I. Những giới luật căn bản.
ID027456 - Phần : I. Những giới luật căn bản. 🖶 Print this Phần
Sách : 99 Câu Hỏi Đáp Về Giới Luật Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

I. Những giới luật căn bản.

 

1. Con người là ai, từ đâu đến ? Sanh ra cõi trần làm chi ?

Xin giải-đáp ba câu hỏi nầy một cách vắn-tắt theo Huyền-Bí-Học.

Con người là ai ?

Theo thế thường thì ai cũng đinh-ninh rằng Xác thân nầy là con người. Nhưng thật ra, ngoài xác thân con người còn có các thể khác như PHÁCH, VÍA, TRÍ... Thân xác đang hiện hữu chỉ là khí-cụ của con người dùng để hoạt-động tại cõi trần trong một kiếp mà thôi. Chơn Linh (thường gọi là Linh hồn) của con người là một Điểm Linh-Quang của Thượng-Đế. Vì thế, con người được xem là con của Trời.

Con người từ đâu đến ?

Con người vốn ở trong tâm của đức Thượng-Đế, từ cõi Đại Niết Bàn xuống thế-gian. Theo giáo lý của Đạo Cao Đài,Khí Hư Vô là chất khí nguyên thủy. Ðức Lão Tử gọi Khí Hư Vô là Ðạo. Khí Hư Vô sanh ra một đấng duy nhứt là Ðức Chí Tôn, ngôi của Ngài là Thái Cực. Thái Cực còn được gọi là Ðại Linh quang, Ðại Hồn của vũ trụ.Thái Cực biến hóa sanh ra Lưỡng Nghi gọi là Dương quang và Âm quang. Ðức Chí Tôn chưởng quản Dương quang, còn Âm quang do Ðức Chí Tôn hóa thân ra làm Phật Mẫu để chưởng quản. Ðức Phật Mẫu cho hai khí Dương quang và Âm quang phối hiệp để tạo thành Càn Khôn Vũ trụ và vạn vật.

Con người sanh ra cõi trần làm chi ?

Con người sanh ra cõi trần đặng học hỏi luật sanh-hóa và luật tiến-hóa, nói một cách khác, là học-hỏi cơ tiến-hóa. Con người phải học-hỏi và kinh-nghiệm từ kiếp nầy qua kiếp kia, từ hành tinh nầy qua hành tinh khác của dãy địa cầu. Tới một ngày kia, khi phá tan được bức màn vô-minh thì con người trở nên trọn sáng trọn lành, thành một vị Siêu-Phàm, người đời gọi là Chơn-tiên. Còn Phật-Giáo gọi là Aseka nghĩa là không còn làm đệ-tử nữa, không còn cái chi học-hỏi tại dãy địa cầu nầy. Sự tiến-hóa sẽ tiếp-tục ở mấy cõi khác, ngoài địa cầu chúng ta.

Đây mới thật là mục-đích sanh-hóa của con người trên cõi trần. Nếu con người sanh ra trên thế chỉ chờ lớn khôn, lập thành danh, có gia-đình và trải qua những chuổi ngày sung-sướng, vui-vẻ, đau-khổ, sầu-muộn rồi chờ ngày “Cát bụi phải trở về với cát bụi” thì cuộc đời không có mục-đích gì cả và kiếp sống rất vô vị.

 

2. Vì sao phải tu hành ? Muốn tu phải làm sao ?

Tu là trau-giồi lấy tinh thần mình.

Hành là luyện tập thân mình phải biết tùng phục tinh thần sai khiến mà làm Đạo.

Khi nghe nói tới hai chữ “Tu hành”, nhiều người phát sợ, không muốn cho hai chữ nầy lọt vào tai. Đó là do lầm tưởng rằng: muốn tu thì phải lìa bỏ gia-đình, lánh xa thế tục, ẩn mình vào chốn non cao động cả, hay là vào chùa, vào nhà thờ, Thánh thất sớm mõ, chiều chuông, tụng niệm kệ kinh sống khổ hạnh.

Không phải thế! Từ ngàn xưa, tinh hoa các tôn giáo vẫn gồm trọn vẹn trong 3 câu nầy:

· Làm lành.
· Lánh dữ.
· Rửa lòng cho trong sạch.

Tu là sửa mình cho nên chí Thánh.Chúng ta hãy lo tu thân trước nhứt, rồi lo làm công quả phụng sự xã hội nhân quần, phục hưng tinh thần đạo đức của nhơn-loại. Muốn được vậy, người theo đạo phải:

- Năng học Đạo, nghĩa là tìm hiểu kinh điển cho thông suốt.

- Trau giồi linh tâm tức phải sửa những thói hư tật xấu của mình; thực hành đúng phận sự của một tín đồ bằng cách tuân y những điều mà Hội Thánh buộc.

- Một khuyết điểm trầm trọng làm cho tâm linh không sáng suốt là người tín đồ thường không chịu cúng kiến. Trong những giờ phút trầm tư mặc tưởng trước Thiên Bàn, chơn thần mới quên dần được những tư tưởng trần tục hàng ngày và nhờ điển linh của Thượng Đế ban cho chúng ta cảm thấy tinh thần nhẹ nhàng thơi thới ... Từ đó những tư tưởng thiện, hành động lành mới dễ phát xuất. Phải thực hành mới thấy được sự huyền vi mầu nhiệm, phải đủ tin tưởng nơi Chí Tôn, Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng mới hiểu được thế giới vô hình.

Tu là sửa mà sửa cái gì? hành là thực hành thì phải thực hành như thế nào?

Khi máy móc bị hư, chúng ta phải xem nó bị hư ở bộ phận nào trước khi sửa chữa; việc tu hành cũng vậy, phải tìm ra căn nguyên chỗ nào chưa tốt, còn sai với lời dạy của Các Đấng Thiêng liêng thì mình tu sửa để hoàn thiện hơn ngày hôm qua. Dưới đây là những lời giảng của các Đấng Thiêng liêng:

- “Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cãi lý Thiên Đình mà làm cho tiêu tai, tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì là Thiên Đình cầm bộ Nam tào cũng chẳng ích chi. Tu là chi? Tu là trau dồi đức tính cho nên hiền, thuận theo ý Trời đã định trước.”

- “ĐỨC CHÍ TÔN đem đến sự sống để trước mắt nhơn loại, như nhắc nhở họ phải tôn sùng cái sống chung của nhau. Hễ tôn sùng, tức nhiên phải nhìn Ðấng Tạo đoan đã ban cho chúng ta mạng sống, cho ta nhứt ĐIỂM LINH QUANG, mới biết phân biệt Thiện với Ác, Chánh với Tà, để làm biểu hiệu cho con người thức giấc mê, tìm hiểu Chơn lý của sự sống như thế nào, đặng trở lộn lại sống theo tinh thần của Thánh Hiền hay sống theo tánh hung bạo tàn ác của con vật. (Thuyết Ðạo Q. II)

Trong bát hồn vận chuyển, THÚ HỒN tiến lên NHÂN HỒN, con người ngoài xác thân còn có nhứt ĐIỂM LINH QUANG hay còn gọi là Linh Hồn, Phật Tánh, Thiên Tánh vô cùng vi diệu. Chính nhờ có Thiên tánh trong bản thể nên từ sự tu hành, NHÂN HỒN mới tiến lên được THẦN HỒN, THÁNH HỒN, TIÊN HỒN , PHẬT HỒN. Kinh Tắm Thánh dạy rất rõ về vấn đề nầy:

Con người đứng phẩm Tối Linh,
Nửa người, nửa Phật nơi mình Anh Nhi.
(Kinh Tắm Thánh)

Tóm lại: TU = LÀM LÀNH, LÁNH DỮ, THUẬN THEO Ý TRỜI ĐÃ DẠY + PHỤNG SỰ VẠN LINH

CHƠN LINH con người được bao bọc bởi các thể vía, thể phách bên ngoài, sau khi ta mất, các thể này sẽ theo thời gian mà rơi rụng, chỉ còn Chơn linh hay ĐIỂM LINH QUANG về với Đức Chí tôn.

Đồng nhất hóa mình với những hạ thể vốn chỉ tồn tại nhất thời trong một kiếp, thật sự điên rồ và phi lý cũng như đồng nhất hóa mình với quần áo mình mặc.

Thượng Đế ở trong vạn vật, ta không cần phải trèo non lội suối mà tìm Trời, Ngài đã ở trong ta bởi Đức Chí Tôn dạy: "- Thày Ngự trong lòng mỗi chúng sinh, hãy lắng nghe tiếng nói của lương tâm, của Thiên tánh".

Loài người có nơi mặt địa cầu nầy trong khoảng 50 triệu năm mà thôi. Bổn căn của loài người có tánh vật của nó sanh trong vạn vật, cũng như con vật kia vậy; duy trong Tánh Vật của nó, có Ðức Chí Tôn đến định Thiên mạng của nó. Nó có hai phần, hai đặc tánh: Tánh Thú và Tánh Trời.

Bây giờ luận về Tánh thú của nó thì nó cũng như con thú kia vậy. Tánh của nó buộc nó đói phải cần kiếm ăn, lạnh rách phải kiếm mặc, nó khổ nó phải kiếm phương làm cho nó hạnh phúc, nó khó khăn nó phải làm cho nó sung sướng cái phàm nghiệp của nó, thích cái gì phải kiếm phương thế nào làm cho nó thỏa thích, ấy là cái Tánh Thú giục nó vậy.

Ấy vậy làm chủ cái Tánh thú đặng bảo trọng Thiên mạng, tức nhiên phải dồi mài sửa đổi luyện cả tinh thần và hình chất của mình thoát khỏi Tánh thú đặng bảo tồn nhân cách, tức nhiên bảo tồn Thiên Mạng của mình gọi là "TU". Chữ Tu cốt yếu là để trau giồi cho đặng thoát cái Tánh thú, bảo vệ nhân cách của mình đó vậy". (Thuyết Ðạo của Đức Hộ Pháp Quyển V)

 

3. Nếu không tu thì sao?

Nếu không tu thì sao, có hậu quả gì ?

Luật Tiến-Hóa cứ thúc đẩy con người phải đi tới mục-đích đã định sẵn cho nhơn-loại của Vũ-trụ nầy tức là mấy trăm triệu năm sau, mỗi người trong chúng ta đều trở nên trọn sáng, trọn lành, làm một vị Chơn-Tiên khi ngày giờ đã đến.

Đức Phật Thích Ca đã nói: “- Ta là Phật đã thành. Các con là Phật chưa thành”. Phải đi tới mãi, không ai thụt lùi hay là đứng yên một chỗ dậm chơn. Ai đi mau tới trước, ai đi chậm tới sau, chung cuộc ai ai cũng phải tới, nhưng mà đi chậm thì phải trải qua muôn kiếp trầm luân, muôn phần khổ cực.

Chúng ta ở trong Định-Luật, không thể nào cưỡng lại được. Ban sơ chúng ta là trẻ nít, kế đó là trưởng-thành rồi già nua. Tới một ngày kia chúng ta đều phải bỏ cái xác phàm nặng-trĩu nầy, nhưng chưa phải là chấm dứt đâu. Chúng ta phải tái sanh đặng thanh-toán những mối nợ-nần đã gây ra từ nhiều kiếp trước và tiếp tục sự tiến-hóa của chúng ta đã bỏ dở cho tới chừng nào chúng ta tu hành Đắc-Đạo mới được giải-thoát, không còn phải luân-hồi dưới trần thế nữa.

Vậy thì điều hay hơn hết là nên tu ngay bây giờ, để trong vài chục kiếp, ta có thể thành Chánh-quả. Hơn thế nữa, ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ là thời kỳ ĐẠI ÂN XÁ, các tín đồ được hồng ân tha thứ nợ tiền khiên nên đường giải thoát sẽ ngắn và nhanh hơn, nếu nói tới chừng già tôi mới tu, thì e cho khi hồn lìa khỏi xác, hối tiếc thì đã muộn.

Nếu đợi tới già mới niệm Phật,
Thiếu chi mồ trẻ đã qua đời.

Muốn tái sanh làm người, Chơn linh phải chờ đợi từ trăm năm trở lên mới có cơ hội đi đầu thai lần nữa !!!

 

4. 4. Có phải muốn trở thành tín đồ Cao Đài phải minh thệ ?

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển ghi rõ: “Người nhập môn vào cửa Đạo để thành người Đệ Tử Cao Đài phải Minh Thệ trước Thiên Bàn Chí Tôn như sau:

Tên họ .. . Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao-Đài Ngọc-Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn-đệ, gìn luật lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên-tru, Địa-lục.”

Tất cả tín đồ Cao Đài đều phải qua thủ tục minh thệ nầy khi nhập môn cầu Đạo. Lời minh thệ phải được phát âm thành tiếng nói rõ ràng trước sự chứng kiến của Thần linh và giới chức sắc có thẩm quyền về hành chánh Đạo, chức thấp nhứt là cấp Bàn Trị Sự.

Đây là một nghi lễ hữu hình có ba tác dụng:

1. Về hành chánh Đạo: Để có đủ yếu tố pháp lý cấp giấy chứng nhận tín đồ gọi là Sớ Cầu Đạo.

2. Về tâm lý cá nhân: Để người tân tín đồ biết sợ hình phạt của Thiêng Liêng mà giữ gìn giới luật của kẻ tu hành.

3. Về thần quyền: Để được các Đấng Thiêng Liêng nhìn nhận là môn đệ của Đức Chí Tôn và do đó sẵn sàng phò hộ cho mình trong cuộc sống tu hành.

Chúng ta biết rằng mỗi linh hồn đều có quyền tự chủ của mình, vì vậy phải có lời minh thệ là một hình thức cam kết tự nguyện sống trong giáo pháp Đạo Cao Đài, chấp nhận sự thưởng phạt của các Đấng Thiêng liêng đóng vai trò hướng đạo cho mình trong hành trình trở về cùng Thượng Đế.

Như thế, những Đấng ấy mới sẵn sàng can thiệp vào đời sống của mình với mục đích yểm phàm phục thánh. điều kiện nầy được xác định qua lời dạy của Đức Chí Tôn đối với một số môn đệ tại Cần-Giuộc chưa qua thủ tục nhập môn trong thời kỳ mới khai Đạo: "Quỉ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con, Thầy chẳng chịu cho hành xác, chúng nó hiệp Tam Thập Lục Động toan hại các con. Nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm gìn giữ các con nhưng phần đông chưa lập minh thệ nên chư Thần Thánh Tiên Phật không muốn nhìn nhận". (TNHT Q.1)

Ngoài ra, về phương diện thần quyền, phải có minh thệ nhập môn thì khi chết Hội Thánh mới tiến hành các thủ tục độ hồn như tụng Kinh hấp hối, Thượng sớ tân cố, Cầu siêu, làm phép xác độ thăng, làm Tuần cửu, Tiểu tường và Đại tường cho người giữ đúng luật Đạo. Thủ tục minh thệ nhập môn trong Đạo Cao Đài là một sự ràng buộc cần thiết để giúp người tín đồ chế ngự phàm tánh cho dễ dàng đi đến đích sau cùng của đời tu là giải thoát. (theo ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI của Hiền Tài Nguyễn Long Thành)

 

5. Những giới luật căn bản mà người tín đồ phải giữ ?

Sau khi Minh Thệ, ngoài việc phải HỌC KINH, GIỮ TRAI KỲ; người Đệ Tử Cao Đài còn phải tuân hành Giới Luật Căn Bản được ghi rõ trong TÂN LUẬT của Đạo. Tân luật gồm có ba phần: ĐẠO PHÁP, THẾ LUẬT và TỊNH THẤT.

Trong phần ĐẠO PHÁP có 8 chương:

Chương I: ...Về Chức Sắc Cai Trị Trong Đạo.
Chương II: ..Về Người Giữ Đạo.
Chương III: .Về Việc Lập Họ.
Chương IV: ..Về Ngũ Giới Cấm.
Chương V: ...Về Tứ Đại điều Qui.
Chương VI: ..Về Giáo Huấn.
Chương VII: .Về Hình Phạt.
Chương VIII: Về Việc Ban Hành Luật Pháp.

Trong phần THẾ LUẬT có 24 điều dạy cho tín đồ về Lễ Tắm Thánh, Quan, Hôn, Tang, Tế.

Trong phần TỊNH THẤT có 8 điều dành cho người vào tịnh luyện

Trong CHƯƠNG II, VỀ NGƯỜI GIỮ ĐẠO (ABOUT BELIEVERS) ghi rõ:

ĐIỀU THỨ MƯỜI HAI:

Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực: 1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Đạo mà thôi; vào phẩm hạ thừa. 2. Một bực đã giữ trường trai, giái sát và tứ đại điều qui, gọi là vào phẩm thượng thừa.

English:
Article 12:

Once converted and baptized (Nhập môn), the new adherent is called a believer (Tín Đồ. Believers are classified into two categories:

1. Those who live with their families (unmarried and married persons) and earn their living as ordinary people. However they must practice vegetarian diet for six or ten days a month, must observe the Five Interdictions (Ngũ Giới Cấm), and obey the Secular Laws/Rules of the Secular Life (Thế-Luật) promulgated by the Great Way (Đại-Đạo. These believers are called layman keeping the Way, belonging to the Lower Category or Secular order (Hạ-Thừa).

2. Those who observe a full-time vegetarian regime, free themselves from killing and follow the Four Great Commandments (Tứ Đại Điều-Qui) are classified in the Higher Category or Higher order (Thượng Thừa).

ĐIỀU THỨ MƯỜI BA:

· Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Đạo.

English:
Article 13:

Among the Lower Category (Hạ-Thừa), those who observe ten days or more of vegetarian diet (per month) will be granted admission into a Meditation House (Tịnh-thất) where Esoteric Teaching are taught and they’ll be assigned a supervisor who'll assist them in practicing spiritual exercises.

ĐIỀU THỨ MƯỜI BỐN:

· Chức Sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người thượng thừa mà thôi.

English:
Article 14:

Dignitaries from the Religious Administration having the rank of Priest (Giáo-Hữu) and above must be selected only from among believers in the Higher category (Thượng Thừa).

 

6. Nội dung ngũ giới cấm (The Five Interdictions) ?

Ngũ giới cấm là năm điều cấm; nếu phạm vào tùy theo nặng nhẹ có thể bị phạt từ hình thức cảnh cáo quì hương, sám hối, đến bị ngưng quyền chức từ một đến ba năm (Chương IV. Tân Luật).

Trên con đường tâm linh, để tránh phiền não, lỗi lầm và tiến đến chân trời an lạc giải thoát, cần phải có giới luật là những hạn chế, cấm ngăn không cho mọi người hành động theo bản năng tham dục. Năm giới tuy đơn giản nhưng đó là nấc thang đầu để người học đạo có thể bước lên Thánh đạo.

Sau đây là Chương IV, điều thứ 21 trong Tân luật nói về Ngũ giới cấm.

ĐIỀU THỨ HAI MƯƠI MỐT:

Hễ nhập môn rồi phải trau giồi giữ tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm:

English:
Article 21:

Once converted and baptized to the Religion, believers must cultivate themselves by improving their attitudes and observing Five Interdictions:

1. Nhứt Bất Sát Sanh, là chẳng nên sát hại sanh vật.

English:

Not Killing: itis forbidden to kill any living creatures.

2. Nhì Bất Du Đạo, là cấm trộm cướp; lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại cho người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.

English:

Not Stealing: itis forbidden to commit robbery, banditry, to pilfer, to take goods without permission, to cheat, to borrow without returning, or to keep stolen goods, to keep others' belongings lost in the street, to covet others' possession, to make ill wish to others for one's own benefit, or to cheat in gambling.

3. Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm.

English:

Not Committing Lewd Actions: it is forbidden to commit adultery, to fall into debauchery, to encourage others to act immorally, to entertain immorally or indecent thoughts at the sight of a beautiful/handsome person, or to seduce by speech. (Relations between spouses are not considered to be lewd actions).

4. Tứ Bất Tửu Nhục, là cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.

English:

Not Indulging in the Use of Alcohol or a Luxurious Life Style: it is forbidden to abuse the drinking of alcohol and the eating of meat; overeating and overdrinking cause disorder to the physical body and spirit and disturb public peace. It is also forbidden to wish for or covet unusual drinks and rich food.

5. Ngũ Bất Vọng Ngữ, là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời hứa.

English:

Not Lying: it is forbidden to use false words, to speak falsely, or to boast in order to deceive others. It is forbidden to expose another person's faults, to turn wrong into right and vice-versa; to malign, to defame, to talk ill of other people, to incite anger or hatred in people, or to bring matters to public trial; to swear or use vulgar language; to curse other people; to blaspheme religion; to renege on a promise.

 

7. Những điều cần biết về Thế Luật (Secular Law) ?

Người được nhập môn hành đạo phải tuân y Thế Luật như sau nầy:

English:

Those who are converted to the Caodaism must strictly follow the following Secular Rules:

ĐIỀU THỨ NHỨT:

Hễ thọ giáo với một Thầy thì tỉ như con một cha, phải thương yêu nhau; liên lạc nhau, giúp đỡ nhau lấy lòng thành thật mà đối đãi nhau, dìu dắt nhau trong đường Đạo và đường Đời.

English:
Article 1:

Having followed the Religion/Way with the same Divine Master (God), the believers must considered themselves as children of the same father. They must love each other; maintain good relations among themselves, help each other, treat each other honestly, mutually guide one another in both spiritual life (Religion Path) and temporal life (Secular Path).

ĐIỀU THỨ HAI:

Nhập đạo rồi thì phải quên những việc oán thù nhau khi trước; phải tránh việc ganh ghét tranh đua và kiện cáo; phải nhẫn nhịn và hòa thuận với nhau. Rủi có điều chi xích mích, phải vui nghe người làm đầu trong Họ phân giải.

English:
Article 2:

Once having entered Caodaism, believers must forget previous hatreds, must avoid acts of jealousy, of competition and conflict involving a law-suit. Mutual tolerance must be practiced in order to live in harmony and peace. If there is discord, the involved believers have to be open-minded and gladly accept the reconciliation of the Parish Head.

ĐIỀU THỨ BA:

Phải giữ Tam Cang Ngũ Thường là nguồn cội của Nhơn Đạo; nam thì hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sĩ; nữ thì tùng phụ, tùng phu, tùng tử và công, dung, ngôn, hạnh.

English:
Article 3:

The Three Principal Social Bonds (Tam Cang) and Five Cardinal Virtues (Ngũ Thường) are the fundamental rules of conduct of Confucianism which humankind must observe. Men must show filial piety, loyalty, politeness and courtesy, honesty and integrity. Women must remain submitted to their father, husband and children (Three Womanly Subjections / Tam Tùng); and they should fulfil their duties towards their family, care well for their appearance, use nice and charming words and have good attitude and conduct (Four Womanly Virtues [Tứ Đức]).

ĐIỀU THỨ TƯ:

Ra giao thiệp với đời thì phải tập và giữ tánh ôn, lương, cung, khiêm, nhượng.

English:
Article 4:

In relating to the public, the believers should practice and maintain an attitude of flexibility, honesty, respect, modesty and condescension.

ĐIỀU THỨ NĂM:

Đối với hàng đạo hữu phải nuôi nấng cái tình thù tạc với nhau, cho khắn khít cái dây liên lạc. Trong hàng tín đồ còn ở thế phải nhớ 2 dịp là Tang và Hôn.

English:
Article 5:

Among co-believers, good relations must be promoted to strengthen the bonds of fraternity. Believers who belong to the secular order must concern about FUNERAL and WEDDING OCCASIONS.

ĐIỀU THỨ SÁU:

Việc hôn là việc rất trọng đời người. Phải chọn hôn trong người đồng đạo; trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết làm giai ngẫu.

English:
Article 6:

Marriage is a very important act in life. Spouse should be chosen from among co-believers, except in the case when the future spouse agrees to convert to same religion.

ĐIỀU THỨ CHÍN:

Cấm người trong Đạo, từ ngày ban hành luật này về sau, không được cưới hầu thiếp. Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối. Thảng như phụ nữ kia không con nối hậu thì Thầy cũng rộng cho đặng phép cưới thiếp song chính mình chánh thê đứng cưới mới đặng.

English:
Article 9:

After this Code is published, it will be forbidden for the believers to take concubine(s. In case of widowhood, re-marriage is allowed. Should the wife be sterile and childless, the Divine Master allows the husband to marry a second wife, however his principal wife herself must arrange for the wedding.

ĐIỀU THỨ MƯỜI:

Trừ ra có ngoại tình hay là thất hiếu với công cô, vợ chồng người đạo không được để bỏ nhau.

English:
Article 10:

The Caodaist couple are not allowed to divorce, except in the case of adultery or lack of filial piety to parents-in-law.

ĐIỀU THỨ MƯỜI HAI:

Đứa con nít khi được một tháng sắp lên phải đem đến Thánh Thất sở tại mà xin làm lễ "Tắm Thánh" và ghi vào BỘ SANH của bổn đạo.

English:
Article 12:

New born child from one month old onwards must be brought to the Temple (Thánh-Thất) to receive baptism (Lễ Tắm Thánh) and to be registered in the BIRTH RECORDS of the Religion.

ĐIỀU THỨ MƯỜI SÁU:

Trong việc tống chung, không nên xa xí, không nên để lâu ngày, không nên dùng đồ âm công có màu sắc lòe loẹt, chỉ dùng toàn đồ trắng, không nên đãi đằng rần rộ mà mất sự nghiêm tịnh và mất dấu ai bi.

English:
Article 16:

Funeral should not be expensive or lavish, do not prolong, do not use striking colours, only use white colour. Big banquets should not be given as it may diminish the solemn and grievous atmosphere.

ĐIỀU THỨ MƯỜI BẢY:

Trong việc cúng tế vong linh không nên dùng hi sanh, dùng toàn đồ chay thì được phước hơn; không cấm lễ nhạc, song phải dùng lễ nhạc theo Tân Luật. Tang phục thì y như xưa.

English:
Article 17:

For the offerings made to the defunct, do not use meat, one can bring more merit to his/her soul by offering vegetarian food. The rites and music are not forbidden, but the rites and music prescribed by the Tân Luật (New Canonical Law) must be used. Mourning dresses are exactly as traditional.

ĐIỀU THỨ MƯỜI TÁM:

Việc cầu siêu cho vong linh trong tuần cửu Cửu và đến lúc Tiểu, Đại tường, thì do nơi Thánh Thất sở tại mà cầu lễ. Bổn đạo trong Họ, nếu có mời, phải đến mà cầu nguyện.

English:
Article 18:

The ceremonies Praying for the Salvation of the defunct's Soul (praying sessions for the ascension of the Soul, cầu siêu cho vong linh) nine times on every nine days period (Tuần Cửu: 9 x 9 Days = first 81 days after the death), the Small Good Mourning/Short mourning period (Tiểu Tường = 281st day after the death), and the Grand Good Mourning/Long mourning period (Đại Tường = 581st day after the death) must be held at the local Temple. The believers, if invited, must come to pray.

ĐIỀU THỨ MƯỜI CHÍN:

Một người trong đạo gặp tai nạn thình lình, thì bổn đạo trong Họ hãy tùy hỉ chung nhau, tư trợ cho qua lúc ngặt nghèo.

English:
Article 19:

If an unforseen accident befalls an adherent, the co-believers of the Parish must, depending on their capacity, help and support one through their difficult time.

ĐIỀU THỨ HAI MƯƠI:

Kể từ ngày ban hành luật này, người bổn đạo chẳng nên chuyên nghề gì làm cho sát sanh, hại vật; chẳng được làm nghề gì mà tồi phong bại tục; chẳng được soạn hay là ấn hành những truyện phong tình, huê nguyệt, không đặng buôn bán các thứ rượu mạnh và á phiện là vật độc làm cho giảm chất con người.

· Người nào đã lầm lỡ rồi, hãy kiếm thế mà giải nghệ.

English:
Article 20:

From the promulgation of this New Canonic Law, the believers must not hold any job involving killing of living creatures, or being contrary to good morals. They must not write or publish obscene novels, or sell any type of alcohol, spirits and opium, which are the toxic substances harmful to human beings.

· Should anyone have been holding those jobs, one should stop and find a different job.

 

8. Tứ đại điều qui là gì ?

Là bốn qui điều lớn buộc phải tuân theo :

1· Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ lầm lỗi phải ăn năn chịu thiệt.

2· Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên Đạo. Đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.

3· Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Đối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.

4· Trước mặt sau lưng cũng đồng một bực, đừng kính trước rồi khi sau. Đừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải, đừng lấy chung làm riêng, đừng vụ riêng mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân , đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Đừng cậy quyền mà yểm tài người.

Nếu phạm vào một trong bốn điều qui này sẽ bị hình phạt thuyên bổ đi nơi khác chỗ mình đang hành đạo. Luật pháp Đạo tuy có nghiêm khắc thật, nhưng đó là phương pháp để kềm chế, sửa trị phàm tâm của chúng ta rất hữu hiệu. Chưa ai có thể bước chân vào lòng Thánh Điện mà không mang theo những vết nhơ bẩn trên người. Ấy vậy phải thường xuyên xét mình mới tránh khỏi lỗi lầm đáng tiếc.

English:
THE FOUR GREAT COMMANDMENTS:

The Caodaists must improve their behavior, and cultivate themselves by observing the four great commandments:

1. Obey the teachings given by the superiors/higher ranks, listen openly to words and advice given by an inferior. Caodaists should use civility as the basis for dealing with others, recognising their own faults and repenting sincerely.

2. Do not flaunt your talents or qualities in pride and haughtiness; be humble and efface yourself in the service of others. Caodaists should help and guide others into the God-Path. They should not be revengeful, nor should they hinder virtuous and wise persons.

3. Be accurate in money matters; receipts and expenses must be clear. Do not borrow without paying back. Do not be impolite and discourteous to the higher ranks/superiors. Higher ranks, in teaching the lower ranks/inferiors, must do so with civility. Lower ranks, in advising or approaching the higher ranks, must not be lacking in deference and respect.

4. Be sincere, consistent in both the presence and absence of others. Do not be respectful in the presence of individuals and then insult, condemn, or offend them in their absence. Do not remain aloof without trying to reconcile co-believers who do not agree with one another or are in conflict. Do not appropriate public materials for private use. Do not act out of personal interest to the detriment of public interest. Obey the Laws and Rules. Do not cling to your personal opinion and oppose the higher ranks/superiors, or be uncivil to the lower ranks. Do not use authority to repress the talents or abilities of others. <@@@>