5.1 - Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử.
ID026786 - Tiết : 5.1 - Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử. 🖶 Print this Tiết
Chương : 5. Các cặp Phò loan truyền Đạo.
Phần : IV. Đồng tử
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

5.1 - Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử.

Huấn Từ của Đức Thượng Sanh trong Đại Hội Ban Đạo Sử tại Nhà Hội Vạn Linh ngày 26-10-Mậu Thân (dl 15-12-1968), có nói về các cặp đồng tử phò loan truyền Đạo:

“Nói qua Chức sắc Hiệp Thiên Đài được thâu nhập lúc ban sơ, được sai phò cơ đi khắp các tỉnh Nam Kỳ để truyền Đạo, Đức Chí Tôn chỉ định mấy cặp đồng tử:

1. Cặp Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc.
2. Cặp Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu.
3. Cặp Trương Hữu Đức và Nguyễn Trung Hậu.
4. Cặp Trần Duy Nghĩa và Trương Văn Tràng.
5. Cặp Ca Minh Chương và Phạm Văn Tươi.
6. Cặp Phạm Tấn Đãi và Nguyễn Thiêng Kim.
7. Cặp Huỳnh Văn Mai và Võ Văn Nguyên.

Trong mấy người nầy, ông Cao Quỳnh Diêu là tư chức làm việc ở hãng buôn, ông Ca Minh Chương là giáo viên già trên 70 tuổi, ông Nguyễn Trung Hậu là giáo sư tư thục (Trường Trung học tư thục Huỳnh Khương Ninh), còn mấy ông kia đều là công chức, vừa gặp Đạo thì mấy ông liền say mê, cứ ban ngày làm việc hai buổi, chiều ra sở về nhà dùng bữa cơm vừa rồi thì xe đã chờ sẵn trước nhà, trên xe đã có vài vị Chức sắc Cửu Trùng Đài đợi, lên xe đi liền.

Mấy cặp cơ chia nhau và hẹn với mấy vị Chức sắc chứng đàn cận đâu đi đó, hoặc miền Đông, miền Trung, hoặc miền Tây.

Một đêm có thể đi phổ độ hai tỉnh gần nhau như: Tân An, Mỹ Tho hoặc Vĩnh Long, Sađéc. Mấy chỗ khác đi từ tỉnh trở về tới nhà, thường là 6 giờ sáng, nghĩa là ngồi cầm cơ từ 9 giờ tối cho tới 4 giờ sáng.

Đức Chí Tôn giáng cho thi cầu đạo mỗi người một bài, hoặc 8 câu hoặc 4 câu, có khi cho thi tới 100 hay 150 bài một đêm, còn lại người cầu đạo nhiều quá không cho thi kịp thì Đức Chí Tôn toàn thâu nhập môn hết. Thành thử sáng về tới nhà, các vị Phò loan chỉ kịp thay đồ, ghé tiệm dùng điểm tâm rồi đi vô sở làm việc luôn. Kế tối lại thì cũng đi như vậy nữa, trọn cả năm trường, không đêm nào được nghỉ, cũng có khi về nhà sớm hơn.

Lạ thay! Chịu vất vả như vậy mà mấy vị Phò loan cũng như thường, không thấy mệt mỏi hay bịnh hoạn chi hết.

Trong 4 tháng đầu, nhờ sự phò cơ truyền đạo mà số người nhập môn kể hơn một vạn.

Sau đó sự đi phổ độ giảm dần, mỗi tuần đi mấy tỉnh xa chừng vài đêm, còn mấy đêm khác thì dành cho các miền kế cận Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như: Giồng Ông Tố, Hốc Môn, Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Bình Chánh, Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Kim, Bến Lức, Lộc Giang, Hiệp Hòa.

Ngoài ra, tại Thánh Thất Cầu Kho của ông Đốc học Đoàn Văn Bản và nơi Thánh Thất tại Chợ Lớn (nhà của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt) mỗi đêm thứ bảy có lập đàn cầu cơ thâu người nhập môn.

Sau ngày Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén trong 3 tháng, mỗi đêm thứ bảy cũng có đàn cơ nơi đây để phổ độ dân chúng tỉnh Tây Ninh và Lục Tỉnh.

Đức Chí Tôn giáng cơ truyền đạo cho nhơn sanh mãi tới cuối tháng 6 năm 1927 (năm Đinh Mão), Đại Từ Phụ mới ra lịnh ngưng phổ độ bằng Cơ Bút. Về sau, người xin nhập môn cứ dâng sớ và lập Minh Thệ theo Luật đạo. . . . . . . . .

Tóm tắt là Cơ Bút có thể xây dựng nền Đạo và cũng có thể phá hoại nền Đạo, nên khuyên các Đạo hữu có thể là đồng tử, phải vì đại nghiệp chung của Đạo mà dẹp bớt dục vọng và dứt khoát sự mê hoặc lòng người bằng Cơ Bút.”