình ám thị nên gọi là “Tự kỷ ám thị” (Autosuggestion).

Chẳng những vậy thôi, mà những người hầu đàn, nếu họ có tư tưởng mạnh, tư tưởng ấy có thể chuyển di qua Chơn thần đồng tử, nếu đồng tử có “cảm thụ tánh” (suggestivité) nghĩa là cái tánh dễ bị ám thị (suggestion).

Duy đồng tử có đạo hạnh thanh cao, trì trai thủ giới, hoặc đồng tử tiền định, mới thông công được với các Đấng Thượng đẳng thiêng liêng thì Cơ Bút mới huyền diệu. Tuy nhiên cũng không khỏi tự kỷ ám thị chẳng nhiều thì ít.

Cơ thể và huyền khiếu của đồng tử:

Cơ thể của con người cũng như cái máy vô tuyến điện. Máy nầy có 2 bộ phận: Một phần để thâu điển vào, còn một phần để phát điển ra.

Phàm hễ muốn thâu điển của một cái máy khác phát ra thì máy thâu và máy phát, cần phải có một năng lực thuần điển cùng nhau (même longueur d’ondes).

Đồng tử như cái máy để thâu điển. Nếu máy tốt thì thâu được trọn điển báu, nếu máy xấu thì khó bề thâu trọn điển báu được.

Diệu Hữu là một thứ điển quang linh động, sự rung động của nó vô cùng vô tận. Muốn thâu được Diệu Hữu của các Đấng thiêng liêng, đồng tử phải là một thứ máy tinh anh và phải đồng điển với Thần Tiên.

Vô tuyến điện thường ở xa đánh tới, phải trải qua một khoảng không gian rộng hay hẹp tùy theo đường đi. Nếu khoảng không gian ấy được bình tịnh, không bão tố thì điển ban ra không bị loạn (brouillage).

Diệu Hữu cũng vậy, Thần Tiên ban nó ra bắt từ khoảng tịch mịch không trung, nếu được thanh tịnh thì sẽ tiếp được những bài văn cao siêu lưu loát, ý nghĩa thâm trầm, ẩn vi mầu nhiệm.

Tóm lại, bổn tánh của Diệu Hữu thường là thanh tịnh, ấy là của Thần Thánh Tiên Phật. Nếu người được tinh khiết thanh tịnh thì hiệp với Trời, thông công với Thần Tiên được. Trái lại, thì Tà Thần xen vào, gạt gẫm làm cho người học đạo phải mất đức tin mà sa ngã, nếu chưa đủ trí biệt phân.

Cho nên người dùng Cơ Bút mà tầm đạo hay là học đạo thì phải dè dặt, cẩn thận, mới khỏi sa vào lưới rập của Quỉ Vương.