5.3 – Ngài Bảo Pháp nói về Huyền Khiếu của đồng tử.
ID026788 - Tiết : 5.3 – Ngài Bảo Pháp nói về Huyền Khiếu của đồng tử. 🖶 Print this Tiết
Chương : 5. Các cặp Phò loan truyền Đạo.
Phần : IV. Đồng tử
Sách : Khảo Luận Xây Bản và Cơ Bút Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

5.3 – Ngài Bảo Pháp nói về Huyền Khiếu của đồng tử.

“Người chấp cơ gọi theo danh từ thông thường là đồng tử, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi là Chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Đồng tử là người có đặc khiếu xuất Chơn thần ra khỏi Phách đến hầu Thần Tiên nghe dạy bảo bằng cách chuyển di tư tưởng, rồi nhờ linh điển Thần Tiên giáng hiệp với nhơn điển đồng tử làm cho cánh tay cử động mà diễn giải tư tưởng ra bằng văn tự.

Có 2 thứ Đồng tử: Đồng mê và Đồng tỉnh.

Chấp cơ mà mê, Chơn thần xuất trọn khỏi Phách (Chơn thần vốn còn dính với Phách bởi sợi từ khí), tiếp được rõ ràng tư tưởng của Thần Tiên nên diễn ra nhiều bài thi phú văn chương tuyệt diệu, hoặc nhiều bài đạo lý cao thâm, nhưng mãn đàn, Chơn thần đồng tử phải mệt mỏi.

Ngày xưa các nhà văn nho hay lập đàn thỉnh Tiên trên non cao thanh vắng và dùng đồng mê. Tiên thường giáng cho nhiều bài thi tuyệt bút với khí vị Thần Tiên, hoặc có tánh cách tiên tri, song ý nghĩa ẩn vi khó hiểu, đợi việc xảy ra rồi mới thấy rõ, có khi giáng cho toa thuốc chữa bịnh thiệt là linh nghiệm, nhưng cách cầu cơ ấy rất khó, đàn nội phải thanh tịnh, một tiếng gà gáy hay chó sủa, một khua động bất thường, đủ làm cho Chơn thần đồng tử hoảng hốt nhập về phách, thế là đàn cơ lỡ dở.

Chấp cơ mà tỉnh, chỉ có một phần Chơn thần xuất ra, nên tiếp tư tưởng không được rõ ràng, bài chấp cơ thường khuyết điểm, nhưng được tiện lợi là không buộc phải thiết đàn nơi chốn non cao thanh vắng, và khi mãn đàn, Chơn thần đồng tử ít mệt.

Thần Tiên lại tùy đặc khiếu của đồng tỉnh mà truyền tư tưởng bằng cách giáng tâm hay giáng thủ.

Đồng tử giáng tâm, tuy chưa viết ra mà thần trí biết trước mang máng những lời sắp viết ra, tựa hồ như tự mình đặt để vậy.

Đồng tử giáng thủ tựa như bộ máy, tay cứ chiều theo điển lực, cử động viết ra chớ không hay biết chi hết.

Lập Đạo kỳ ba nầy, Đức Thượng Đế dùng đồng tỉnh mới tiện cơ phổ độ. Nếu dùng đồng mê, người chấp cơ đâu đủ lực lượng tinh thần đặng chịu nổi đêm nầy sang đêm khác và luôn như vậy mấy năm trường.

Lại mỗi đàn cơ, Đức Chí Tôn dùng hai người Phò loan cho đủ Âm Dương hiệp nhứt là cơ sanh hóa của Đạo.

Người chấp cơ bên Hữu (bắt ngoài ngó vô) thuộc Âm tiếp tư tưởng rồi truyền qua người bên Tả thuộc Dương tiếp điển viết ra.

Còn Chấp bút thì một đồng tử, song bút pháp chỉ dùng tiếp Mật lịnh và Bí truyền, chớ không dùng về cơ phổ độ.

Thủ cơ và chấp bút là cách thông công gián tiếp với các Đấng thiêng liêng.

Lần lần người tu đến bực cao siêu, đắc Nhãn Thông và Nhĩ Thông thì sẽ trực tiếp thông công, khỏi phải nhờ trung gian là Cơ Bút nữa.

Vả chăng, Cơ Bút là việc tối quan trọng, vì lẽ Tà Chánh khó phân, nên chi Đức Chí Tôn có dạy:

“Cơ Bút là việc tối quan trọng, nếu không có chơn linh quí trọng thủ cơ thì Tà Quái xen vào khuấy rối các con làm cho phải thất nhơn tâm.

“Thầy nói cho các con biết, bực Chơn Thánh mà phải đọa trần, nếu không đủ tánh chất dìu dẫn nhơn sanh, cũng chưa đáng cầm bút cho Thầy truyền Đạo.”

Cõi Trung giới có nhiều hạng Âm Linh (Các bực Âm Linh ấy đại loại là: các vì Thánh, Chánh Thần, Tà Thần, Bát Bộ quỉ loại, vong linh của thường nhơn, nhơn phách và thú phách ly trần) mà hạng nào, thanh hay trược, thiện hay ác, cũng giáng cơ được hết. Vậy tránh sao khỏi Chánh Tà lẫn lộn.

Vẫn biết Pháp đàn (người chứng đàn) phải biết biện phân, phán đoán thiệt hư, nhưng với trí phàm hữu hạn, dễ gì tránh khỏi sai lầm. Đồng chưa minh, chỉ tiếp xúc với Âm Linh hạ đẳng mà thôi.

Một điều quan trọng nữa là người thủ cơ hay chấp bút mà không đại tịnh để dứt vọng niệm thì chỉ viết ra những tư tưởng chứa sẵn trong thần trí, kỳ thật không có Âm Linh nào giáng.

Chúng ta biết tư tưởng vốn biến thành hình và sống một thời gian lâu hay mau tùy theo sức tư tưởng mạnh hay yếu. Đồng tử cần phải diệt hết tư tưởng thấp hèn về bản ngã và cá nhơn, lúc nào cũng phải giữ cho cõi tâm an tịnh, chớ chẳng đợi khi chấp cơ.

Ví dụ đồng tử có một dục vọng gì, dục vọng ấy chưa thỏa mãn thì nó vẫn còn nuôi nấng trong Chơn thần, nó tượng nên hình như cái thai trong thai bào, càng lâu càng lớn, đợi đến ngày tháng (đến khi có dịp) là sanh ra.

Đến khi đồng tử chấp cơ, dẫu rằng lúc nầy rán giữ đại tịnh, không sanh vọng niệm mới, nhưng cái vọng niệm cũ kia đã tượng nên hình, bấy giờ có dịp sanh ra.

Vì vậy mà cũng một đồng tử chấp cơ, có bài Thánh huấn làm cho chúng ta kính phục vô cùng, mà cũng có bài làm cho chúng ta chán nãn.

Ở trường hợp nầy, đồng tử bị tư tưởng mình ám thị nên gọi là “Tự kỷ ám thị” (Autosuggestion).

Chẳng những vậy thôi, mà những người hầu đàn, nếu họ có tư tưởng mạnh, tư tưởng ấy có thể chuyển di qua Chơn thần đồng tử, nếu đồng tử có “cảm thụ tánh” (suggestivité) nghĩa là cái tánh dễ bị ám thị (suggestion).

Duy đồng tử có đạo hạnh thanh cao, trì trai thủ giới, hoặc đồng tử tiền định, mới thông công được với các Đấng Thượng đẳng thiêng liêng thì Cơ Bút mới huyền diệu. Tuy nhiên cũng không khỏi tự kỷ ám thị chẳng nhiều thì ít.

Cơ thể và huyền khiếu của đồng tử:

Cơ thể của con người cũng như cái máy vô tuyến điện. Máy nầy có 2 bộ phận: Một phần để thâu điển vào, còn một phần để phát điển ra.

Phàm hễ muốn thâu điển của một cái máy khác phát ra thì máy thâu và máy phát, cần phải có một năng lực thuần điển cùng nhau (même longueur d’ondes).

Đồng tử như cái máy để thâu điển. Nếu máy tốt thì thâu được trọn điển báu, nếu máy xấu thì khó bề thâu trọn điển báu được.

Diệu Hữu là một thứ điển quang linh động, sự rung động của nó vô cùng vô tận. Muốn thâu được Diệu Hữu của các Đấng thiêng liêng, đồng tử phải là một thứ máy tinh anh và phải đồng điển với Thần Tiên.

Vô tuyến điện thường ở xa đánh tới, phải trải qua một khoảng không gian rộng hay hẹp tùy theo đường đi. Nếu khoảng không gian ấy được bình tịnh, không bão tố thì điển ban ra không bị loạn (brouillage).

Diệu Hữu cũng vậy, Thần Tiên ban nó ra bắt từ khoảng tịch mịch không trung, nếu được thanh tịnh thì sẽ tiếp được những bài văn cao siêu lưu loát, ý nghĩa thâm trầm, ẩn vi mầu nhiệm.

Tóm lại, bổn tánh của Diệu Hữu thường là thanh tịnh, ấy là của Thần Thánh Tiên Phật. Nếu người được tinh khiết thanh tịnh thì hiệp với Trời, thông công với Thần Tiên được. Trái lại, thì Tà Thần xen vào, gạt gẫm làm cho người học đạo phải mất đức tin mà sa ngã, nếu chưa đủ trí biệt phân.

Cho nên người dùng Cơ Bút mà tầm đạo hay là học đạo thì phải dè dặt, cẩn thận, mới khỏi sa vào lưới rập của Quỉ Vương.