60.- Lý Giáo Tông
ID027137 - Chương : 60.- Lý Giáo Tông 🖶 Print this Chương
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Sưu Tập 1935-1941
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

60.- Lý Giáo Tông

60. Ngày . . .

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
LÝ GIÁO TÔNG

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi,
Muốn đặng phi thăng, ráng trả rồi.
Cượng lý tu hành cho thoát tục,
Tiền vay nợ hỏi, sổ ai bôi.

Đây Lão nhắc lời của Đức Chí Tôn dạy về cách trả quả như vầy :

“ Các con ôi ! Phải ráng vui lòng mà chịu điều cực khổ. Hễ Thầy thương các con chừng nào thì hành hạ các con chừng nấy. Bởi vậy, khi các con hiến thân hành đạo với Thầy, đã lịnh truyền cho Thần, Thánh bắt các con phải trả cho đủ kiếp, đặng trừ cho kịp kỳ nầy.

Bởi các con phải chịu luật luân hồi, vì cớ mà các con phải chịu điều khổ sở như vậy, các con chớ than phiền, chính theo lời thề của các con thì Thầy hành các con cho đúng lẽ. Vậy mới xứng đáng là môn đệ của Thầy. Có nhiều đứa vì không rõ luật Thiên điều, cứ than van mãi.”

Vậy, chư hiền hữu, hiền muội nghe Ơn Trên dạy đành rành. Nợ thì phải trả, chớ không chạy đâu được. Dầu một vị Đại La mà phạm luật Thiên điều thì cũng phải tái kiếp mà đền bù cuộc trả vay.

Thế nào gọi là Trả quả ?

Là nhận chịu các nợ tiền khiên đã kết nạp trong nhiều kiếp, chỉ quyết trả cho xong mà không vay thêm nữa.

Có hai cách Trả quả :

* Một là quả báo về tinh thần ở phạm vi tư tưởng, buồn thảm âu sầu.
* Hai là quả báo về xác thịt, tật bệnh, đói rét, khốn nàn.

Quả lại chia ra làm ba ảnh hưởng :

1. Là quả báo cá nhân do mình tạo ra.
2. Là quả báo của chủng tộc do nòi giống tạo ra.
3. Là quả báo do quần chúng của mỗi người trong xã hội gây ra.

Vậy muốn dứt các dĩ vãng là kết quả của hiện tại âu sầu thống khổ thì phải lấy cái hiện tại mà tạo cái tương lai cho được rực rỡ vẻ vang, rồi lấy cái tương lai đó mà tạo một cơ sở vững vàng muôn kiếp, tức là đi tới chỗ trường sanh bất tử đó vậy.

THĂNG.

Phụ lục 2 : THÁNH NGÔN cầu tại Madagascar

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

Lược chiến từng quen đã bấy lâu,
Thiên cơ đã rõ máy cao sâu.
Dằn lòng nhẫn nại chờ đôi lúc,
Sẽ thấy khuôn linh pháp nhiệm mầu.

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên phong.

Có Đức Nhàn Âm đến, để Bần tăng đi triệu Thần hoàng Bổn cảnh đến giữ cơ.

NHÀN ÂM ĐẠO TRƯỞNG

Cười . . . Bần tăng lấy làm cảm xúc cho chư vị dường nầy. Hận giống dã man tàn ác.

Đương nhiên, Trung huê chia làm tam quốc. Trung quân tức là Nam Kinh đó vậy, nơi ấy là hang ổ Việt kiều. Thời cuộc Á Đông sẽ kết liễu do nơi đó.

THI:
Quá hải đòi phen đến viếng nhau,
Ngặt không cơ bút để lời giao.
An nhàn đợi thuở triều linh địa,
Chuyển thế gặp hồi phải múa đao.
Cõi Á đã gầy thành chủng quốc,
Phương Âu sẽ diệt tận nô lao.
Lửa hương đất Việt dầu nhen nhúm,
Nhờ đám Trung quân ở nước Tàu.

Trong chuỗi ngày bị lưu đày, Đức Phạm Hộ Pháp có lúc ra bãi cát giải khuây. Ngài cầm một cái que, tay kia khỏa cát cho bằng, thì liền tiếp điển, có một Đấng giáng vào tay cầm que viết trên cát như chấp bút vậy :

NẶC DANH

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên phong.

Trong cảnh buồn nầy, có người quen đến viếng thường cũng nên cho là hậu tình đó chút.

Đức Hộ Pháp : - Xin cho biết tên.

- Chẳng cần biết tên mà làm gì, thà để gần gũi nhau hay hơn. Vậy trước khi từ bút, thiếp xin để một bài thi làm của :

THI:
Nô-si-lao, tiếng đặt buồn cười,
Mi đã rước ai hỡi hỡi ngươi ?
Lượn thảm bổ gành tình ột ạt,
Gió sầu xô đảnh ái tơi bời.
Yêu phu điểu gọi thương cành sớm,
Giọng ngạn quyên kêu nhớ bụi mơi.
Tổ quốc đon đường bao dặm thẳm,
Đưa xa thăm thẳm một phương trời.

Chú thích:

Nô-si-lao: tên chỗ Đức Hộ Pháp bị lưu đày.

Yêu phu điểu: tên con chim tại đảo, tiếng kêu của nó như là “ trả chí chàng”.

Ngạn quyên: con chim đỗ vũ, thường gọi là con chim quốc, vì nó kêu quốc quốc.

Đức Hộ Pháp muốn biết tổ quốc chừng nào thanh bình an lạc.

Xin thưa : Còn xa thăm thẳm vì nghiệt oan của dân tộc Việt Nam quá nhiều, phải vay trả cho hết rồi mới hưởng hồng ân của Đức Chí Tôn được.

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

Chào Thiên Tôn, chư vị Đại Thiên phong.

Đức Lý Giáo Tông nhắn rằng : trong hai tháng nữa, người sẽ đến dạy việc Đạo.

Có Đức Tôn Sơn đến . . . . . . Cười . . .

Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có nhắn lời rằng : Jersey Afrique cũng như Jersey Anglais vậy chớ !

Bần tăng đố ai đánh cu-di nầy trúng thì Bần tăng biểu Uông Tinh Vệ nhường Nam Kinh cho về đó mà ở.

Đức Hộ Pháp hỏi : . . . . . . . . . . .

Đây lấy nước Tàu mà nói Đạo. Tội nghiệp cho Tưởng Giới Thạch, khi đặng thấy thống nhứt rồi, để cho Nhựt - Mỹ đánh ghen mới có đồ mưu nội loạn theo kế hoạch đôi đàng, ai chiếm đặng Tâm Tàu, chừng ấy cõi Đông Dương mới mong đoạt quyền vi chủ.

Ôi ! Cảnh tượng ấy ai lại chẳng ham, chẳng khác nào kẻ nghèo đi cưới vợ phú hộ.

Đức Hộ Pháp và chư Thiên phong hỏi : . . . . .

- Nhưng Tàu là thuyền quyên băng tuyết kia mới định phận lẽ nào ? Nói thử.

- Bởi vậy, hiền hữu cũng như một gái hai chồng, nếu ở gần thì bị dụ dỗ, cũng nên xách gói mà đi xa, đợi hai anh hùng tranh đấu, ai đoạt được phao cầu, chừng ấy mới định duyên tơ tóc. Nói vậy Chí Tôn dắt chư hiền hữu đi đây cũng như giục gái trốn mau.

Đức Hộ Pháp hỏi : - Ở lâu mau ?

- Như bên trai xong thì về mau, bằng lâu thì cứ ở thí mà.

TÁI CẦU:

- Chatel sẽ có đảm nhiệm lớn lao nơi Đông Dương, chớ không phải như lời của chư hiền hữu để luận, cốt yếu Lang sa, nhứt là Decoux đem chư vị đi nơi xa cầm sanh mạng đặng toàn đạo chẳng dám phản loạn, rồi thừa kế đưa vào tay phái Phục Hoàng để làm nha trảo, rồi đây kế ấy tác thành, vì Decoux đã cho tin tức trong đảng phái ấy hay rồi.

Nhưng Thiên ý Chí Tôn lại khác.

Xin chư vị ráng đợi, rồi sẽ thấy.

THĂNG.

TIÊU DIÊU ĐẠO SĨ

Từ ngày chư vị mông trần nơi đây, Bần tăng lấy nơi nầy làm căn cứ đặng dễ bề gần gũi.

Bần tăng may duyên gặp đặng Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gabriel Gobron nơi Cung Lập Khuyết, người có hứa đến hội hiệp cùng chư vị, nhưng mắc bận việc nên chẳng định ngày, đợi đôi tháng nữa, Bần tăng sẽ đi rước.

THĂNG.

NẶC DANH

Chào Thiên Tôn và chư vị Đại Thiên phong.

Thiếp vì có mạng lịnh đến đây làm bạn bút nghiên trong lúc chư vị đặng mạng lịnh Chí Tôn cho ngơi nghỉ nơi đây.

Chí Tôn than rằng : Chức sắc Thiên phong bên Cửu Trùng Đài thiếu hùng biện văn tài đặng làm tay qui phục sanh chúng. Vì cớ ấy mà triết lý Đạo khó phổ thông cho toàn thiên hạ. Nhưng Chí Tôn nhứt định giao chơn truyền cho mấy vị đây mà thôi.

Thiếp xin trích thi văn dìu bước chư vị Thiên phong vào khuôn viên đoạt thành khẩu khí rồi lần lượt dẫn vào mặt luật tân của Ngô Thường Quân là cháu hai đời của Ngô Tôn Sách, sau tân phong lên làm Phong Hầu, nên gọi là Tấn luật.

TÁI CẦU:

Chào Thiên Tôn và chư vị Thiên phong.

Vì có mạng lịnh nên thiếp xin phép cho thiếp thố lộ đôi điều.

Khi thầy thiếp là Vương Thất Nương có về chầu và dâng sớ cho Đức Chí Tôn tỏ nỗi sự khổ hạnh nhọc nhằn của chư vị nơi đây, Đức Chí Tôn lấy làm đau đớn thương tâm. Nhứt định chính mình Người đến nơi an ủi. Nhưng Đức Lý Giáo Tông can gián rằng : E nhẹ Thiên nhan, để cho người cam lãnh phận sự ấy. Hại thay, đôi bên Thiên Chúa và Cao Đài đương khắc đấu nhau nơi Ngọc Hư Cung nhiệt liệt, nên chẳng cho người nơi Thiên cung đến được. Người mới từ Kim Bàn xuống Âm Quang đặng giao thầy thiếp giúp sức.

May thay, nhờ chư vị thương yêu trìu mến, thầy thiếp mới dạy thiếp đến làm bạn bút nghiên hầu liệu phương an ủi, nên thiếp dạy thi văn, còn về mặt thuyết minh thì để cho Thiên Tôn huấn luyện.

THI:
Đã phong trần chịu phong trần,
Có thân âu phải biết thương thân.
Nam xa ví chẳng vì đường khó,
Việt đảnh mong chi đượm lửa mừng.
Nặng gánh giang sơn là Thương Trụ,
Nhẹ đai cung kiếm ấy Thường Quân.
Ngũ hồ tứ hải không lưu lạc,
Mặt địa cầu ta vốn định chừng.

Nam xa : Tích Ngô Sĩ Liên đi sứ bên Tàu, nhờ Châu Công cho một cỗ xe có để địa bàn chỉ nam, hướng theo đó mà đi về nước. Ôi ! Đường đi qua núi xuống đèo, trăm bề khó nhọc, nhờ vậy mà biết con đường bộ từ Nam chí Tàu, mới hành binh đuổi quân Tàu về nước. Sau lấy đặng hoàng triều, lập nên quốc pháp, nên thi sĩ đời sau cho “Nam xa” là việc tối linh mà tối báu.

Việt đảnh: Là lư đảnh để thờ Hoàng tộc, ai thâu đặng bá tánh thì bá tánh là con cái của Hoàng tộc, sau lập tổ miếu mà thờ gọi là “Lư hương đảnh Việt”.

THI:
Hòn đảo nầy đây trước nhốt tù,
Mà nay làm khám khảo thầy tu.
Quả như oan nghiệt vay rồi trả,
Thì lũ Tây man, Nhựt bổn trừ.

(Đức Ngài liền nói với quí Chức sắc chung khổ rằng : Chúng ta sẽ về nước một ngày gần đây).

Tiếp sau có hai câu nho :

Vân tróc đằng phong phi yểu yểu,
Triều tri tẩu bá khứ bôn bôn.

Thích nôm:

Cuồn cuộn mây đưa theo lượn gió,
Ồ ào sóng rượt chụp khuôn thuyền.

THĂNG.

Thi Văn Sưu Tập từ năm Ất Hợi đến Tân Tỵ (1935 - 1941)

Ngày 25-1-Ất Hợi (dl 28-2-1935)
Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.

TÔN TẪN
Liễu Nhứt Chơn Nhơn

Thiên Thai văng vẳng tiếng tri âm,
Đạp máy Âm Dương đến cõi phàm.
Lược sách binh thư dâng bửu bối,
Bao trùm hậu khí giúp nhà Nam.
*
Địa hoàn biến chuyển đổi dư đồ,
Diệt tận văn minh của đạo Tô.
Phân đảnh Á Âu chia Bắc hải,
Lập triều Anh Mỹ đóng Tây đô.
Hoàng quyền nghiêng ngửa chia dân quốc,
Đế Pháp chơi vơi thống bạch cờ.
Thành bại một trường lưu huyết trận,
Thừa nguy Việt mới định xa thơ.

Ngày mùng 8-8-Ất Hợi (dl 5-9-1935).

TỨ NƯƠNG
Nỗi niềm ai ghẹo cho đau,
Tình thương coi lại như màu mây tan.
Bởi rẽ bạn với ai than vãn,
Ngó trăng thu thêm ngán ngày qua.
Nơi Thanh cung hỏi Hằng Nga,
Vì ai ngọc đổ châu sa bấy chừ.
Đây chẳng lẽ làm khuây chẳng tưởng,
Tại nơi ai mà vướng dây oan.
Đã vô trong cõi trần hoàn,
Ăn cay nuốt đắng, cơ hàn nuôi thân.
Phải coi lấy tinh thần là trọng,
Đừng vấn vương theo bóng trời mai.
Chia phui một vẻ cảnh đài,
Công linh buổi trước chia tay nặng lời.
Lời đã dặn có Trời nối gót,
Lập ngôi Thiên rưới giọt từ bi.
Oan gia thuở trước còn ghi,
Cái ngôi vô cực mấy khi đặng toàn.
Vinh hiển để danh truyền kiếp kiếp,
Lời đinh ninh đã hiệp nên hình.
Cớ sao chẳng giải thất tình,
Một phen lửa dậy, chẳng nhìn cao ngôi.
Vì thương mới nặng lời phiền trách,
Xử sao cho trong sạch nợ đời.
Phận cam lãnh tiếng con Trời,
Thương yêu sanh chúng để lời khuyên răn.
Đừng giận lẫy cằn rằn tính bỏ,
Các nguyên nhân hỏi ngõ cùng ai.
Thương đời ngậm đắng trêu cay,
Càn Khôn còn rộng có ngày nên danh.
Danh đừng giựt đừng giành hạnh thế,
Cả huyền linh há dễ hai ngôi.
Tự nhiên gầy dựng nên đời,
Chúng sanh thấy rõ mặt người nguơn công.
Thành thời thế lòng nên định thế,
Phải ráng xem cạn lẽ hư nên.
Thiên điều đã chép nhiều tên,
Gắng công chờ đợi ơn trên định phần.
Đạo đã chịu lắm lần trắc trở,
Lẽ thiêng liêng hai lẽ định phân.
Dìu dân có ngọn bút thần,
Mình nên mình hiểu khá cần đua tranh.
Đợi ngày đoạt công thành danh toại,
Mới tỏ tường trái phải Thiên cơ.
Sự chi cũng có định giờ,

Nghe và ghi nhớ lời của em, Nhị Ca nghe. Em nhượng bút.

NGŨ NƯƠNG
Khá tua ẩn nhẫn mà chờ lịnh trên.
Đã có sẵn một quyền bỉnh chánh,
Cứ phận mình lại nạnh chi ai.
Kìa xem lấy Hiệp Thiên Đài,
Trí nên đáng trí, nói tài tài cao.
Đây có lắm anh hào rắp đến,
Lập cho thành mệnh lệnh Tam Tòa.
Vàng thau rõ mặt chánh tà,
Quyền xưa định Phật với ma khác đường.
Nơi Ngọc Hư còn đang định án,
Chiếu chỉ phân cho hãn tội tình.
Đã không tuân luật hữu hình,
Vô vi trừng trị ai binh đặng nào.
Thương Chí Tôn lòng đau than thở,
Lo liệu phương day trở cơ đời.
Thế đương biến cuộc đổi dời,
Lấy khuôn khảo tội cho người ăn năn.
Xưa coi nhẹ lời răn đạo đức,
Nay cam tâm ngậm ức nuốt oan.
Trừ hung mở cuộc dấy loàn,
Kẻ không nhìn Đạo nhập đoàn yêu tinh.
Giặc tứ hướng đao binh khởi động,
Dấy can qua các giống giết nhau.
Làm cho mặt đất đổi màu,
Trở day cơ tạo đem vào khuôn linh.
Gầy cho đặng anh linh các Đấng,
Lập ngôi Thiên cho xứng công tu.
Khá nên quyết sách vận trù,
Nền Nam có lúc vong xu mãn phần.
Ấy là lúc Đạo nương thổ võ,
Làm trời Nam cho rõ nước Trời.
Chí công gắng sức độ đời,
Nước Nam có thuở đổi dời nêu tên.
Vậy giục bớt lửa phiền trong dạ,
Nên nghiêng vai cõng cả nhơn sanh.
Máy linh kia đã sẵn dành,
Công cao ắt đặng ngôi đành nên cao.

Em xin nhượng bút.

LỤC NƯƠNG
Công cao thì phận ắt gian truân,
Mượn tấm yêu thương chở khách trần.
Lãnh phước khá toan chan rưới phước,
Làm cho sanh chúng hưởng Thiên ân.
THẤT NƯƠNG
Thiên ân định có phần cao thấp,
Cao nên cao khó thấp đặng nào,
Sẵn tay làm lặng ba đào,
Đưa thuyền Bát Nhã lần vào cảnh xuân.
Đợi sẽ thấy oai thần giúp sức,
Đặng xây nên mỹ lệ đài mây.
Quyền trên đã sẵn có Thầy,
Mấy anh cần biết cho hay phép đời.
Đời càng khó cơ đời trọng giá,
Tay cầm nên nghiệp cả Đạo nhà.
Chờ gió lặng đám mây qua,
Biển mê trương cánh buồm ra cõi ngoài.
Có lắm kẻ hằng ngày trông ngóng,
Như trời thu đợi bóng mưa qua.
Kìa nhơn sanh với sơn hà,
Phân ra khinh trọng mới là trí cao.
Đừng sợ nhục đừng nao khó nhọc,
Gần thành công đặng lọc lừa danh.
Thiên thơ trước đã định rành,
Nên hư nền Đạo đã đành nơi tay.
Tòa Tam Giáo có ngày định lập,
Quyền phân minh đẳng cấp chánh truyền.
Cửu Trùng lại với Hiệp Thiên,
Từ đây đáng hiệp cho nên một quyền.
Đừng cố giữ nỗi phiền buổi nọ,
Phải tận tâm hiệp ngõ chọn hiền.
Dầu chi cũng kẻ một thuyền,
Thấy nhau có thẹn chớ nên để lòng.
Làm cho rõ mặt anh phong,

Em xin nhượng bút.

BÁT NƯƠNG
Vô tư nẻ nét lấy công trị người.
Người ta kế cấp bấy nhiêu người,
Lánh đứa gian tà đến dựa hơi.
Cần quốc muốn nên trừ lũ nịnh,
Yêu dân toan dạy lựa nên lời.
Xa thơ mòn bánh vì đường lở,
Xã tắc chinh ngôi bởi phép đời.
Rộng thứ không bằng toan dạy trước,
Răn he đừng đợi ngọn gươm quơi.

Quơi bồ tiền mượn quyền thị nhục,
Cải tai ương ra phúc vĩnh tồn.
Trường công mở phép độ hồn,
Đứa ngu đem dựa, đứa khôn học đòi.
Đừng chê bỏ ra mòi rẻ rúng,
Con dao hay làm lụng dễ dàng.
Miễn đừng để lưỡi nằm ngang,
Phải suông mà phạm đứa gian hại đời.
Hễ trái hẳn con ngươi đừng nhắm,
Mở mắt linh xem lặng vào lòng.
Phá tan cái lũ con ong,
Loạn ly đem thế nhập trong Thánh Tòa.
Diệt cho sạch xác ma thịt quỉ,
Trừ những phường hồ mị cầu danh.
Đưa cây Ma xử nên linh,
Trừ an nội loạn mới thành Thiên cơ.
Hòa với kẻ kỉnh thờ Tam Giáo,
Gieo lòng tin giáo đạo mọi nơi.
Khá nên làm việc cẩn lời,
Nên chăng cũng có cơ Trời quyền năng.
Khá kiếm thế đặng gần chánh phủ,
Tìm biết danh trọn lũ gian manh.
Đưa dung kẻ nghịch ngọn ngành,
Hành vi của Đạo nỡ đành đem buôn.
Lánh những kẻ làm tuồng mến Đạo,
Mua thân danh mượn máu trung thành.
Xa phường trục lợi xu danh,
Kiếm phương tà mị dỗ dành đứa ngu.
Nếu làm đặng Đường Ngu nào khác,
Dạy dân đen chẳng phạt ngục hình.
Trở kim ra cổ như in,
Thuấn Nghiêu nào biết dụng binh dẹp loàn.
Nếu có kẻ an bang tế thế,
Quì mà nghinh lấy lễ trọng người.
Cổi thân ra mảnh áo tơi,
Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.
Sửa cơ Tạo ra sang mới vẹn,
Lấy từ bi vun quén cây nhơn.
Đừng ham gây oán chuốt hờn,
Phải hơn đạo đức chớ hơn tài tình.
Trước sau sẵn một khuôn linh.
THĂNG.
NHÀN ÂM ĐẠO TRƯỞNG
Gánh đời đã tự cất lên vai,
Trau chuốt cho sao đủ trí tài.
Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,
Thiệt hư nhìn nhận chước phương hay.
Dụng quyền hơn đức, quyền tan nát,
Tạo thế kém nhân, thế đọa đày.
Ví biết giống nòi đang thống khổ,
Trở đương cho vẹn phận làm trai.
*
Non sông muốn gánh phải lo tròn,
Giữa biển khơi lắt lẻo chiếc thuyền con,
Cơn sóng gió liệu cho còn hay để mất.
Khóc nước loạn rừng hôm con quốc quốc,
Máu thành sông thây chất ví non cao.
Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,
Đá tinh vệ chừ bao cho lấp bể.
Vận hội đến đã xây thời thế,
Bởi hung tàn mà chưa dễ thoát lệ nô.
Bốn ngàn năm một gánh cơ đồ,
Chia rẽ mãi mà điểm tô không kịp bước.
Đời lấn Đạo, Đời xa cội phước,
Đạo dìu Đời, vận nước mới an.
Đức lập Quyền, dân được châu toàn,
Quyền lập Đức, nhơn gian thống khổ.
Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,
Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.
Trị theo đời mà dân chúng vẫn lầm than,
Đó là dìu chúng đến con đàng tự diệt.
Do bốn chữ : Minh, Cang, Liêm, Khiết,
Đạo hay đời trăm việc cũng thành.
Gắng đề phòng bả lợi đua tranh,
Cầm hạc giữ đạm thanh khi sớm tối.
Chẫm rãi bước đường xa chớ vội,
Góp ý hay mở lối cang thường.
Thương đời cho trọn chữ thương !

*

THI:
Thánh tâm một khối tượng nên hình,
Đã hiệp Vạn linh với Chí Linh.
Riêu phướn từ bi tiêu loạn lạc,
Soi gương bác ái lập hòa bình.
Chiêu an tả đạo, trừ tà khí,
Độ tận quần sanh, chiếu cứu tinh.
Mở mắt thiên lương dìu chủng tộc,
Nghĩa nhân âu đổi lấy nhơn tình.
Lý Giáo Tông
THI:
Hồng Lạc gặp thời vỗ cánh bay,
Tuôn mây lướt gió chẳng ai tài.
Nghìn thu tên tuổi còn noi dấu,
Khí tượng anh hùng há một mai.
Đất Việt lẫy lừng danh Đại Đạo,
Trời Nam tỏ rạng tiếng Cao Đài.
Có chi vui bẵng ngày tương hội,
Chúa Thánh tôi hiền phỉ chí thay!
Phan Sào Nam (24-11-Ất Dậu, 1945)