d). Các loại Cơ Bút – Cơ quan đồng tử.

Thánh giáo có dạy:

“Giờ nầy, Thầy biện phân về Cơ quan đồng tử cho các con hãn tàng tự sự.

Cơ là gì? Cơ thật nghĩa là máy. Quan là gì? Quan là một trong các bộ phận của cái máy “Thiên Cơ”, là mỗi phần cốt yếu của luật tuần hoàn xây chuyển đó.

Vậy hai chữ Cơ quan ứng hiện chia ra làm 3 cách:

- Thứ nhứt: Tiên Cơ dùng huyền vi chơn lý.
- Thứ hai: Tà Cơ dùng mê tín dị đoan.
- Thứ ba: Nhơn Cơ dùng hữu hình thể cách.

Thầy sẽ luận giải cho rõ ràng, kẻo các con còn nghi nghi ngại ngại.

Tiên Cơ: dùng luật huyền vi chơn lý, là lấy sự chánh đáng để dìu dắt các con bước lần theo đường sáng suốt tấn hóa mãi lên.

Tà Cơ: dùng mê tín dị đoan, là lấy sự chẳng đặng chơn thật, kiếm thế cho các con quá mê theo những sự dị đoan mà phải sai lầm.

Nhơn Cơ: dùng hữu hình thể cách, là sự chi có hình dạng. Đấy là do các con làm ra.

Các con khá nhớ: Trong 3 cách đều phải thọ điển cả, chớ chẳng phải không đâu. Các con nghe Thầy giải lý:

TIÊN CƠ: Luật tiếp điển như vầy:

Hễ đồng tử định Chơn thần rồi thì tâm tịnh, mà hễ tâm tịnh thì minh khiếu sẽ phát lộ ra, kế tiếp với Chơn thần xuất hiện lên trên, rồi nối với Tiên Thiên điển mới rọi ra thành Thánh giáo. Nên khi lập đàn, các con cần nhứt trước hết phải cho thanh tịnh, đừng khua động. Nếu động thì tâm đồng tử động, cái minh khiếu tiếp liên với Tiên Thiên điển bỗng rời ra, thành thử phải đứt điển đó.

TÀ CƠ là vầy:

Cũng phải tiếp điển nữa, nhưng vì điển Hậu Thiên quá nhiều, có một tý Tiên Thiên mà thôi. Tiên Thiên điển là Dương điển, còn Hậu Thiên là Âm điển, Tà thuộc Âm, hễ Âm điển nhiều thành ra Tà cơ đó.

NHƠN CƠ: cũng có điển.

Lúc mới tạo nên vật kiện là vầy: Khi các con muốn làm ra một món chi, thì cái ý muốn ấy tự trong tâm các con phát hiện ra, óc của các con nó khiến các con cử động tứ chi mà tạo thành vật ấy. Đó cũng gọi là điển, song thật là Nhơn điển, Phàm điển.

Vậy Thầy đã minh giải tận tường, các con lấy đó mà suy nghiệm, chớ đừng để lòng nghi ngại từ bấy lâu nay.”

(Trích trong quyển Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp)

* * *

Sau đây xin dẫn chứng 3 trường hợp Cơ Bút: Nhơn cơ, Tiên cơ, Tà cơ.

Chúng ta phải dùng hết lương tri và lương năng mới có thể phân biệt được 3 trường hợp nầy.

1.- Nhơn Cơ:

Ngày 10-4-Kỷ Hợi (dl 17-5-1959), Đức Hộ Pháp qui Thiên tại Kim Biên (Nam Vang). Đức Ngài có di chúc:

“Bần đạo qui Thiên, tạm gởi thể xác nơi đất Cao Miên một thời gian. Ngày nào nước nhà độc lập, thống nhứt, thực hiện đúng theo đường lối Hòa Bình Trung Lập, sẽ di liên đài về Tòa Thánh Tây Ninh.”

Ngày 12-9-Ất Tỵ (dl 6-10-1965), Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa và Sĩ Tải Bùi Quang Cao phải ở lại Nam Vang gìn giữ liên đài của Đức Hộ Pháp, còn những người khác thì tùy nghi, muốn về Tòa Thánh tiếp tục hành đạo hay ở lại đây cũng được, không bắt buộc.

Đến năm Canh Tuất (1970), ở nước Miên có cuộc biến loạn dữ dội do Khmer đỏ gây ra, họ tàn sát Việt Kiều, Ngài Hồ Bảo Đạo rất lo sợ và rất muốn trở về VN để tránh tai họa.

Ngài Hồ Bảo Đạo thiết lập đàn cơ, cùng với Sĩ Tải Cao phò loan, cầu Đức Hộ Pháp.

“Nội dung bài giáng cơ nầy của Đức Hộ Pháp là dạy Hội Thánh lo đem liên đài của Đức Ngài về Thánh địa, vì lúc nầy có biến loạn ở Kim Biên.”

Xin chép lại nguyên văn bài giáng cơ nầy:

Thánh Thất Kim Biên
ngày 23-2-Mậu Tuất (dl. 30-3-1970)
Phò loan: Bảo Đạo - Sĩ Tải Cao.
Hầu đàn: Hồ Thái Bạch.

"Chào Chú Đốc và hai em,

Tình thế đến lúc chúng ta phải tự giải quyết số phận của chúng ta, nghĩa là phải rời nơi đây sớm chừng nào hay chừng nấy. Đó là thượng sách.

Di cốt của tôi nếu tiện thì cũng di luôn về Tổ Đình cho sớm.

Di chúc của tôi hết hiệu lực đối với chánh quyền hiện hữu. Nếu nơi đây sanh biến thì chúng ta hết chánh nghĩa ở ngoại quốc, có thế thôi.

Nhưng muốn cho thuận tiện là Hội Thánh phải dời về cho hợp lẽ. Chúng mình chỉ đợi lịnh của Hội Thánh là đủ, còn mọi việc đều do Chú lo liệu.

Hiện thời chưa giải quyết được việc ấy, bởi lẽ biên giới đóng cửa không thể qua được.

Chú cứ tính lần đi là vừa nghe Chú!

Khi được thơ Hội Thánh, Chú phải lo tính cách xin với chánh phủ hồi hương cho cả thảy phái đoàn theo Chú.

CAO cũng vậy, là thu dẹp liền đi là vừa, tao chi lịnh mầy đó.

Thôi, mọi việc đều do nơi Tổ Đình tất cả, Chú chỉ lo sắp xếp trong yên lặng là đủ, chỉ cho hay khi được tin Tổ Đình, chờ còn phải xây tháp để liên đài ở Đại Đồng Xã nghe Chú.

Đây đến đó còn ít lâu nữa, cứ bình tĩnh mà lo việc nầy, chớ thố lộ mà hư việc, Chú đợi lịnh sẽ sắp đặt, đừng chộn rộn nghe Chú, cứ để tình trạng yên ổn như vậy mà lo việc sau nầy cho phương tiện.

CAO cũng vậy, chớ bồn chồn làm cho Đạo nơi Kim Biên xôn xao nghe Chú!" THĂNG

Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa gởi bài Thánh giáo nầy về Tòa Thánh Tây Ninh cho Đức Thượng Sanh và Hội Thánh thi hành.

Đức Thượng Sanh tiếp được thơ của Ngài Hồ Bảo Đạo và bài Thánh giáo nầy của Đức Hộ Pháp thì cảm thấy bài Thánh giáo dạy không đúng theo lời Di chúc của Đức Hộ Pháp trước khi Đức Ngài qui Thiên, bởi vì lúc nầy nước Việt Nam chưa thống nhứt, chưa hòa bình, chưa trung lập theo đường lối của Đức Hộ Pháp. Có lẽ đây là NHƠN CƠ do Ngài Hồ Bảo Đạo viết ra chăng?

(Bởi vì lúc cầu Đức Hộ Pháp, Ngài Hồ Bảo Đạo quá lo sợ bọn tàn ác Khmer đỏ nên Ngài có ý muốn mạnh mẽ trở về Việt Nam. Tư tưởng lo sợ nầy của Hồ Bảo Đạo làm choán chỗ hết tư tưởng của Đức Hộ Pháp, nên cơ viết ra toàn là tư tưởng của Hồ Bảo Đạo, chớ không phải ý của Đức Hộ Pháp. Do đó, bài Cơ bút nầy là Nhơn Cơ).

2. Tiên Cơ:

Đức Thượng Sanh, có rất nhiều kinh nghiệm về Cơ Bút, hiểu rõ đây là Nhơn Cơ do Chơn thần của Hồ Bảo Đạo viết ra, nên thiết lập một Đàn cơ chánh thức tại Cung Đạo Tòa Thánh, do hai vị Thời Quân phò loan, có các Chức sắc của hai Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Cơ Quan Phước Thiện hầu đàn, để cầu Đức Hộ Pháp xác minh.

Đàn cơ tại Cung Đạo Tòa Thánh, đêm 24-3-Canh Tuất (dl 29-4-1970), lúc 9 giờ 15.

Phò loan: Hiến Pháp – Khai Đạo.
Hầu đàn: Đức Thượng Sanh, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, chư Chức sắc HTĐ, CTĐ và CQPT.
Hầu bút: Truyền Trạng Khuyên, Giáo Hữu Tám.

HỘ PHÁP

Mừng bạn Thượng Sanh cùng các bạn Hiệp Thiên, chư Chức sắc Cửu Trùng Đài nam nữ.

Cười . . . Bạn Thượng Sanh muốn hỏi điều chi?

- Bạch Đức Ngài, ông Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa có gởi về một bài Thánh giáo nói rằng: Đức Ngài giáng cơ tại Kim Biên dạy Hội Thánh lo đem liên đài của Đức Ngài về Thánh địa, vì lúc nầy có biến loạn nơi Kim Biên.

Chức sắc vẫn phân vân, có phần tin và có phần không dám tin. Trong bổn đạo nơi Ngoại ô và các nơi khác có dư luận xôn xao về sự sắp đặt di liên đài của Đức Ngài về Tòa Thánh.

Tiểu đệ xin Đức Ngài từ bi dạy về sự di liên đài trong lúc nầy có phải thật là Thánh ý của Đức Ngài không?

Đức Hộ Pháp hỏi: - Thượng Sanh nghĩ sao?

Đức Thượng Sanh bạch: - Theo quan niệm của tiểu đệ thì Đức Ngài đã có di ngôn phải chờ lúc Việt Nam độc lâp, đất nước được thống nhứt sẽ di liên đài về Tòa Thánh và Đức Ngài cũng có giáng cơ dạy Hội Thánh Hiệp Thiên Đài là nước nhà chưa thống nhứt thì không vui sướng gì mà hồi loan.

Vì vậy, tiểu đệ cứ tôn trọng di ngôn và Thánh huấn của Đức Ngài trước kia. Nếu di liên đài lúc nầy, tiểu đệ thấy nhiều bất tiện và sơ thất vì thời cuộc hiện tại và cũng trái với Thánh ý của Đức Ngài.

- Hay! Cầm giềng mối như vậy mới đúng. Nếu mỗi lần có biến sự mà không vững tinh thần thì phải bị lôi cuốn vào vòng tội lỗi.

Bần đạo đã nói trong thời kỳ nầy, Bần đạo có về cũng không ích lợi chi cho Đạo cũng như Đời.

Vậy Bần đạo đồng ý với Thượng Sanh và toàn Hội Thánh, nên truyền bá lời nầy cho toàn đạo hay biết, kẻo hiểu lầm rất tai hại.

Bần đạo thành thật cảm ơn chư Thánh. THĂNG.

3. Tà Cơ:

Ông Nguyễn Văn Ca tách ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh, về Cầu Vỹ Mỹ Tho lập ra Phái Minh Chơn Lý, hợp tác với Thiên sư Nguyễn Văn Phùng, chưởng quản Hiệp Thiên Đài, chấp cơ, đổi hết cách thờ phượng, thay hình Thiên Nhãn bằng hình trái tim, thay đèn Thái Cực bằng thập ngũ linh đăng, đi sâu vào Tà giáo.

Sau đây là Bài giải thích Thiên Nhãn một cách rất tà mị, đăng trong tập Đuốc Chơn Lý (số 51 trang 12), do Tòa Thánh Minh Chơn Lý tại Định Tường xuất bản năm 1955:

VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI

Ngày 19-8 âm lịch 1938 (7 giờ tối)

Được, con nghe Thầy dặn: Nay Thầy giải nghĩa câu:

“Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quan chủ tể, quan thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã.”

Trước Thầy có hứa sau Thầy sẽ chỉ rành là đợi cho đến ngày nay là đúng là Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy phải giải cho rành cho cả thảy đặng hay kẻo nhiều đứa nó ước ao trông đợi.

Giải nghĩa như vầy:

Chữ Nhãn thị chủ tâm nghĩa là cái Nhãn của mỗi người đó là chủ nghĩa ở nơi tạng Tâm mà truyền ra, ấy là trái tim nên hình cái Nhãn cũng tương tự như trái tim vậy. Đó là Tâm nội xuất hình ư ngoại đó, nên lấy nó mà làm chủ nghĩa đặng cho đời xem chung nên gọi là Nhãn thị chủ tâm là vậy đó.

Lưỡng quan chủ tể, chữ Tể nầy là cai trị (gouverner) nghĩa là hai điều quan hệ trong sự ngó dòm, coi xét, đó phải ngăn ngừa phòng sợ, trong đó có chánh có tà, đó là lưỡng quan là hai ngõ đó, hễ ngó chánh thì có chánh, ngó tà thì có tà, trong đó có một ngôi chủ tể xem xét không lầm nên phải quan phòng là vậy đó.

Quan thị Thần, chữ Quan nầy là khán (observer), chữ Thị nầy là thật (droit), nghĩa là xem xét đặng làm việc phải là chữ Thị đó. Thị trong đó có Thần, Thần nầy là Thần huệ diệu minh là điển đó, nên gọi là điển quan Thần diệu huệ phát minh tâm là vậy đó.

Thần thị Thiên, Thần vậy đó mới gọi là có Trời ẩn trong đó. Thần nầy mới gọi là Thần mục tợ điển. Còn Thiên đó thì người đời hay kêu là Thiên La Thần, Địa La Thần là vậy, vì xem xét không lầm, bao la vũ trụ chẳng vị chẳng tư.

Còn Thiên giả ngã dã là: chữ Thiên là xấu (mauvais), chữ Ngã nầy là nghiêng (pencher). Đó là nghĩa nói về người đạo.

Nếu dùng Thiên Nhãn đặng treo vậy thì trong chỗ ngó xem hành động không y theo lời dạy thì người đó có chỗ thiên là không đúng thật nơi lòng.

Phật gọi là ngã (tomber) tướng đó. Hễ người đạo mà phạm vào nhơn ngã thì hóa ra người nương đạo mà lập danh quyền lợi, dầu có treo cũng vô ích.

Vậy con biểu Ca nó coi rồi giao lại cho ba Đầu Sư, Tứ Bửu, Thiên Sư xét cho kỹ, coi cho rành, đặng in ra rồi gởi cho các Chi Phái khác đặng rõ lời Thầy dạy đó, hoặc may chúng nó có đặng hồi tâm mà tránh cái nạn tu mà lắm mê hoặc đặng biết chơn lý mà theo Thầy thì là nhờ công trong mỗi đứa đó.” (THĂNG)