III. Tìm hiểu về Ngũ giới cấm và Tứ đại điều qui.
ID027475 - Phần : III. Tìm hiểu về Ngũ giới cấm và Tứ đại điều qui. 🖶 Print this Phần
Sách : 99 Câu Hỏi Đáp Về Giới Luật Trong Đạo Cao Đài
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

 

18. Vì sao Giới Không Sát Sanh được xếp đầu tiên ?

· Đức Phật bảo: "Này Văn Thù, tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, sống chết luân hồi từng làm lục thân quyến thuộc, thay đổi vô thường cũng như trò hát. Trong quá trình luân hồi vô tận ấy, ta cùng với tất cả chúng sanh, thường đầu thai làm cha mẹ, anh em, chồng vợ, con cái lẫn nhau.”

· Đức Chí tôn dạy vì sao không được sát sanh: Thầy là cha của sự-sống, vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận. Cái sống của cả chúng-sanh, Thầy phân-phát khắp Càn-Khôn Thế-Giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến-hóa.

Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên-sanh hay hóa-sanh cũng vậy, đến thế nầy lâu mau đều định trước, nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả-báo không sai; biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân-hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ, các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

“Sát nhân giả tử”, giết người thì phải đền mạng. Ðây là lẽ công bằng mà luật pháp của nước nào cũng không dung thứ cho những kẻ sát nhân.

Còn đối với cõi thiêng liêng vô hình, hồn của tên sát nhân phải chịu đựng biết bao đau khổ, sợ hãi, hối hận triền miên; kèm theo những hình ảnh đau thương, oán hận của người bị giết hiện ra trước mắt y như một cuồn phim, cứ sống trong cảnh tối tăm u ám như thế cho đến khi được đi đầu thai để trả quả:

Tai ương hoạn họa luống u sầu,
Vì bởi hay bày chước hiểm sâu,
Lập kế mưu đồ âm hại chúng,
Kiếp sau mang lấy lốt heo, trâu.

Vì những lẽ đó, các Đấng đã xếp “KHÔNG SÁT SANH” là giới cấm đầu tiên phải giữ.

 

19. Thú vật có hồn không ?

Người ta thường nói “Vật dưỡng nhơn”, vậy sao không nên giết thú để lấy thịt ăn? THÚ VẬT có HỒN không? Sau đây là bài giảng của Đức Cao Thượng Phẩm về thú vật hồn

“.. . Về sự tiến-hoá của Bát-Hồn, loài vật đứng vào phẩm thứ ba. Nó cũng biết cảm-xúc như loài người vậy, nó cũng biết thương, biết ghét; nhưng nó không được khôn ngoan như loài người. Loài vật chia làm hai loại: Loại Thượng-cầm, và loại hạ-thú.

- Loại Thượng-cầm có tính chất giống như loài người, là có thứ chim biết nói, nó nhớ cũng như loài người. Ngày xưa, người ta dùng chim để đi thơ từ chỗ nầy sang chỗ khác.

- Còn loại hạ-thú, có thú khôn ngoan như loài người, nó cũng biết nghe, và biết vâng lời sai biểu của loài người, lại cũng có thứ giống về bản-chất loài người như con khỉ chẳng hạn.

Về loài vật dầu cho Thượng-cầm hay Hạ-thú đều có thọ một điểm linh-quang của Đức Chí Tôn ban cho cũng như loài người vậy. Từ loài vật nó cũng thay đổi nhiều kiếp mới tiến hoá lên loài người được, và chính nó cũng do sự tiến-hoá mà biến hình. Cũng có khi loài người làm nên tội ác trong kiếp sanh, mà phải bị luật thiên-khiển trừng phạt, rồi cho đầu thai trở lại làm loài vật.

Cái Bí-Pháp của các nền Đạo-Giáo đã khai mở từ xưa, cũng như Giáo-Lý của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đều dạy cho Môn-đồ về sự tiến-hoá của Bát-Hồn, và về sự luân-hồi chuyển kiếp, hoặc về sự bị giáng cấp của Bát-Hồn và do Luật Thiên điều phân định chí công...

- Xin Ngài giải rõ về sự ảnh-hưởng tốt xấu của sự ăn chay, và ăn thịt đối với Đệ-nhứt xác thân?

- Nói về ảnh-hưởng tốt xấu của sự ăn chay, và nhục thực, thì các tế-bào không phương di hại chi cả. Chỉ có hại cho lục-phủ ngũ-tạng mà thôi, bởi nhục thực thì phần nhiều trong các con vật hay có vi-trùng, nên ăn thịt thì những vi-trùng trộn theo vi-tố mà phá hoại; lại nữa, thịt là chất sanh hơi độc, vì vậy làm cho thân thể hoá ra mệt nhọc, biếng nhác. Đó là cái hại cho thể xác. Còn cái hại cho tinh-thần thì trong thịt đã chứa sẵn các thú chất, do đó, làm cho tinh-thần thường bị mê muội, nhứt là có hại cho đệ lục giác-quan là Thần.

 

20. Những người giải phẫu và giết thú vật để thí nghiệm học hỏi cũng phạm giới cấm sao ?

Không thể nào có thể bàu chữa lỗi mình trong việc hành hạ thú vật có phương pháp. Chúng là những huynh đệ còn non trẻ của chúng ta, dù chúng chưa tiến đến bậc làm người, nhưng chúng sẽ được làm người, sau khi trải qua một số kiếp luân hồi dài hay ngắn.

Dùng thú vật thí nghiệm gây ra sự hung ác thật ghê tởm và thật ra không bao giờ phục vụ cho nhân loại, bởi vì luật nhân quả không thay đổi, và con người gieo cái gì y phải gặt cái đó.

Chúng ta biết rằng bản năng sinh tồn ăn sâu vào lòng mỗi người và mỗi con thú, đặng cho xác thân có thể thành ra dụng cụ để phục vụ lâu dài đời sống bên trong, xác thân do lắm công phu và khổ nhọc mới tạo ra được. Cần phải cứu mạng con người bằng những phương tiện chính đáng. Cứu cánh không thể biện minh cho mọi phương tiện.

Chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng nhiều vị y sĩ và những người cùng chí hướng đã hối tiếc khi giải phẫu thú vật để nghiên cứu. Sự hung ác ấy khuyến khích vài tinh quái mang lớp người giữa xã hội chúng ta. Chắc chắn Luật Nhân Quả sẽ mang đến cho những người giải phẫu sinh thể nhiều sự đau đớn.

Không phải những người giải phẫu sinh thể đều hung ác như nhau. Những con thú thử nghiệm nên được nuôi đầy đủ và ở trong tình trạng hoàn mỹ trước khi giải phẫu. Chúng được dùng thuốc tê và săn sóc kỹ lưỡng cho đến khi chúng hoàn toàn bình phục. Nguyên tắc tuy bất chính tuy nhiên không mang tính cách hung ác đối với thú vật nếu chúng không chịu thiệt hại gì trong thời gian thí nghiệm mà số phần chúng còn được cải thiện.

Họ nên tránh những cực hình ghê tởm đối với những sinh vật không được ai bảo vệ. Đó là điều mà trong thế giới do Thượng Đế tạo ra, họ không có quyền làm. Có vài người cố gắng bào chữa tất cả những sự hung ác đối với thú vật, cho rằng thú vật sinh ra chỉ để phục vụ con người nhưng không hẳn vậy.

Con người nếu tìm hiểu sẽ rất khâm phục cách sinh hoạt, làm tổ, truyền tin của loài ong, kiến, bồ câu đưa thư. Cá heo biết nhảy và xoay vòng một cách ngoạn mục. Khi gặp xác một con voi, đàn voi biết đứng im, lấy vòi cạ vào xác con voi chết như truy điệu đồng loại! Các loài động vật có vú như cá heo, các loài tinh tinh khi cho soi gương đã biết nhận ra chính mình. Ngoài những thú quen thuộc như khỉ, chó, ngựa, voi, vv.. . các nhà xiếc đã huấn luyện thú dữ như cọp, sư tử biểu diễn một cách ngoạn mục.

Kết luận: thú vật có óc thông minh, kỷ luật, sáng tạo và cảm xúc. Vì thế chúng ta hiểu rằng Thú vật sinh ra đây do ý muốn của Đức Thượng Đế. Chúng nó là biểu hiện của những giai đoạn tiến hóa do sự sống của Ngài thâm nhập vào. Chúng ta có quyền sử dụng thú vật với điều kiện là giúp cho sự tiến hóa của chúng. Nhờ tiếp xúc với con người mà chúng sẽ được tiến bộ.

 

21. Con người tưởng rằng phải ăn thịt mới sống được, đó có phải là điều dị đoan độc ác?

Quả nhiên đó là một sự dị đoan, vì có hàng triệu người sống thật khoẻ mạnh mà không cần ăn thịt. Chắc chắn có vài người là nạn nhân của sự di truyền xấu xa và Nghiệp Quả của chính họ, mà quả thật họ không thể bắt xác thân họ tiêu hóa những vật thực tinh khiết hơn, nhưng số người đó rất ít, thật hiếm.

Trong một trăm thân xác chỉ có một số rất nhỏ không thích hợp với việc ăn chay thôi. Nếu sau khi cố gắng sửa đổi một cách đúng mức và sáng suốt cách ăn uống của mình, song vẫn vô hiệu, thì họ phải nhìn nhận đó là Nhân Quả.

Thực phẩm bằng thịt phải kiêng cử, bởi vì giết thú vật là điều ác và thịt cũng đem vào mấy thể của chúng ta những phần tử xấu xa khiến cho chúng trở nên thô trược và còn khích động thú tánh trong mình chúng ta nữa.

Không còn lý do nào để bênh vực cho việc ăn thịt. Sự dinh dưỡng bằng thực vật bảo đảm cho chúng ta một sức khỏe hoàn hảo và tránh được vài thứ bịnh ghê tởm.

Sau cùng chắc chắn người ăn chay có một sức chịu đựng tương đối dẻo dai hơn. Có vài người phản đối rằng dù sao chúng ta cũng phải sát sinh để sống và rốt cuộc những người ăn chay cũng sát sinh vậy. Lập luận này chỉ chứa đựng một phần sự thật hết sức nhỏ nhít. Có thể người ta cho rằng chúng đã giết hại đời sống thực vật, nhưng sự sống đó còn sơ khai hơn nhiều và không có sự nhạy cảm sâu xa như đối với thú vật.

 

22. Giới bất sát sinh theo huyền bí học ?

Lý do căn bản của giới không sát sinh là sự kiện này ngăn trở dòng tiến hóa. Nếu bạn giết chết một người, thật ra bạn không làm hại người ấy trên phương diện hạnh phúc của y. Thường thường y lên một cõi và nơi đó y sẽ hưởng một đại hạnh phúc mà y không hề được biết tại thế gian.

Điều tai hại mà kẻ sát nhân đã gây ra là làm cho y mất những cơ hội để tiến hóa do xác thân y cung cấp. Những cơ hội đó y sẽ tìm lại được trong một xác thân mới, nhưng phải chờ đợi rất lâu mới được đầu thai lại.

Các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu phải tìm cho người ấy một môi trường tiến hóa khác và một lần nữa các Ngài phải lo cho linh hồn đó từ thời kỳ thơ ấu đến tuổi thiếu niên trước khi y tìm lại được cơ hội để tiến bộ ở tuổi trưởng thành. Đó cũng là lý do cho thấy giết một người tội nặng nề hơn giết một con thú rất nhiều.

Con người bị bắt buộc phải tạo lại một Phàm Nhơn hoàn toàn mới mẻ. Còn con thú trở về hồn khóm của nó và tự nơi đó nó đầu thai lại một cách tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, đối với con thú tiến hóa hơn và tượng trưng cho một sự biểu lộ phức tạp hơn thì sự sát sinh gây ra nhiều việc phiền phức cho các Đấng Cao Cả coi về sự tiến hóa.

Chẳng hạn như giết chết một con muỗi, chỉ gây một hậu quả hết sức nhỏ mọn, vì nó nhập vào hồn khóm của nó rồi tái sinh trong một thời gian rất ngắn. Việc xáo trộn do sự hủy diệt các loại côn trùng này, dù cả trăm hoặc là hàng ngàn cũng không có gì đáng kể nếu so với hậu quả của tội giết một con ngựa, một con bò, hoặc một con chó.

Không thể chấp nhận bất cứ một trường hợp giết người nào có thể cho là chính đáng, trừ phi trong tình thế nguy cấp phải bảo vệ sinh mạng mình hoặc sinh mạng kẻ khác. Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng ta có quyền bảo vệ sinh mạng của mình trong trường hợp bị tấn công. Và tôi quả quyết rằng chúng ta có lý do chánh đáng bảo vệ một người bạn hoặc một đứa trẻ, dù phải giết chết kẻ bạo động ấy.

Nguyên tắc này cũng áp dụng đối với tất cả loài thú. Nếu một con thú tấn công bạn, gây nguy hiểm cho tánh mạng hoặc sự an toàn của bạn, tôi tin rằng bạn có quyền giết con thú ấy, nếu cần. Tất cả đều có thể thâu gọn vào câu này: "Đâu là tai hoạ to lớn hơn hết".

Nếu bạn bị muỗi quấy rầy, chúng đã bỏ thức ăn thiên nhiên của chúng để tấn công bạn, truyền nọc độc vào máu huyết bạn và có thể làm hại một công việc quan trọng của bạn, thì việc giết muỗi có thể là một tội ác nhỏ mọn. Nếu bạn có thể ẩn tránh trong mùng, hoặc đuổi chúng đi nơi khác càng hay hơn.

Đối với những loài vật nhỏ bé khác cũng giống như thế. Chúng phải ở đúng chỗ của chúng, chứ không phải sống gần con người. Không những chúng ta cảm thấy đau khổ khi bị chúng xâm nhập, mà còn làm cho kẻ khác bị nhiễm độc. Ví dụ: muỗi gây sốt rét, sốt xuất huyết, chí rận, bò chét, mối, gián, sâu bọ phá hại mùa màng, vv.. Sự hủy diệt vài thứ sinh vật có hại ấy được đề ra không những vì thực phẩm, mà còn là vấn đề bảo vệ sức khỏe, sách vở, tư liệu,... Trong tất cả mấy việc này, tôi tưởng phải nghe theo tiếng gọi lương tri của chúng ta. Dù thế nào, việc giết một con thú để tự vệ chắc chắn khác với việc giết những con thú rất tiến hóa như bò, trừu để thỏa mãn vị giác thấp kém.

Tóm lai: Khi bạn quyết định giết một thú dữ tấn công ta, hay những vi trùng gây bệnh, đó là hành động chính đáng vì thân người quý hơn thú. Còn ai đó muốn giết ta, trong tình trạng bất khả kháng phải tự vệ thì luật pháp đời cũng xem xét hoàn cảnh để giảm tội. Đôi khi giết hại có thể là điều bắt buộc để bảo vệ sinh mạng mình, nhưng hoàn toàn không được xem là điều tốt và oán thù vẫn phải trả nghiệp với nhau. (Theo lời giảng của Đức Giám mục C. W. L. trong Giảng lý DƯỚI CHƠN THẦY)

 

23. Ăn chay là gì? Có mấy cách ?

Chữ “chay” do chữ Hán là “trai” nói trại ra. Trai có nghĩa là trong sạch, thanh tịnh. Ăn chay là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ thực vật như rau củ, ngũ cốc, và các loại nấm. Theo Tây phương, có ba cách ăn chay :

• Ăn chay có uống sữa và ăn trứng (Lacto Ovovegetarian), nhưng không ăn thịt cá, và những loại hải sản khác.

• Ăn chay có uống sữa (Lactovegetarian), nhưng không ăn trứng, thịt cá, và những loại hải sản khác.

• Ăn chay hoàn toàn (Strict Vegetarian / Vegan), không ăn tất cả thực phẩm từ động vật.

Trong tôn giáo Cao Đài, khi nói ăn chay có nghĩa là ăn chay hoàn toàn.

   

25. Nếu chỉ buộc giữ 10 ngày chay, những ngày còn lại có thể phạm giới sát không ?

Giới bất sát sanh chủ yếu là cấm giết người, thứ đến mới là không nên sát hại thú vật. Người học tu phải biết nhìn thú vật là anh em chưa phát triển bằng con người, nhưng sẽ tiến lên thành người theo luật tiến hóa của Thượng đế.

Người tín đồ tuy còn ăn mặn khó tránh khỏi phạm giới sát nhưng cố gắng không giết những con vật lớn như: Voi, gấu, sư tử, cọp,trâu, ngựa, bò, chó, heo, loài cho con bú, các loài linh trưởng v.v.. . là giới thú tiến hóa. Còn những con nhỏ nếu tránh được bao nhiêu quý bấy nhiêu. Nhất là không nên giết hại sinh vật một cách vô lý, giết để thỏa lòng thích giết. Trong khi giữ giới sát, ta nên lưu ý:

1. Không nên để cho ác ý sanh khởi. Giết một con vật lớn vì vô ý hay tự vệ, thì quả báo còn nhẹ hơn là giết một con thú nhỏ với ác ý muốn giết cho vui.

2. Dạy trẻ em giới sát từ nhỏ: Nếu đứa bé gặp chuồn chuồn, bươm bướm chụp bắt rồi ngắt cánh, rứt đầu mà người lớn không rầy la thì lớn hơn chúng sẽ bắn chim. Khi trưởng thành chúng dám đâm heo, giết chó thì sau này, quen với tánh hung bạo, trong cơn giận dữ, chúng có thể giết người không gớm tay. Vậy chúng ta không nên để tự do cho con cái quen giết hại sinh vật. Phụ huynh cũng không nên cho trẻ em chơi game phim bạo lực mà chúng bị ám ảnh và dần dần thấy chém giết nhau là lẽ thường tình.

 

26. Ăn chay có được phép ăn bù vào ngày khác không ?

Hôm nay nhằm ngày ăn chay theo qui định, nhưng vì tiệc tùng với người đời hay vì bạn bè nài ép, nên ăn mặn, rồi qua ngày hôm sau, ăn chay bù trở lại, như thế có được không?

Chúng ta thấy rõ người ấy có tinh thần muốn ăn chay cho đúng các ngày theo luật định, nhưng vì vị nể người quen nên không giữ trai kỳ theo qui định được. Như vậy, người đó đã quá dễ dãi với sự đòi hỏi của xác thân, xem những lời nài ép của bè bạn quan trọng hơn lời Minh thệ giữ gìn Luật Đạo của mình.

Đó là một sai lầm. Nó chứng tỏ lương tâm mình không thắng nổi sự lôi cuốn của dục vọng thể xác. Thể xác thì thúc đẩy mình ăn uống rượu thịt vui say, mình chiều theo nó là mình yếu kém hơn nó, đầu hàng nó. Từ sự thua nhỏ dần dần dẫn tới thua lớn, và vật dục sẽ làm trì trệ bước đường tiến hóa của mình; khiến chúng ta phải bị kẹt lại trong thời kỳ Chuyển thế, không kịp bước vào Nguơn Thánh đức.

 

27. Mười vị Phật kết duyên lành với nhơn sanh vào 10 ngày chay ?

Theo Phật giáo, 10 vị Phật sau đây sẽ kết duyên lành với nhân sanh vào 10 ngày chay trong một tháng âm lịch:

· Mùng 1 : Nhiên Đăng Cổ Phật.
· Mùng 8 : Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.
· Mùng 14: Phổ Hiền Bồ Tát.
· Mùng 15: A-Di-Đà Phật.
· Mùng 18: Quan Thế Âm Bồ Tát.
· Mùng 23: Đại Thế Chí Bồ Tát.
· Mùng 24: Địa Tạng Vương Bồ Tát.
· Mùng 28: Đại Nhật Phật.
· Mùng 29: Dược Vương Bồ Tát.
· Mùng 30: Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

28. Ăn chay trường có thành Tiên, Phật không ?

Là tín đồ của tôn giáo Cao Đài, chúng ta phải giữ năm giới để thể hiện đức từ bi và biết nhìn nhau là anh em như lời dạy của Đức Chí Tôn.

Khi mới nhập môn, nếu vì chưa quen, chưa có thể thực hành đúng lý đặng, nên Hội thánh cho tạm dùng Lục trai, rồi tiến lên Thập trai theo qui định. Ðến khi trình độ đã cao, muốn thọ lãnh bí pháp bắt buộc phải giữ trường trai.

Ăn chay là cốt yếu để nuôi dưỡng lòng từ bi và tinh thần bình đẳng. Vì thế, người đã theo đạo thì không lý gì lại không thực hành đức từ bi trong đời sống của mình từ ý nghĩ, lời nói, cho đến cách ăn uống.

Nếu không có lòng thương xót trước những cảnh giết chóc như thế, thì hạt giống từ bi mỗi ngày mỗi héo khô, cằn cỗi, và công phu tu hành, tụng kinh của chúng ta trở thành vô nghĩa.

Tất cả chúng sanh đều do Đấng tạo hóa sinh thành, đồng thọ một điểm từ khối Đại linh quang, nên tất cả đều là anh em. Nói rằng: “Vật dưỡng nhơn” là một quan niệm rất sai lầm, do sự ích kỷ và vô minh sinh ra.

Tuy nhiên, chúng ta đừng vì ăn trường chay được lâu năm rồi sinh tánh kiêu mạn. Ăn chay là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Ăn mặn nói ngay, làm phải còn hơn ăn chay nói dối, gạt người. Ta nên hiểu là ăn chay không thành Tiên, Phật, nhưng muốn thành Tiên, Phật ta phải ăn chay, vì đó là phương pháp trưỡng dưỡng tâm đối với hết thảy mọi loài.

Trên đường tu học, ngoài ăn chay ta còn phải tu tâm, dưỡng tánh, lập công quả nữa.

Cũng cần lưu ý, ăn chay nhưng đừng chấp vào việc mình ăn chay. Nhiều bạn khi ăn chay rồi nhìn thấy người ăn mặn thì cảm thấy khó chịu, vậy là rơi vào tâm phân biệt rồi. Ăn chay mà tâm không tịnh, nhiều phán xét, phê phán thì không nên.

Sự giác ngộ không liên quan đến chay hay mặn, vẫn có những vị Thánh không ăn chay vì nhiều lí do đặc biệt như vì lòng từ bi sâu kín nào đó mà ở ngoài chúng ta chưa hiểu được. Phê phán người ăn mặn khi mình ăn chay chính là làm ô nhiễm tâm thức chính mình. Phê phán người ăn mặn lại chẳng may trúng vị nào đó đắc đạo nhưng ẩn tướng thị hiện ăn mặn để độ chúng sanh thì tổn hao công đức vô cùng.

Vì thế, đã ăn chay thì tâm cũng phải tịnh. Chay trường chỉ giúp cho thể xác khỏe mạnh, tinh khiết; chơn thần và linh hồn người đó được nhẹ nhàng nơi cõi trung giới sau khi chết. Nếu giết hại thú nhiều, Chơn thần trọng trược bị hồn các con vật vây theo đòi sinh mạng.

Tóm lại, muốn được gần các các Đấng Thiêng liêng, lòng ta phải thật biết yêu thương, tâm ta phải độ lượng, từ bi. Phải có một ý muốn tiềm tàng nhưng mạnh mẽ, mong làm nhẹ bớt gánh nặng sầu khổ của chúng sanh!

Nếu một người chưa sẵn sàng ban rải tất cả những gì mà y có; nếu tự thâm tâm y không cảm thấy thành thực rằng: của cải, tiền bạc, khả năng, tài cán, cùng những kho tàng quý báu về tinh thần chỉ là những thứ mà Đức Từ Bi giao phó cho y quản nhiệm, sử dụng làm sao cho nhẹ bớt khổ đau của nhân loại. Nếu chưa hiểu được như thế thì người đó không thể là một đệ tử cao cấp và sẽ không có đặc ân được đứng trong hàng ngũ THẾ THIÊN HÀNH HÓA.

 

29. Ăn chay thì thanh, ăn mặn thì trược, tại sao ? Vì sao ăn chay thì lòng phải chay ?

Có nhiều nguyên do, chúng ta tạm hiểu như sau:

Về cấp tiến hóa:

Thảo mộc ở cấp tiến hóa thấp hơn động vật, chỉ có Sanh hồn; còn động vật thì ở cấp tiến hóa cao hơn, có được hai phần hồn là: Sanh hồn và Giác hồn. Do đó, loài động vật khi bị giết hại thì đau đớn biết rên la, khi sợ hãi biết chạy trốn.

Về sự sinh sản và di truyền nòi giống:

Loài thảo mộc có nhị đực và nhị cái ở trong cùng một cái hoa hay trên cùng một thân cây, nhờ ong bướm hay gió thổi mà nhị đực rơi vào nhị cái, kết thành trái và hột để di truyền nòi giống. Còn ở loài động vật thì con đực và con cái là hai thân thể khác nhau, chúng có lòng dục nên tìm gặp nhau giao phối, để sanh sản. Khi sanh sản thì máu huyết tiết ra dơ dáy.

Về sự sinh sống:

Loài thảo mộc sống nhờ hấp thu ánh sáng mặt trời và hấp thu các tinh chất của không khí và của đất, nên thảo mộc chứa nhiều sinh tố và khoáng chất. Loài động vật sống nhờ ăn thảo mộc hay ăn thịt lẫn nhau, nên thịt của nó chứa ít sinh tố mà lại có nhiều chất độc hơn. Đó là nói thịt tươi, còn thịt cũ thối thì phát sinh lắm chất độc nữa.

Về tính dẫn điện:

Khi thoát xác, chơn thần của người ăn chay trường thì trong sáng, nhẹ nhàng, bay lên thoát qua lớp không khí dễ dàng; còn chơn thần người ăn mặn thì trọng trược, nếu không có công quả lớn lao sẽ dễ bị sét đánh tiêu tan khi bay lên cao.

Kinh Đệ tứ cửu có câu:

Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,
Bộ Lôi Công giải tán trược quang.

 

30. Nếu thảo mộc có mạng sống, vậy ăn chay cũng sát sanh ?

Thảo mộc nằm trong THỰC VẬT HỒN. Nó chưa có hồn riêng mà còn nằm trong HỒN KHÓM. Nó chỉ có một phần hồn là Sanh hồn và ở cấp tiến hóa thấp hơn thú cầm. Do đó, việc sát hại thảo mộc xem như vô tội, còn vô cớ đốn những cây xếp vào đại mộc lâu năm thì khác!

Thảo mộc và ngũ cốc là hai thứ sanh vật mà Thượng Đế dành để nuôi sống con người, nên cấu tạo cơ thể của con người không có móng vuốt và không có răng bén nhọn chơm chởm. Vậy con người ăn thảo mộc là thuận Thiên ý.

Thảo mộc tấn hóa mãi mới bước sang thú cầm. Thú cầm dần dần tấn hóa ngàn kiếp, vạn kiếp trăm đắng ngàn cay xả thân cực nhọc giúp đời mới tiến hóa đến loài người.

Ăn thịt động vật là do dục vọng của con người bày đặt thêm ra, trái với Thiên ý, nên nó trì kéo con người chậm bước tiến hóa. Việc sát hại sanh mạng của con thú để làm thức ăn nuôi sống thân ta tạo thành một oan nghiệt.

Hồn con thú ấy chờ khi ta chết, sẽ đến đòi mạng và kéo níu chơn thần chúng ta không cho siêu thăng. Còn việc sát hại loài thảo mộc để làm thức ăn nuôi sống thân ta, thì ta sẽ lấy xác thân ta khi chết để làm thức ăn cho thảo mộc, sự vay trả như thế là đồng đều, nên xem như không tạo ra oan nghiệt.

Nên biết rằng những con thú mới được làm người thì hạng người đó còn khờ khạo, hung dữ, độc ác (vì ở kiếp thú nó bị giết thê thảm) nhưng dần dần sau mấy chục, mấy trăm kiếp học hỏi được nhiều, kinh nghiệm về luật nhân quả sẽ giúp những linh hồn này tiến hóa khôn ngoan và sáng suốt hơn.

 

31. Vì sao nói ăn chay là luyện bi, trí, dũng ?

- Loài vật nào cũng biết ham sống sợ chết như người, biết chỗ nguy hiểm hay sắp bão lụt thì tránh né hay trốn chạy để bảo tồn sự sống. Khi sắp bị giết chết, chúng biết sợ sệt và rên la đau đớn. Hơn thế nữa, loài vật cũng có tình cốt nhục, biết khổ đau khi người thân sắp chết.

Thể hiện rõ qua câu chuyện về Hứa Chơn Quân lúc còn trẻ, ưa đi săn bắn. Một hôm ông bắn trúng con nai nhỏ, nai mẹ vội chạy đến liếm vết thương của nai con, thấy con mình không sống được, nai mẹ cũng ngã lăn ra chết. Chơn Quân lấy làm lạ, mổ bụng nai mẹ ra xem, thấy ruột đứt từng đoạn. Biết nai mẹ vì thương con đến đứt ruột mà chết đi, ông rất hối hận, tự trách mình rồi bẻ cung tên, bỏ nhà vào núi tu hành.

Không giết hại chúng nó để ăn thịt là thể hiện lòng thương yêu, đức tánh từ bi. Do vậy, việc ăn chay là để tập cho tánh TỪ BI ngày càng phát triển.

- Khi dạy về BÁT HỒN, Đức Chí tôn cho chúng ta biết rằng, loài thú vật cũng được Thượng Đế ban cho sự sống, nó chỉ là đàn em kém tiến hóa hơn con người mà thôi. Sau nhiều lần chuyển kiếp, chúng nó cũng sẽ tiến hóa lên thành người như chúng ta. Do đó, không giết hại chúng là để phát triển đức tánh sáng suốt trong con người chúng ta, tức là phát triển thể TRÍ.

- Trước sự hấp dẫn của các món rượu thịt thơm ngon, lời rủ rê của bạn bè, ta nhớ đến lời dạy và lời minh thệ để can đảm từ khước, tức là ta có hùng tâm dũng chí. Như vậy, ta có được cái DŨNG.

Vậy, sự ăn chay là một trong các phương cách phát triển ba đức tánh: BI, TRÍ, DŨNG trong con người chúng ta. Khi ba đức tánh ấy phát triển cao tột, con người mới đắc thành Tiên, Phật.

 

32. Vì sao nói ăn chay để tránh quả báo, tránh chiến tranh ?

Việc giết hại mạng sống của con vật tạo thành một ác nghiệp. Sau nầy, hồn của con vật ấy sẽ đòi chúng ta phải trả nợ sát mạng đó và theo luật công bình thiêng liêng, chúng ta phải luân hồi tái kiếp để đền trả mối nợ oan nghiệt ấy. Phật dạy: "Hễ giết một mạng thì phải trả một mạng, tâm giết hại không dứt thì không thể nào ra khỏi trần lao được”.

Nếu mọi người trên trái đất này đều ăn chay thì con người sẽ giảm bớt sự tham lam và sân si. Một nhà bác học đã nói: - Muốn thế giới hòa bình, trong bữa ăn của con người phải không có thịt, cá... Đây là lời nói mang tính nhân văn cao, không khác với câu của cổ nhân:

Nhứt thế chúng sanh vô sát nghiệp,
hà sầu thế giới động binh đao.

Nghĩa là:

Nếu tất cả mọi người và thú vật không sát hại lẫn nhau,
thì sợ gì thế giới có chiến tranh.

Có chiến tranh là do con người không nuôi dưỡng lòng từ bi. Ăn chay là một trong những phương pháp nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Ngoài ra, chúng ta nhìn cây cối, sông nước, bầu không khí để thấy rằng cây cối, sông nước, địa cầu cũng cần phải được bảo vệ, vì tất cả đều có sự sống.

KHÔNG SÁT SANH là một đức rất lớn. Không có tình thương thì không có hạnh phúc. Chúng ta phải biết rằng chiến tranh chỉ có thể giảm bớt khi tâm từ của chúng ta phát triển. Sát sinh là nhân, chiến tranh là quả. Ăn chay để tâm từ bi và tâm bất hại phát triển trong lòng từ trẻ em đến người lớn, đó là một trong những phương pháp hay nhất để mang lại hoà bình. Không nỡ giết thú vật thì sẽ không dám sát hại người.

 

33. Có người ăn chay mà hung dữ, ác quá ! Tôi không cần ăn chay, miễn biết làm lành lánh dữ là đủ rồi ?

Đâu phải vì ăn chay mà họ trở nên hung dữ và thâm độc. Chúng ta nên nghĩ rằng : Nếu họ không ăn chay thì họ còn hung dữ và thâm độc hơn gấp bội. Nhờ ăn chay mà họ đã bớt tánh hung dữ nhiều, họ có thể là người mới tập tễnh bước vào đường tu, hoặc là kẻ giả tu không chừng.

Nhưng ta so sánh với họ làm gì! So sánh với người kém hơn thì có ích lợi gì cho sự tiến hóa của ta, của linh hồn ta hay chỉ để thỏa mãn tánh ích kỷ, cống cao ngã mạn của ta? Chúng ta muốn hay không muốn tiến hóa cao hơn nữa? Tại sao chúng ta không nhìn lên các bậc chơn tu có đầy đủ đức hạnh? Chúng ta cần phải học hỏi và bắt chước các vị ấy thì chúng ta mới tiến hóa nhanh được. Biết làm lành, lánh dữ là yếu tố căn bản trên đường tu; nếu muốn tiến xa hơn, còn những nấc thang khác mà chúng ta phải vượt qua.

 

34. Vì sao ăn chay thì lòng phải chay?

Chay, chữ Hán là “trai” nghĩa là trong sạch, lòng chay là giữ lòng trong sạch. Đó là lòng biết quí trọng đạo đức, bác ái và công bình. Nếu ăn chay mà lòng không chay, tức là không biết ý nghĩa của việc ăn chay, hay biết mà không tin tưởng, thì không khác chi người không tiền mua cá thịt, đành phải ăn tương rau dưa muối vậy thôi, đâu có ích lợi gì cho đường đạo đức! Còn nếu trường hợp bất khả kháng như sống nơi băng giá, hoang đảo phải ăn cá thịt để sinh tồn thì cầu nguyện trước khi ăn.

Tâm luôn là cái quan trọng nhất trên đường tu: “Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi”.

 

35. Nếu mọi người đều ăn chay, thì thú vật sẽ tràn ngập trên địa cầu, đâu đủ chỗ để sống ?

Nếu con người ăn chay thì xem như chúng ta đã thực hiện được điều thứ nhất trong ngũ giới và tránh việc sát sinh để cung ứng thức ăn hàng ngày cho chúng ta.

Còn sợ người và thú lúc đó không đủ đất sống ư? Theo luật sinh tồn, con thú nào mạnh, khôn hơn sẽ tồn tại; con yếu sẽ bị diệt mà không cần đến sự can thiệp của loài người. Rồi còn thiên tai, dịch bệnh nữa! Luật trời sẽ giải quyết tất cả.

 

36. Ăn chay có tốt cho sức khỏe không ?

Thực ra, muốn có sức khỏe tốt, cần nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố ăn cho lành và uống cho sạch là hai yếu tố cơ bản.

1.Cần uống nước cho đủ (1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày; kể luôn cả canh và sữa. Nước giúp đưa chất dinh dưỡng khắp cơ thể, rửa sạch chất độc và kích hoạt miễn dịch.Tránh các loại giải khát có cồn, gaz CO2 và đường. Hãy uống nước lọc hoặc nước tinh khiết để tránh chất độc và kim loại nặng trong nước thường.Trà xanh, trà tươi cũng được chọn là tốt cho sức khỏe; cà phê giúp tỉnh táo nhưng nên giới hạn ít thôi vì tính kích thích của nó.

2. Ăn lành là ưu tiên chọn những thực phẩm thực vật tươi, rau trái không tưới nhiều phân bón, thuốc trừ sâu; gạo còn nguyên cám.

- THÀNH PHẦN CHẤT ĐẠM: đạm thực vật dễ tiêu hóa, dễ hấp thu. Những thực phẩm có chất đạm gồm: Đậu nành, đậu phộng (lạc), đậu đỏ, mè... Nhưng thức ăn thực vật giàu đạm thường thiếu một số axit amin thiết yếu như lysine (gạo, bắp, lúa mỳ), threonine (gạo), tryptophan (bắp) và methionine (các loại đậu. Tình trạng mất cân đối các acid amin sẽ không xảy ra nếu chúng ta biết cách phối hợp các loại đạm thực vật với nhau, ví dụ như gạo lứt với muối mè, cơm với các loại đậu...hoặc dùng thêm sữa và các chế phẩm từ sữa như yaourt, fromage... trong khẩu phần ăn.

- LƯỢNG RAU XANH, QUẢ TƯƠI cung cấp đầy đủ lượng sinh tố và chất xơ cần thiết hàng ngày. Xơ giúp hệ tiêu hóa tống bớt chất dầu mỡ. Các vitamin tan trong nước như C và B thường không thiếu nếu ăn rau cải tươi có vắt chanh, cam. Vitamin A thường cũng không thiếu do có betacaroten từ các loại rau quả củ màu vàng đậm hay xanh đậm, sau khi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A. Các vitamin tan trong dầu khác như K, E, D thường cũng ít khi thiếu hụt. Rau trái có màu đậm sáng là các thức ăn kháng oxit hóa. Cần lưu ý đến là các chất khoáng vi lượng như chất sắt, chất kẽm...

- SẮT là một thành phần của huyết cầu tố và các men cần cho sự chuyển hóa thực phẩm. Tránh thiếu sắt bằng cách ăn nhiều loại thực vật như tàu hủ (đậu phụ), tàu hủ ky, các loại hạt,... Ăn đa dạng các loại thực phẩm, đặc biệt là các thực phẩm giàu sắt và axit folic như các loại rau lá xanh.

- Cung cấp VITAMIN C cho cơ thể: ăn các loại quả giàu vitamin C như cam, chanh, hồng, sơ ri…giúp hấp thụ chất sắt tốt hơn.

- KẼM cần thiết trong các men để chuyển hóa chất đạm, cho cơ quan sinh dục, cho sự miễn dịch. Thiếu kẽm có thể xảy ra ở người ăn chay thuần túy do kẽm trong thức ăn thực vật bị giảm hấp thu bởi acid phytic, oxalates, chất xơ, và đạm đậu nành.

- Vitamin D giúp cơ thể hấp thụ canxi, được cơ thể tạo ra khi da tiếp xúc với ánh nắng. Người ăn chay cần thực phẩm có bổ sung vitamin D hoặc phơi nắng, tiếp xúc với ánh nắng độ 15 đến 30 phút mỗi ngày.

- VITAMIN B12 cần thiết cho sự cấu tạo hồng cầu và cho việc hoàn tất các chức năng của hệ thần kinh. Trong thực vật không có loại vitamin B12 nào nên người ăn chay cần uống bổ sung vitamin này.

Khẩu phần lý tưởng cho người ăn chay gồm có:

Ngũ cốc: 50%
Rau và trái cây: 30%
Các loại đạm thực phẩm như tàu hủ, nấm, đậu: 20%.

Thực phẩm ăn chay thường có năng lượng thấp, dễ tiêu nên rất mau đói khi mới tập ăn chay. Nếu bữa ăn chay quá đơn điệu, chỉ cơm với rau cải luộc chấm tương, chao hoặc muối tiêu, bún nước tương thì nguy cơ suy dinh dưỡng là rất cao. Phải chọn mè, đậu nành và các chế phẩm, sữa, yaour, phô mai, các loại đậu có mặt trong bữa ăn. Cùng với khoai, rau cải, trái cây thực đơn chay sẽ phong phú, đa dạng và tốt cho sức khỏe.

Còn muốn đầu óc minh mẫn để làm việc hiệu quả ư? Việc này tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ngủ có đủ giấc? có biết cách giải stress không? Dĩ nhiên, phải hạn chế rượu bia để đầu đừng bị váng vất, đừng ăn quá no vào buổi tối; sáng sớm phải tập thể dục hít thở không khí trong lành đúng cách.

Nếu có bịnh hoặc lớn tuổi, sẽ có chế độ ăn kiêng riêng. Thực phẩm ăn chay thường có năng lượng thấp nên ăn chay rất mau đói. Do đó, ăn chay trường mà không biết đa dạng các loại thức ăn sẽ rất dễ bị thiếu dinh dưỡng gây ra gầy ốm và suy giảm sức đề kháng khiến cơ thể dễ mắc bệnh nhiễm trùng.

Khi nghiên cứu khẩu phần ăn của cư dân vùng Địa Trung Hải các nhà khoa học đều thừa nhận rằng: họ ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc, các loại hạt giàu axit béo Omega-3, Omega-6. Nhờ vậy cư dân ở đây có tuổi thọ cao nhất thế giới lại rất ít người mắc bệnh tim mạch.

Có thật là đạm của các loại đậu thay thế được thịt không?

ĐẬU PHỘNG là loại đậu chứa 20-30% protein, gồm những chất đạm dễ tiêu hóa trong đó có các axit amin quan trọng như methionin, tryptophan, arginine và axit amino ahydroxy butyric.

Trong ĐẬU NÀNH có các thành phần hóa học sau: Protein (40%), lipid (12-25%), glucid (10-15%); có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Đậu nành có đủ các axit amin cơ bản isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Ngoài ra, đậu nành được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các amino axit không thể thay thế cần thiết cho cơ thể...

Do vậy các nhà khoa học gọi đậu nành là "Cứu cánh của nhân loại". Theo cơ quan quản lý thưc phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), sử dụng 25 g đạm từ đậu nành mỗi ngày và giảm chất béo khác, sẽ giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch.

Dầu Ðậu nành chứa khoảng 14% chất béo bão hòa (saturated fat), 59% chất béo không bão hòa đa tính (polyunsaturated fat) và 23% chất béo không bão hòa đơn tính (monounsaturated fat. Chúng ta cần một hàm lượng nhỏ nhưng cần thiết loại chất béo không bão hòa đa tính. Chất béo không bão hòa đa tính không làm gia tăng lượng cholesterol như là loại bão hòa.

Có một điều rất thích thú là trong số lượng chất béo không bão hòa đa tính lại có chứa khoảng 8 phần trăm loại linolenic acid, tức là loại omega-3 fatty acid. Omega-3 fatty acids là loại dầu thường tìm thấy nơi dầu cá và có khả năng giảm thiểu sự nguy hiểm của bệnh nhồi máu cơ tim và có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Omega-3 fatty acids rất hiếm có trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật ngoại trừ đậu nành. Các nhà khoa học cho rằng omega-3 fatty acid có trong dầu đậu nành tốt hơn loại có trong dầu cá vì omega-3 fatty acid dầu cá có phản ứng phụ là làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, bất bình thường, tức sản sinh ra các chất dễ gây nên chứng ung thư và làm xáo trộn chất insulin gây ra chứng tiểu đường.

Một điều cần nói thêm ở đây là, mặc dầu chất béo từ thực vật có chứa loại chất béo không bão hòa (unsaturated fat), nhưng khi chiên nóng hay qua các tiến trình làm bánh nướng lại thường làm giảm đến 75 phần trăm omega-3 fatty acid và thêm vào đó là biến đổi thành loại dầu không tốt, có tên gọi là trans fatty acid. Trans fatty acid có đặc tính giống như chất dầu béo bão hòa (saturated fat), có khuynh hướng gia tăng chất cholesterol xấu LDL và giảm lượng cholesterol tốt HDL trong máu, do đó gia tăng mức nguy hiểm về bệnh tim mạch. Vì thế, cần hạn chế thức ăn chiên.

Việc ăn thiếu chất đạm cũng có thể gây ra biếng ăn, nhão cơ, dễ nhiễm trùng. Đặc biệt ở trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ mang thai và cho con bú, bệnh nhân trong giai đoạn cần dinh dưỡng phục hồi bệnh là đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng cao, việc ăn uống thiếu chất sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và sức khỏe. Ngược lại, nếu bữa ăn chay quá nhiều bột, đường và dầu béo thì năng lượng cao có thể dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì.

Ăn chay đúng cách là ăn đủ 3 bữa chính và 2 bữa phụ để cung cấp đủ năng lượng. Các món ăn trong bữa chính phải đủ 4 nhóm chất: bột đường, đạm (đậu hũ, tàu hũ, sữa đậu nành, đậu phộng, muối mè, nấm, đậu que, đậu đũa, đậu hòa lan, đậu xanh, rong biển…), dầu và rau trái. Các bữa ăn cần đa dạng và thay đổi món thường xuyên. Bữa ăn luôn có rau trái để có nguồn vitamin C giúp hấp thu chất sắt trong thức ăn.

Người ăn chay trường hoặc người có nhu cầu dinh dưỡng cao có thể uống thuốc bổ sung sắt, vitamin theo chỉ định của bác sĩ.

 

37. Ăn chay có ngừa được bệnh tật ?

Qua các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe, các nhà chuyên môn đã đưa ra kết luận: ăn chay đúng cách tốt cho sức khỏe và phòng ngừa được một số bệnh.

Người ăn chay trường nên lưu ý: ăn chay nhưng ăn nhiều thức ăn được sản xuất công nghiệp, ăn quá nhiều chất bột đường, hoặc ăn nhiều thức ăn chiên rán ở nhiệt độ cao (dù là với dầu thực vật) đều là những yếu tố dễ gây bệnh. Nói chung, dù ăn chay hay ăn mặn, điều quan trọng là phải năng vận động thân thể và ăn nhiều thức ăn thô.

Biết cách ăn chay sẽ rất tốt cho sức khỏe: ngũ cốc + mè + rau củ có màu cam đỏ, xanh đậm + trái cây + sữa, phô mai. Dầu ăn chọn loại không chứa chất béo bão hòa, không cholesterol và ăn đồ chiên ít thôi. Muối và đường dùng càng ít càng tốt. Các loại hạt, rong biển và rau quả có nhiều chất xơ và cả những vi chất cần thiết khác giúp bảo đảm các chức năng giải độc, chống lão hoá và tăng cường sức đề kháng.

Tóm lại, việc vận động thân thể, uống đủ nước, cùng với chế độ ăn chay đúng cách sẽ giúp sức khỏe chúng ta được nâng cao.

"Bác sĩ của tương lai sẽ không cho thuốc, nhưng sẽ thúc đẩy bệnh nhân quan tâm đến con người, cách ăn uống và nguyên nhân cũng như cách ngăn ngừa bệnh tật." (The doctor of the future will give no medication, but will interest his patients in the care of human frame, diet and in the cause and prevention of disease. - Thomas A. Edison)

 

A. Ngừa bệnh ung thư:

Thịt chứa nhiều chất gây ung thư. Ngược lại, một nghiên cứu của các khoa học gia Nhật Bản cho biết rằng các sản phẩm đậu nành bao gồm đậu hũ, sữa, miso (soy paste), tương và protein, đều có tác dụng ngăn cản không cho lập thành hóa chất nitrits, tức chất hóa học có thể kiến tạo hay kích thích mầm ung thư.

Miso, một loại thức ăn phổ thông dưới dạng lên men của Nhật đã bảo vệ cơ thể khỏi bị hư hoại của tia phóng xạ (radiation. Trong nguồn chất béo lành mạnh, trái bơ chứa một số thành phần chống ung thư, nhất là ung thư gan. Cà rốt cũng rất giàu beta-carotene, ngoài ra, trong cà rốt còn chứa chất chống ung thư gọi là falcarinol.

Theo Viện Khoa học Nông nghiệp Đan Mạch, khi các tế bào ung thư tiếp xúc với falcarinol thì những tế bào này sẽ phát triển chậm hơn, do đó làm chậm lại sự lây lan, tiến triển của ung thư. Tuy nhiên, cà rốt nấu chín sẽ làm giảm các chất chống oxy hóa, nên các chuyên gia khuyên rằng nên ăn cà rốt sống để nhận được lợi ích đầy đủ hơn. Nên thêm vào chế độ ăn uống một số loại gia vị tốt như ớt, tỏi, gừng, bột càri. Chất cay trong ớt có thể giúp trung hòa nitrosamine là chất gây ung thư cực mạnh.

Tháp thực phẩm tốt cho sức khỏe

 

B. Giảm nguy cơ mắc các bệnh “hiện đại hóa” như tim mạch, tai biến mạch máu não:

Chất béo và cholesterol là hai yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch và ung thư. Nếu ăn nhiều thịt, khi tiêu hóa cơ thể sẽ tạo ra chất homocystein làm cho thành mạch dễ bị tổn thương, tạo điều kiện cho cholesterol hình thành xơ mỡ động mạch.

Người ta nhận thấy lượng homocystein càng cao càng dễ bị bệnh mạch vành gây nhồi máu cơ tim và hẹp động mạch cảnh dễ gây thiếu máu não, hoặc tai biến mạch máu não. Bệnh tim mạch được coi là “kẻ giết người số 1" và ung thư là “kẻ giết người số 2". Nghiên cứu cho thấy chế độ ăn chay giúp giảm 32% nguy cơ nhồi máu tim. (vegetarianism can reduce the risk of heart disease by 32%.)

 

C. Bệnh gút (thống phong):

Nam giới trung niên thường xuyên dùng bia rượu có nguy cơ cao mắc bệnh gút. Rượu, bia, đạm động vật trong quá trình chuyển hóa làm tăng acid uric, lắng đọng urat tại các khớp, gây đau nhức. Bệnh gút tiến triển âm thầm, giai đoạn đầu muốn phát hiện chỉ nhờ vào xét nghiệm máu (nồng độ acid uric tăng).

Triệu chứng thường gặp đầu tiên là sau những tiệc rượu hậu hĩ, ngón cái sưng lên đau nhức. Sau đó, cơn đau xuất hiện ở các khớp mắt cá chân, bàn chân, đầu gối... Nếu không chữa trị, sẽ tổn thương khớp, ảnh hưởng tới khả năng di chuyển, vận động. Giai đoạn cuối, bệnh nhân bị nhiều biến chứng ở thận, suy kiệt dần, có thể dẫn đến tử vong.

Bệnh nhân mắc bệnh gút thường được bác sĩ khuyên không uống rượu, bia, trà, cà phê, ớt, đạm động vật, nội tạng, hải sản, nếu bệnh nhân chuyển sang ăn chay, ngưng hẳn bia rượu, sẽ thấy cơn đau thưa dần.

 

D. Ăn chay ít bị suy thận:

Ăn thịt đến một lượng nào đó thì trong ruột diễn ra một quá trình thối rữa, vì ruột dài thức ăn nằm lại lâu, trong phân có chứa những độc tố.

Một bác sĩ người Mỹ đã phân tích nước tiểu người ăn thịt và ăn chay và nhận thấy rằng so với thận của người ăn chay thận của người ăn thịt phải làm việc vất vả gấp 3 lần để loại bỏ những độc chất phức hợp trong thịt. Khi con người còn trẻ, họ thường có thể chịu đựng được gánh nặng bất thường này. Nhưng khi lớn tuổi, thận nhanh chóng “suy” đi và bị bệnh là kết quả hiển nhiên.

 

E. Mỡ máu cao:

Các loại thịt có nhiều mỡ. Mỡ máu cao thực chất là bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu (mỡ. Bệnh không chỉ gặp ở người thừa cân, cao tuổi mà thực tế ngay cả người gầy, trẻ tuổi cũng có nguy cơ mắc máu nhiễm mỡ rất cao. Vậy nguyên nhân gây bệnh là gì?

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nguyên nhân máu nhiễm mỡ chủ yếu do ăn uống không điều độ, ăn nhiều đạm động vật, chất béo bão hòa, nhiều đường bột, ăn ít hoa quả, lười vận động. Ngoài ra, quá trình học tập căng thẳng, làm việc áp lực cao không có chế độ nghỉ ngơi hợp lý sẽ gây căng thẳng, dẫn đến rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể; mỡ tích tụ nhưng không được chuyển hóa thành năng lượng về lâu dài sẽ dẫn đến các bệnh về tim mạch, mỡ máu.

Với người gầy, suy dinh dưỡng, do cơ thể thiếu một số chất cần thiết để thanh lọc bớt mỡ, cộng với lượng đường trong máu thấp khiến cơ thể tự điều chỉnh tăng hấp thu mỡ để phân giải thành năng lượng. Nếu lười vận động, mỡ sẽ tích tụ mà không được chuyển hóa, axit béo đi vào máu nhiều, vượt quá mức cho phép sẽ gây ra mỡ máu.

 

F. Yếu tố nguy cơ của loãng xương và gãy xương:

Sức khỏe của xương được phản ảnh qua mật độ chất khoáng trong xương (viết tắt là MĐX) và tần số gãy xương. Gãy cổ xương đùi là một hệ quả nguy hiểm nhất của loãng xương, vì bệnh nhân gặp nhiều biến chứng. Nguy cơ gãy cổ xương đùi ở người ăn chay tương đương hoặc thấp hơn so với người ăn mặn.

Thật vậy, một phân tích trên 34 nước trên thế giới cho thấy những nước có lượng tiêu thụ đạm động vật nhiều cũng là những nước có tỉ lệ gãy cổ xương đùi cao hơn. Đứng trên phương diện sinh học, ảnh hưởng tiêu cực của đạm động vật đến xương là điều có thể hiểu được.

Sức khỏe của xương tùy thuộc vào sự cân bằng giữa acid và baz, tất cả các thức ăn phải được chuyển hóa qua thận dưới dạng acid hoặc baz. Khi ăn nhiều chất đạm động vật, cơ thể hấp thu nhiều acid hơn baz. Tăng hàm lượng acid cũng có nghĩa là máu và các mô trong cơ thể trở nên “chua” hơn, và để dung hòa tình trạng này, hệ thống nội tiết phải huy động calcium để đóng vai trò chất baz. Vì phần lớn calcium xuất phát từ xương, cho nên khi cơ thể huy động calcium cũng có nghĩa là giảm chất khoáng trong xương, dẫn đến hệ quả giảm sức mạnh của xương và làm cho xương dễ bị gãy.

Loãng xương (osteoporosis) là hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng của một đơn vị thể tích, là hậu quả của việc suy giảm các khung protein và lượng calci gắn với các khung này.

 

G. Vai trò của calci trong cơ thể:

Calci là nguyên tố hoạt động nhất trong cơ thể con người, chiếm 1,5-2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tồn tại trong xương, răng, móng, chỉ có 1% tồn tại trong máu, tế bào và ngoại bào. Trong cơ thể, calci đóng vai trò truyền dẫn thông tin, tham gia vào hầu hết các hoạt động của cơ thể và của tế bào. Nó tồn tại ở hai mức nồng độ theo tỷ lệ ổn định: nồng độ calci trong xương/ nồng độ calci trong máu bằng 10.000/1. Nồng độ calci trong máu của người lớn có sức khỏe bình thường là 9-11mg/100ml, nếu giảm quá 7mg/100ml sẽ bị chuột rút, chân tay co giật, ngược lại nếu tăng quá 13mg/100ml thì sẽ bị loạn nhịp tim, khi cơ thể thiếu calci, hệ thống tự điều chỉnh sẽ điều tiết để duy trì sự ổn định của nồng độ calci máu.

Hormon tuyến giáp còn có vai trò chuyển lượng calci dư thừa trong máu vào các tổ chức khác để làm hạ nồng độ calci máu. Nếu calci chuyển vào tổ chức gân dây chằng tạo nên các gai xương, mỏ xương; nếu chuyển vào đường tiết niệu, mật gây ra sỏi; nếu chuyển vào thành mạch gây xơ vữa động mạch; chuyển vào tế bào thần kinh gây lão hóa…

 

H. Vitamin D

Có hai loại: loại tổng hợp (ergocalciferol - D2) và loại tự nhiên (cholecalciferol - D3).

Riêng về xương, các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy: ăn chay không có tác hại gì đến loãng xương. Kết quả của nghiên cứu này mới được công bố trên tập san European Journal of Clinical Nutrition, dưới tựa đề là “Vegetarianism, bone loss, fracture and vitamin D: a longitudinal study in Asian vegans and non-vegans”, kết quả nghiên cứu này có thể tóm lược như sau:

- Tỉ lệ mật độ xương suy giảm trong nhóm ăn mặn là 1.9%, so với nhóm ăn chay là 0.9%. Nói cách khác, nhóm ăn chay ít bị mất xương hơn nhóm ăn mặn. Tỉ lệ gãy xương đốt sống trong nhóm ăn mặn là 5.4% và nhóm ăn chay là 5.7%. Không có khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, phụ nữ sau mãn kinh sẽ qua một giai đoạn mất xương theo tuổi. Tuổi càng cao, tỉ lệ mất xương càng nặng. Mất xương có thể dẫn đến gia tăng nguy cơ gãy xương.

Xương chịu sự tác động của hai loại tế bào là tạo xương và hủy xương. Hai loại tế bào này khi vận hành trong qui trình chu chuyển xương tiết ra một số protein có thể đo được từ máu, và các protein này có tên là marker chu chuyển xương. Kết quả cho thấy tất cả các marker chu chuyển xương đều không khác nhau giữa nhóm ăn mặn và ăn chay. Các chỉ số về lipid cũng không khác nhau giữa hai nhóm.

- Trong nhóm ăn chay, 73% thiếu vitamin D, cao hơn nhóm ăn mặn (46%. Nói cách khác, gần 3/4 người ăn chay thiếu vitamin D! Thiếu vitamin D có liên quan đến một loạt bệnh lý như loãng xương, tiểu đường, ung thư, tim mạch .. .

Những người ăn chay trường nên xét nghiệm để biết nồng độ vitamin D và nên chú ý đến chế độ ăn uống sao cho đầy đủ calcium. Lượng calcium họ ăn uống hàng ngày chỉ 300 – 400 mg/ngày, và đó là một liều lượng rất thấp, vì theo khuyến cáo chung, họ cần ăn uống sao cho có 1000 mg calcium mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe cho xương.

Nếu thiếu vitamin D thì cũng nên cố gắng tiêu ra 10-15 phút mỗi ngày phơi nắng để có đủ nồng độ vitamin D. Nếu phơi nắng không tiện thì cần tư vấn bác sĩ để biết thêm chi tiết bổ sung vitamin D.

 

I. Bệnh ALZHEIMER’S:

Bác sĩ Nguyễn Thị Nhuận ở Hoa kỳ đã thuyết trình về đề tài Thức Ăn và Bệnh Alzheimer's, theo lời bác sĩ Nhuận, tỉ lệ dân chúng vướng phải căn bệnh này là 50% khi tuổi tác ở mức 85 trở lên. Nói cách khác, tuổi càng cao, người ta càng dễ bị lẫn trí nhớ, hay quên. Trong cơn kích động, bịnh nhân không nhận biết người thân và chính bản thân mình.

Thuyết trình viên đã chỉ dẫn cách thức giúp người nghe ngăn chận bệnh này bằng cách vận động và ăn uống đúng cách. Mỗi ngày nếu người ta chịu tập thể dục khoảng 40 phút với tốc độ nhanh, dưỡng khí nhờ thế sẽ được chuyển lên não bộ nhiều hơn do hậu quả của tim đập mạnh. Kết quả, người ta sẽ tránh được bệnh lãng trí.

Về thực phẩm, thuyết trình viên đã đề cập về một số các chất được khám phá ra trong não bộ, có thể là nguyên nhân gây ra bệnh lãng trí. Đó là:

- Chất béo bão hòa (saturated fat) trong thịt, sữa, ice cream, cheese; transfat có trong bánh ngọt.

- Các kim loại như sắt đồng, nhôm (xuất phát từ chảo gang có nhiều chất sắt, ống nước bằng đồng, nồi nhôm. Để ngăn ngừa bệnh này, mọi người nên dùng nồi stainless steel.

- Nên ăn các loại hạt như almond, walnut, mè, flaxseed, pinenut, blueberries, nho (antioxidant), rau lá xanh chứa nhiều chất sắt, các loại đậu bean, B12 và khoai lang.

- Riêng món đậu hũ, bác sĩ Nhuận đề nghị người ta nên dùng loại đậu hũ mềm, vì loại này chứa ít thạch cao; tránh các loại thực phẩm có chưa hàn the.

 

38. Phương pháp tẩy trược cơ thể ?

Theo bác sĩ ANNIE BESANT, Nguyên Chánh Hội trưởng Hội Thông Thiên Học Thế giới, mọi bộ phận của cơ thể, các thần kinh hệ được cấu tạo từ tế bào vốn là các vật thể nhất định nho nhỏ có bức vách bao xung quanh, bên trong có chứa một số chất mà ta thấy được dưới kính hiển vi, các tế bào đó thay đổi theo các chức năng khác nhau.

Đến lượt các tế bào này được cấu tạo từ những phân tử nho nhỏ và những phân tử này lại được cấu tạo từ những nguyên tử - nguyên tử của nhà hóa học là một hạt tối hậu không thể phân chia được của một nguyên tố hóa học. Những nguyên tử hóa học này tổ hợp với nhau theo vô số cách để tạo ra các chất khí, chất lỏng và chất đặc của xác phàm.

Mỗi nguyên tử hóa học cũng là một sự vật sống động có thể sống cuộc đời độc lập và mỗi tổ hợp của các nguyên tử đó thành ra một thực thể phức tạp hơn cũng lại là một sự vật sống động; mỗi tế bào cũng có sự sống của riêng mình và tất cả các nguyên tử hóa học, phân tử và tế bào này tổ hợp lại với nhau thành ra một tổng thể có tổ chức tức là một cơ thể được dùng làm hiện thể có một dạng tâm thức cao siêu hơn so với bất kỳ tâm thức nào mà các tế bào, phân tử và nguyên tử biết tới trong sinh hoạt riêng rẽ của mình.

Thế mà các hạt hợp thành những cơ thể này đều thường xuyên xuất nhập, các hạt đó là những khối tập hợp các nguyên tử hóa học nhỏ xíu đến nỗi mắt phàm không thấy được mặc dù nhiều khối tập hợp đó lại nhìn thấy được qua kính hiển vi. Nếu ta nhỏ một chút máu rồi quan sát nó dưới kính hiển vi thì chúng ta thấy trong đó có vận động một số vật thể sống động tức là bạch huyết cầu và hồng huyết cầu; bạch huyết cầu có cấu trúc và hoạt động gần giống như những con a-míp thông thường; ta thấy có những con vi trùng liên quan tới nhiều bệnh tật và đủ thứ trực khuẩn; các nhà khoa học cho chúng ta biết rằng trong cơ thể chúng ta có những vi trùng thân thiện và không thân thiện.

Thế mà đại đa số loài người biết rất ít và lại càng chẳng quan tâm tới những sự kiện này; thế nhưng khả năng tẩy trược xác phàm khiến cho nó là hiện thể thích hợp hơn đối với chơn nhơn lại xoay quanh những sự kiện ấy.

Người bình thường bỏ mặc cho cơ thể được kiến tạo theo một cách nào đó từ những vật liệu cung ứng cho nó mà không màng tới bản chất của những vật liệu đó, họ chỉ quan tâm xem món ăn có khoái khẩu và dễ chịu đối với ham muốn của mình hay chăng chứ không quan tâm xem chúng thích hợp hay không thích hợp với việc tạo ra một chỗ trú thanh khiết và cao cả cho Chơn ngã vốn là Chơn nhơn sống đời đời. Phàm nhơn chính là kẻ xây nhà đích thực đối với cơ thể mình.

Vậy thì việc tẩy trược cho xác phàm cốt ở quá trình cố ý tuyển lựa các hạt được phép cấu tạo nên nó. Con người sẽ chỉ tiếp nhận dưới dạng thực phẩm những thành phần thanh khiết nhất mà y có thể nhận được và vứt bỏ thành phần không thanh khiết, thô trược, họ biết rằng do thay đổi tự nhiên, các hạt kiến tạo nên xác phàm trong thời gian họ còn sinh hoạt bừa bãi sẽ dần dần mất đi ít ra là nội trong bảy năm – mặc dù quá trình này có thể được đẩy nhanh lên đáng kể.

Họ sẽ tức khắc bắt đầu loại ra khỏi thực phẩm của mình mọi thứ kiến tạo vào trong cơ thể họ những hạt không thanh khiết và gây ô nhiễm. Họ sẽ kiêng mọi thứ rượu, rượu mạnh và rượu nhẹ cũng có chất rượu vì nó sẽ đưa vào trong thể xác họ những vi sinh vật thuộc loại ô trược nhất vốn là sản phẩm của sự phân rã.

Bản thân của những vi sinh vật này không có tác hại nhưng chúng thu hút về mình – và do đó thu hút về bất cứ thể xác nào mà chúng tạo thành một bộ phận – một số những cư dân vô hình trên cõi trần nhưng thuộc loại bất hảo nhất của cõi kế tiếp.

Những kẻ nghiện rượu đã mất xác phàm do đó không thể thỏa mãn được sự khao khát chất độc ấy nữa cứ lởn vởn quanh những quán rượu và xung quanh những bợm nhậu, cố gắng nhập vào xác của những người đang uống rượu để chia sớt cái thú vui thấp hèn của mình đã cam chịu.

Chúng ta càng quyết tâm không để cho điều gì thiếu trong sạch xâm nhập vào cơ thể thì chúng ta càng được củng cố để chống lại những sự tấn công từ bên ngoài.

Sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng nếu người ta chọn theo một lộ trình như thế. Sự thật là về lâu về dài thì cơ thể sẽ làm rất kỹ lưỡng tới điều mà bạn cung cấp cho nó, miễn là bạn cung cấp cho nó một điều gì đó khiến cho nó khỏe mạnh; và chỉ trong một thời gian ngắn thì nó sẽ thích ứng với một dạng thực phẩm trong sạch và bổ dưỡng mà bạn đã chọn dùng.

Chỉ vì nó là một tạo vật tự động cho nên chẳng bao lâu sau nó sẽ không còn yêu sách những thứ mà ta cứ đều đều không cho nó, và nếu bạn lờ đi những yêu sách của nó về các loại thực phẩm thô trược và nặng mùi thì chẳng bao lâu sau nó có thói quen không thích những thứ đó.

Thói quen có thể được dùng để trợ giúp cũng như để ngăn cản, và cơ thể phục tùng khi nó hiểu rằng bạn mới là chủ nhân ông và bạn không có ý định để cho mục đích cuộc đời mình bị can thiệp bởi cái chỉ là công cụ mà bạn sử dụng.

Con người phải chịu trách nhiệm về việc mình sử dụng Linh hồn, tư tưởng và cơ thể trong cuộc đời này. Mọi Linh hồn chân chính đều muốn trợ giúp chứ không cản trở, ban phúc chứ không giáng họa, thuộc hàng ngũ những kẻ nâng cao thế giới chứ không đứng về phe làm thoái hóa thế giới. Mọi Linh hồn chân chính đều muốn như thế cho dù không phải lúc nào nó cũng đủ mạnh để biến mong ước đó thành hành động. Liệu chúng ta có đặt ra cho mình một lý tưởng và tự trách mình bất cứ khi nào mình rớt xuống thấp so với nó hay chăng (cho dù đó là việc cấp dưỡng cho cơ thể hay rèn luyện tâm trí)?

 

39. Thánh giáo dạy vì sao phải trai giới ?

“Kẻ nào trai giái đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng. Chư Môn đệ phải trai giới.” Tại sao? Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu Luật, song Luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Thầy cắt nghĩa: Mỗi kẻ phàm dưới thế này đều có hai xác thân:

- Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.

- Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh- Khí- Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng.

Còn có Thần không có Tinh Khí thì khó huờn đặng nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí tiên thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí mới ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng thì làm sao giải tán cho đặng? Nếu rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’ électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn biết khôn thì ẩn nấp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên thì kiếp đoạ trần vẫn còn chưa mãn. Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.”

Thầy cũng cho biết: “Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.”

KẾT LUẬN:

- Muôn loài vạn vật do một Ông Cha mà sanh thành, nên chúng ta cùng muôn loài vạn vật là anh em. Thế nên chúng ta mở rộng lòng yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trên đường về với Đại Từ Phụ. Lòng bác ái nên vâng theo đức háo sanh của Thượng Đế mà thể hiện .

- Con vật mà chúng ta nuôi hằng ngày tức nhiên gây cho chúng một sự tin tưởng, bởi mỗi ngày ta kêu chúng lại cho ăn, nay chúng ta cũng kêu lại để bắt giết, tức nhiên ta phạm tội bất TÍN, giết để ăn cho béo miệng là tội bất NHÂN, giết để cúng tế ông bà là tội bất LỄ, trong khi nuôi con vật dĩ nhiên là có sự mến thương giờ ta lại giết đi là bất NGHĨA, ta gạt nó cho ăn mà lại bắt giết đi là bất TRÍ. Xem ra cũng phạm đến luật Ngũ Thường rồi vậy.

- Cả muôn loài, vạn vật đều do Đức Thượng Đế tạo ra, cho nên có câu: “VẠN VẬT ĐỒNG NHỨT THỂ”, quan niệm ấy không cho phép chúng ta giết hại sanh vật để ăn thịt. Vả lại, người ta có hai thức ăn để bồi dưỡng thân thể là: Vật chất thực và huyền vi thực.

Vật chất thực là thực phẩm do miệng vào tỳ vị mà tiêu hóa thành khí huyết.

Huyền vi thực là thanh khí trong Trời Đất.

Người ta nhờ hô hấp đem thanh khí vào thân thể, để tươi nhuận khí huyết, bồi dưỡng sức khỏe. Tân luật buộc mỗi người phải tập ăn chay, mỗi tháng 6 ngày, hoặc 10 ngày, đến khi tạng phủ quen dần rồi sẽ tiến tới trường trai chay. Đức Hộ-Pháp có dạy:

Gắng TU cho kịp Hội-Long-Hoa,
Đạo đức không chuyên khổ lắm mà!
Chay lạt để ngừa loài khí độc,
Mê-man bất tỉnh trận kỳ ba.
Người hiền cứu sống ra phò Chúa,
Kẻ dữ bạo tàn xác quạ tha,
Thân Dậu đến đây rồi sẽ biết,
Đinh ninh vẹn giữ mấy lời TA.

 

40. Vì sao xếp “Bất du đạo” vào giới cấm thứ hai khi “Bần cùng dễ sanh đạo tặc” ?

Ai cũng biết trộm cướp là lấy những tài vật thuộc quyền sở hữu của người, mà không có sự ưng thuận, hoặc cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyền hành.

Từ những vật quý giá như nhà đất, nữ trang, tiền bạc, xe cộ .. . cho đến vật nhỏ như vật nuôi, cây trái .. . người ta không cho mà mình tự lấy đều là trộm cướp. Tóm lại, bất cứ hình thức nào, do lòng tham lam lấy của người đều là trộm cướp cả.

Nếu vì nghèo nàn thiếu thốn, vợ ốm con đau, thiếu gạo thiếu thuốc nên phải trộm cắp, thì tội còn được châm chế; chứ đã đủ ăn mà còn lường gạt người lấy của, cướp công, để sống một cách xa hoa trên mồ hôi nước mắt của kẻ nghèo đói thì tội ác thật nặng nề!

Do Luật Nhân quả, nên nếu quá thiếu thốn, làm thuê làm mướn vẫn đói thì việc xin ăn xem như vẫn tốt hơn là trộm cướp! Vì sao cấm trộm cướp? Có 3 lý do chính:

- Tôn trọng sự công chánh:

Trộm cắp là do lòng tham lam, muốn được có nhiều tiền bạc mà không chịu làm lụng vất vả. Tiền bạc có được do làm lụng cực khổ mới có. Nó là huyết mạch của con người. Vì thế, nếu chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao mình lại chiếm đoạt của người? Làm như thế là trái lẽ công bằng. Cướp nhỏ, cướp to, cướp ngày, cướp đêm đều là cướp cả và phải bị đầu thai đền tội đúng theo cân công bình của Thượng đế.

- Nuôi dưỡng lòng từ bi:

Mỗi người đều có Phật tánh như nhau, tại sao ta lại muốn làm khổ người khác để riêng mình được sung sướng. Người mất của sẽ đau khổ, oán hận trong lòng. Nếu là tài sản duy nhất thì họ lâm vào cảnh nợ nần túng thiếu, bịnh tật không tiền điều trị có khi phải tự tử; án trộm cướp trở thành án sát nhân gián tiếp!. Cho nên kẻ cướp đoạt của người tức là cướp đoạt xương máu người, sát hại sinh mạng người. Chỉ những người không có lòng thương người, tán tận lương tâm mới làm những việc cướp giựt, lường gạt.

- Tránh nghiệp báo: điềuTrong xã hội tội trộm cướp bao giờ cũng bị trừng trị. Khi chưa bị bắt, kẻ trộm cướp phải tìm trăm phương ngàn kế để trốn tránh, sống chui rúc trong bóng tối. Khi bị bắt, người trộm cướp phải bị tra khảo, ngồi tù vv... lại còn làm cho cha mẹ, anh em, vợ con phải buồn rầu xấu hổ. Nếu thoát khỏi luật pháp thế gian, người trộm cướp cũng không thoát khỏi luật nhân quả:

Của người dầu lấy đời nay được,
Ðời khác luôn làm kiếp ngựa trâu.

Người không trộm cắp luôn sống an vui vì không sợ bị tù tội, hoặc bị oán trách, rủa xả. Nếu mọi người giữ giới không trộm cắp thì nhà nhà được an vui. Làm phước, được phước. Chẳng những mình không tham lam của người khác mà còn bố thí, làm từ thiện thì những người ấy không bao giờ lâm vào cảnh nghèo đói; nếu tiền vận cực khổ thì hậu vận cũng khá lên.

 

41. Phân loại trộm cướp ?

Hành động lấy “Những thứ không được cho” có thể được phân thành những loại sau:

· Trắng trợn nhất, là những hành động đe dọa, dùng vũ lực cướp bóc, trấn lột, bắt cóc, giựt túi, bóp; giựt ngang của người là ăn cướp.

· Loại thứ hai là ăn trộm, ăn cắp một cách lén lút, kín đáo mà chủ sở hữu không biết, như móc túi, giựt túi, giựt xe; đột nhập vào nhà lấy tiền bạc, của cải, vv...

· Loại thứ ba là lừa gạt, đưa ra những lời nói sai sự thật, làm cho người khác tin tưởng để lừa, chiếm lấy tài sản của nạn nhân; bắt chẹt người ta trong lúc túng thiếu để cho vay nặng lời, cầm bán giá rẻ mạt cũng là một hình thức ăn cướp

· Loại thứ tư là lừa đảo, mua gian bán lận, cân thiếu, bớt xén, bán gạo giao cám.

· Loại thứ năm là sản xuất, buôn bán đồ giả mạo, làm hoặc sử dụng tiền giả, vàng, bạc giả mạo, cố tình bán thuốc men, phân bón giả vv.. .

· Loại cuối cùng là, mặc dù có vẻ là tội nhẹ, nhưng không nhẹ là tham nhũng, lạm quyền lấy của công tư túi; đó là một dạng cướp giựt từ tiền thuế của người dân đóng góp hoặc từ tiền của khách hành hương. Còn cậy thế ỷ quyền làm tiền dân đen cũng là dạng ăn cướp: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Tóm lại, trộm cướp có rất nhiều hình thức. Kinh Sám hối dạy rõ:

Bày chước độc, xúi ra việc quấy,
Tốn cho người mà lấy lợi riêng,
Hễ nghe khua động đồng tiền,
Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.

Người nghèo khổ biết sao than kể,
Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền.
Làm quan tính kế đảo điên,
Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

Trong lòng mưu chước rất sâu.
Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi,
Túng cùng vay mượn của người,
Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,
Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.
Luân hồi thưởng phạt rất mầu,
Chuyển thân tái thế ngựa, trâu công đền.

 

42. Vì sao không được sát nhân, trộm cướp theo huyền bí học ?

Các Đấng Giáo chủ đều dạy chúng ta không được lấy bất cứ gì mà người khác không cho mình hay không phải của mình tạo ra. Trên con đường tu tập thì sự phong phú nội tâm sẽ giúp chúng ta không lệ thuộc vào vật chất bên ngoài dù đó là quần áo đẹp, trang sức đá quý, tiền bạc, đất đai hay cướp công của người khác.

Đức tính an phận cũng sẽ giúp cho chúng ta nhận thấy rằng không có gì đáng để cho mình vơ vét, trộm cướp khi nghĩ rằng một phút giây sắp đến mình sẽ chết và trở thành con quỷ vô thường.

Một người trộm cướp của người khác thì có hậu quả gì? Nếu tránh được pháp luật đời thì sau khi chết, không thể nào lọt nỗi lưới trời. Lý do đơn giản là khi một con người thoát xác thì chơn thần của họ có khả năng nhớ lại tất cả những gì đã làm khi còn ở trong thân xác hữu hoại kia.

Ngươn pháp Đức Chí Tôn tạo lập ra càn khôn vũ-trụ tạo ra vạn vật tạo ra con người nầy, Ngài buộc nó phải nhớ lại, nhớ lại dưới hình thức gọi là ký ức cho hiện ra trong chơn thần những hình ảnh của nó đã thi thố trong một kiếp sanh, giống như một cuồn phim chiếu bóng quay trở lại cả cuộc đời mình chính nó là người xem mà người xem ấy không phải là một khách bàng quang không có dính líu gì với những hoạt cảnh diễn ra trong phim. Không phải như vậy.

Ký ức của chơn thần khi hiện ra những hình ảnh thì nó còn hiện luôn cả âm thanh, luôn cả những cảm xúc nữa. Lấy một ví dụ như thế này, nếu trong kiếp sanh của chúng ta có một lần nào đó cầm con dao đâm chết một người, chúng ta đã phạm tội giết người.

Dầu cái giết ấy có lý do gì gì đi chăng nữa, sau khi thoát xác chơn thần của chúng ta sẽ phải sống lại một khoảng thời gian mà trong đó hình ảnh cầm con dao đâm chết một con người sẽ diễn lại trước mắt và mình nhớ lại hình ảnh đó rõ ràng lắm, nó lặp đi lặp lại nhiều lần và dù cho chúng ta muốn quên đi để được yên ổn trong tâm hồn mình lúc đó cũng không thể quên đặng.

Khi mà chúng ta cầm dao giết một con người thì kẻ bị giết đó đau đớn lắm, sự đau khổ của họ đến tột đỉnh, chúng ta thử tưởng tượng mình làm đứt tay chảy máu một vết thương nhỏ thôi trên thân người của mình mà còn đau đớn biết chừng nào, thì bây giờ đây họ phải chịu chết không toàn thây dưới cái lưỡi dao sát nhân của chúng ta.

Sự đau đớn đó khi hình ảnh chơn thần mình ghi lại trong ký ức nó ghi luôn cả cảm xúc đó thành thử trong cõi hư linh kia con đường đọa của các đẳng chơn hồn khi hồi tưởng lại xét mình sống với những hành vi tạo ác của mình thì bao nhiêu đau đớn của những kẻ hứng chịu cái ác của mình giờ đây nó gắn liền lại với chơn thần của mình. Sự đau đớn của kẻ bị mình giết đó giờ đây trở thành sự đau đớn của chính mình, mình sống trong sự đau đớn đó mà không có cách gì thoát ra được.

Hỏi vậy hình phạt của Thiêng Liêng định cho chơn thần của một người phải chịu trong cảnh đọa kéo dài bao lâu thì không ai nói được. Cho đến khi nào mà chơn thần của chúng ta thức tỉnh biết tội lỗi của mình thì tự nhiên có được sự khôn ngoan sáng suốt để tự mình có ý thức là sẽ luân hồi chuyển kiếp trở lại để trả cái quả ấy, trả cho xứng đáng với những gì mình tạo khổ cho người và cho vạn vật. Mình sẽ trở lại mang lấy một xác phàm và sẽ sống một cuộc đời gánh chịu nhiều đau khổ, bất hạnh. Lẽ công bằng của Tạo-Hóa là như thế đó.

Vì lẽ ấy mà Đức Chí Tôn khi lập Đạo Ngài buộc chúng ta phải cố gắng trai giới để tránh nghiệp sát sanh trong chơn thần của mình. Khi mình giết một con vật để lấy thịt ăn thì sự oán hận của nó đối với mình phải có chứ, sự đau đớn khi bị mình giết nó phải có chớ.

Tất cả những hình ảnh ấy, hình ảnh, âm thanh, cảm giác, cái cảm giác đau đớn của con vật bị mình giết nó vẫn còn trong ký ức của chơn thần mình. Cái hình phạt trong cõi đọa nầy là lẽ Hằng Sống bởi vì ký ức ấy sau ngày thoát xác nó cũng hiện ra với ta y như vậy và một trăm năm nữa chơn thần mình nhớ lại nó cũng hiện ra y như vậy.

Sự sống đó không thay đổi, chỉ khi nào chúng ta giác ngộ được; chơn linh của chúng ta ngự trị nơi chơn thần hiểu được tội kiếp của mình giờ đây phải luân hồi để trả quả, chừng đó tấn tuồng hành phạt kia mới chấm dứt. Chúng ta sẽ trở lại mang một hình xác mới để chịu một kiếp người trong đó sẽ có nhiều bất hạnh để đền bù lại những sự đau khổ mà chúng ta đã nhìn thấy trong chơn thần của mình trong cõi Âm quang đó.

Đức Chí Tôn có dạy về ký ức như sau:

".. . nhân loại còn tiến bộ hơn và phát minh sáng tạo ra thêm những điều mà trí tưởng tượng của con hôm nay chưa nghĩ ra tới nhưng làm gì thì làm tài hay giỏi thế mấy đi chăng nữa, có một chỗ mà Thầy định cho con người không thể đổi được đó là Ký ức Thiêng Liêng của chơn thần gọi là chỗ nhớ mầu nhiệm.

Cái Pháp của Thầy khi định ra hình thể vạn linh Thầy đã định trong Chơn thần của con người có chỗ nhớ mầu nhiệm đó nghĩa là con đã làm gì thì con sẽ nhớ lại điều đó không thể nhớ một điều khác được.

Máy Trời vi diệu mà chơn linh của Thầy đã chiết ra đặt trong hình thể của con đây, nó sẽ ghi nhớ tất cả mọi việc con đã làm đã nghĩ thì chỗ này không thể thay đổi được.

Loài người có thể tự lừa dối mình bằng cách cho rằng khi thân xác này chết đi thì không còn nhớ gì nữa hết, không có gì là tội đâu mà sợ nhưng chỗ ký ức này không có đổi được.

Lẽ công bằng của Thầy đã định: nếu làm được điều lành thì khi chơn thần hồi tưởng lại sẽ thấy niềm vui, còn đối nghịch lại khi con người làm một điều ác lúc chơn thần nhớ lại phải cảm thấy sự đau khổ.

Không ai xử tội mấy con cả mà chính chơn linh mấy con, chính chơn thần của mấy con xét xử lấy mình. Thăng hay Đọa cũng là do chỗ nhớ mầu nhiệm này.

Con người đã tự lừa dối mình cho rằng chết là hết nên mới dám làm nhiều điều tà vạy trước mặt Thầy. Con phải hiểu rằng nhơn loại đã đau khổ nhiều rồi duy chỉ có hành vi đạo đức mới có thể cứu chữa lại được mà thôi, phải gieo giống lành trong tinh thần của mấy con thì mấy con mới gặt hái được những kết quả lành chớ mấy con không thể nào xóa được ký ức tội lỗi của mình đã gây ra đâu.

Các con có quyền năng sáng tạo làm thay đổi mặt đất này tạo cho con người những điều kiện sống phong phú nhưng mà trong Chơn Thần ký ức về điều lành, điều dữ, tất cả những gì đã làm đã nghĩ các con không thể nào xóa được. Hai tiếng máy Trời mà Thầy đã nói là không đổi được do ở chỗ nhớ này. Mấy con phải biết sợ mà cẩn thận mình thì con đường tu mới có thể tinh tấn đặng."

Đổi thử máy Trời coi có được,
Thì Ta đổi tội dữ ra lành.

Trên đây là lời cảnh cáo đối với con cái của Ngài trên toàn mặt địa cầu này.

 

43. Giới tính là gì, từ đâu có ?

Giới tính là tất cả những đặc điểm phân biệt người nam với người nữ. Tại sao bạn là trai? Tại sao bạn là gái? Có 2 yếu tố quyết định, đó là bộ nhiễm sắc thể và hóc môn sinh dục:

1. Bộ nhiễm sắc thể:

Khoa học đã phát hiện ra rằng cốt lõi của giới tính nằm trong bộ nhiễm sắc thể. Mỗi tế bào có 23 cặp nhiễm sắc thể, trong đó một cặp quy định giới tính (ở nữ giới là XX, ở nam giới là XY. Tế bào sinh dục chỉ có 23 nhiễm sắc thể đơn lẻ, trong đó chỉ có một nhiễm sắc thể giới tính. Trứng dĩ nhiên chỉ mang một X, còn tinh trùng có thể mang một X hoặc một Y.

Khi thụ tinh, hợp tử thừa hưởng hai nhiễm sắc thể giới tính của mẹ và của cha, phát triển thành trai hay gái là do tinh trùng của cha quyết định. Nếu tinh trùng mang X, hợp tử có cặp XX, phát triển thành con gái. Nếu tinh trùng mang Y, hợp tử có cặp XY, phát triển thành con trai.

2. Hoóc môn sinh dục:

Trong số các hoóc môn của cơ thể, hoóc môn sinh dục có vai trò quy định giới tính mỗi con người và điều khiển các hoạt động sinh lý tính dục của cơ thể. Các loại hoóc môn sinh dục chính là FSH và LH (hoóc môn của tuyến yên), oestrogen và progesteron (hoóc môn sinh dục chính của nữ, tiết ra từ hai buồng trứng), testosteron (hoóc môn sinh dục chính của nam, tiết ra từ hai tinh hoàn).

 

44. Trứng và tinh trùng – điểm khởi đầu cuộc sống ?

Cuộc sống của mỗi chúng ta đều bắt đầu từ hai tế bào nhỏ xíu là trứng của mẹ và tinh trùng của cha (được gọi là tế bào sinh dục. Hai tế bào sinh dục này kết hợp với nhau thành hợp tử. Hợp tử sẽ nhân lên, phát triển thành đứa trẻ ra chào đời.

Tuy là là tế bào lớn nhất trong vô vàn tế bào của cơ thể người nhưng trứng và tinh trùng vẫn rất nhỏ bé, trứng chỉ bằng hạt cát còn tinh trùng thì mắt thường không nhìn thấy được. Vì sao việc tạo con cái lại dựa vào tinh trùng và trứng chứ không phải tế bào khác?

Đó là vì các tế bào trong cơ thể đều mang trọn bộ 46 nhiễm sắc thể, quy định các đặc tính của mỗi người. Riêng trứng và tinh trùng chỉ mang nửa bộ (23 chiếc) để khi kết hợp lại thì vừa tròn một bộ. Như thế, mỗi người con đều thừa hưởng 23 nhiễm sắc thể của mẹ, 23 nhiễm sắc thể của cha và sẽ mang những đặc điểm di truyền của cả cha và mẹ. Sự thụ thai để tạo một con người mới, đó là pháp mầu nhiệm của Tạo hóa, khoa học cùng các tiến bộ khoa học phát triển đã dần hé mở những bí mật của con người

1. Trong tinh dịch là một “biển tinh trùng”.

Nhà khoa học Hà Lan - Anton van Leeuwenhoek vẫn luôn tò mò về những thứ ở trong tinh dịch sau mỗi lần làm... chuyện ấy. Vào năm 1677, ông đã tự mình giải đáp thắc mắc đó khi sử dụng kính hiển vi và chính "sản phẩm" của mình để nghiên cứu.

Mặc dù vào thời điểm đó, Leeuwenhoek không hề có bất kì kiến thức nào về khoa học, sinh học cũng như y học, thế nhưng với chiếc kính hiển vi, ông đã phát hiện ra bên trong tinh dịch là hàng triệu cá thể nhỏ bé đang bơi lội "tung tăng". Leeuwenhoek cho rằng: trong mỗi tinh binh đều ẩn chứa một con người. Và "con người" này luôn khát khao được "đột nhập" vào trứng để từ đó phát triển, lớn mạnh, dần hoàn thiện mình hơn.

2. "Cuộc chiến" của 150 triệu tinh trùng để giành lấy 1 trứng.

Cuộc hành trình sau khi tinh trùng ra khỏi cơ thể nam giới và tới với tử cung giống như một cuộc chạy đua tốc độ cao. Kể từ khi "súng nổ", hơn 150 triệu vận động viên tí hon sẽ cố gắng hết mình để tới được đích. Nhưng, chỉ 15% số tinh binh lọt qua được cổ tử cung để tới được với trứng. Tới lúc đó cũng chỉ còn lại khoảng 1.000 "tay đua" tiếp tục trò chơi. Sau cùng, chỉ có khoảng vài tinh binh mạnh nhất mới tới được đích. Nếu may mắn, trong số này sẽ có được một vài người thắng cuộc, số còn lại sẽ bị đào thải ra ngoài.

Quả trứng chui ra từ một nang trong buồng trứng.

Thông thường phụ nữ rụng một quả trứng mỗi tháng. Bác sĩ phụ khoa Jacques Donnez tại Đại học Catholic ở Louvain, Bỉ, là người đầu tiên chứng kiến được quá trình này trong một cuộc phẫu thuật cắt bỏ dạ con trên một phụ nữ người Bỉ 45 tuổi. Trứng người được tạo ra từ nang. Đó là những bao chứa đầy chất lỏng ở trong buồng trứng.

Khi đến thời điểm rụng trứng, nang này sẽ lồi lên một cục màu đỏ sẫm. Quả trứng sẽ chui ra từ đây, bị bao phủ bởi một lớp chất dẻo chứa tế bào. Ở người, mỗi quả trứng chỉ to bằng một dấu chấm, còn toàn bộ buồng trứng chỉ dài khoảng 5cm. Trứng sau khi rụng phải được gặp tinh trùng trong vòng 12-24 giờ để thụ tinh. Nếu thụ tinh không xảy ra thì noãn bào sẽ thoái hóa và xảy ra hiện tượng kinh nguyệt.

 

45. Tìm hiểu tính dục, tình dục ?

Cần phân biệt tính dục và tình dục. Tình dục là khái niệm phản ánh quan hệ tính giao giữa nam nữ. Tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, vừa phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể khác giới (trong đại đa số trường hợp) vừa chứa đựng những yếu tố tạo nên phần hữu hình và cả phần vô hình của một con người.

1. Tính dục là gì ?

Tính là bản chất con người, dục là ước muốn được thể hiện ra bên ngoài. Tính dục là một khuynh hướng tự nhiên nơi người nam và người nữ vận dụng giới tính để tìm kiếm, hiểu biết và thương yêu nhau dù nam hay nữ.

2. Tình dục là gì ?

Tình là cảm xúc yêu thương trong tâm hồn, dục là ước muốn được thể hiện ra bên ngoài. Tình dục là toàn bộ những cách thế mà người nam và người nữ vận dụng bản năng giới tính để yêu thương, ước muốn kết hợp với nhau như vợ chồng. So sánh các giải thích trên ta thấy:

- Tính dục khác với giới tính ở chỗ tính dục là sử dụng giới tính để gặp gỡ, yêu thương, còn giới tính chỉ là đặc điểm của giới.

- Tính dục vừa khác với tình dục vì tính dục bao hàm chung các quan hệ bạn bè, người yêu, vợ chồng, còn tình dục nói riêng đến quan hệ vợ chồng.

Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời.

Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống.

Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội. Như vậy, tính dục người là toàn bộ con người đó như là người nam hay người nữ và những yếu tố tạo nên tính dục cũng là những thành phần làm nên nhân cách - tổng thể những phẩm chất tâm lý đặc trưng ở một con người, thể hiện ra bằng hành vi ứng xử.

 

46. Ý nghĩa của hôn nhân.

Con người là một linh hồn bất tử, thọ mệnh từ Thượng Đế nên sự kết hợp giữa vợ chồng không phải là ngẫu nhiên mà đối với thiên cơ thì đây là một sứ mệnh .

Cơ sanh hóa càn khôn đào tạo,
Do âm dương hiệp Đạo biến thiên.
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn luân.
(Kinh Hôn phối)

Sự tác hợp vợ chồng còn do thiên ý :

Ở trước mắt Hồng Quân định phận,
Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên.
(Kinh Hôn phối)

Về tâm linh, người ta hiểu rằng: hôn nhân là việc hệ trọng, là thiêng liêng. Vì thế người ta gọi là lễ cưới chứ không chỉ là đám cưới. Lấy vợ, lấy chồng là một việc thiêng liêng của đời người.

. Lễ cưới được cử hành có sự chứng kiến của thần thánh tổ tiên, đó là Thần quyền.
. Rồi phải có làng xóm, pháp luật công nhận, đó là Pháp quyền.
. Và cô dâu, chú rễ phải yêu nhau, hợp nhau, đó là Nhân quyền.

Cái đẹp của lễ cưới là như thế.

“Sự hiện diện của Chúa làm cho sự hiệp nhất của đôi bạn trở nên trọn vẹn : hiệp nhất thể xác, tình yêu, tinh thần và thiêng liêng.” (Đường Hy Vọng, số 489)

“Tình yêu là thiên đàng; hôn nhân là địa ngục”, Lord Byron đã viết như thế cách đây 150 năm. Nhưng thật ra, lời lẽ trong bài Kinh Hôn phối giúp chúng ta nhìn thấy sự cao quý và vẻ đẹp của sự kết hợp hai thân xác với nhau theo một cách kỳ diệu để tạo nên một sinh mạng mới.

Con người tạo ra nhân duyên và nghiệp quả với nhau; chính do những nhân duyên đó mà các Đấng đã chọn hai linh hồn kết hợp với nhau tùy nhân duyên tốt hay xấu tức là duyên hay nợ. Dù ngày nay, nam nữ bình quyền không còn cảnh chồng chúa vợ tôi nhưng đừng làm ngược lại.

Gương hiền đức của phụ nữ mãi mãi là đức tính mà Đức Chí Tôn mong đợi. Nếu người nào biết nắm cơ hội trong cuộc sống vợ chồng để học hỏi, người đó sẽ lần đến chỗ toàn thiện. Vì không có cơ hội đặc biệt nào như tình vợ chồng để có dịp cho mình tìm hiểu người khác đồng thời để biết lấy mình.

Một khi con người đã nhìn nhận được mục đích cao siêu của sự hợp tác vợ chồng thì cuộc sống gia đình sẽ giúp cho mỗi người hoàn thành một thiên chức mới để khám phá ra cái mới mẻ trong cuộc sống.

Socrate đã khuyên đệ tử rằng: “- Nếu anh gặp vợ hiền thì anh hạnh phúc, nếu anh gặp vợ dữ thì anh sẽ trở thành triết nhân” . Nhưng dù cho duyên hay nợ, hạnh phúc hay khổ đau xảy ra trong gia đình mà hai vợ chồng hiểu biết được đạo lý, đối đãi với nhau trong sự kính trọng, thương yêu và biết tha thứ lẫn nhau thì họa cũng chuyển thành phước vì chính sự khó khăn khi giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân để có thể hạnh phúc tới “răng long đầu bạc” sẽ giúp hai người có cơ hội học được chữ NHẪN, chữ HY SINH, THƯƠNG YÊU THẬT SỰ và không có chỗ cho thói ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân.

Tóm lại, có thể nói rằng đạo vợ chồng là sự hợp tác giữa hai linh hồn để phụng sự cho thiên cơ. Hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống trọn đời yêu thương nhau, sinh sản và giáo dục con cái.

Như vậy, đời sống hôn nhân và gia đình liên hệ tới giới tính (người nam, người nữ), tính dục và tình dục (yêu thương nhau và sinh sản con cái. Đó là việc bình thường để di truyền nòi giống. Không nên có thái độ khinh bỉ vì cho là xấu xa tội lỗi, lại càng không nên quá đề cao để rồi lạm dụng bừa bãi.

Giới tính và tính dục là ân huệ của Thượng đế ban cho con người. Khi vợ chồng sử dụng tính dục để nên một với nhau và sinh sản con cái, thì đây không phải chỉ là chuyện sinh lý thuần túy, mà còn liên quan đến điểm thâm sâu nhất trong con người là tình yêu.

Chính Đấng Tạo Hóa đã muốn rằng trong nhiệm vụ truyền sinh đôi vợ chồng cảm thấy một sự vui thú và thỏa mãn nơi thân xác và tinh thần. Vì vậy, vợ chồng chẳng làm điều gì xấu khi tìm kiếm và tận hưởng sự khoái lạc đó. Họ đón nhận những gì Đấng Tạo Hóa đã ban cho. điềuTuy nhiên, họ phải biết giữ tiết độ. Từ xa xưa, tình dục được coi là một chủ đề nhạy cảm và người ta thường tránh nói về vấn đề này, đặc biệt là người Châu Á. Chúng ta biết rằng tình dục tồn tại như một bộ phận hoạt động cấu thành đời sống con người. Chính nó là cơ sở sâu xa cho sự xuất hiện tình yêu, tình vợ chồng, và nhờ nó mà trẻ em ra đời, loài người tồn tại.

Hiện nay, không ít người quan niệm rằng, những chuyện xung quanh vấn đề tình dục thì chẳng cần phải học, “cứ lớn lên là khắc biết”. Nhưng ngày nay có một ngành khoa học độc lập, chuyên nghiên cứu sự phát triển tình dục và đời sống tình dục của con người. Đó là Tình dục học (sexologie. Người có công thúc đẩy tình dục học phát triển là nhà tâm lý S. Freud, người sáng lập ngành phân tâm học.

Theo lý thuyết này, chỉ một phần của năng lượng tình dục được tiêu hao trong hoạt động tình dục; số năng lượng còn lại được chuyển hóa vào các lĩnh vực hoạt động khác như văn hóa, nghệ thuật, chính trị. Các hình thức hoạt động tình dục không đơn thuần nảy sinh từ trạng thái hoóc môn của cơ thể mà còn từ những yếu tố tâm lý xã hội. Gia đình là nơi nương náu, là tổ ấm, là chốn yêu thương, mà mỗi phần tử đều yêu thích và mong mỏi tìm về, mỗi khi gặp phản bội và thất bại bên ngoài xã hội.

Thánh Paul có khuyên rằng: mặc dù đời sống trinh trắng là tối thượng, nhưng nếu không tiết dục được, tốt hơn hết là hãy kết hôn, vì thà kết hôn còn hơn bị thiêu đốt” (1 Corinthians 7:9).

Mục đích của tính dục là để sinh con, điều này giải thích tại sao tất cả những hoạt động tình dục khác không đưa đến sinh con đều không được khuyến khích.

 

47. Tính dục theo huyền bí học ?

Tính dục (Human sexuality) là một quan năng dùng dâng hiến cho mục đích thiêng liêng, đó là tạo điều kiện cho những linh hồn tiến hóa đầu thai. Tính dục không phải là sự thỏa mãn những thèm khát, nhưng là việc sinh ra hình hài để qua đó sự sống được biểu lộ.

Tình dục là nhu cầu căn bản ban sơ, là một trong những bản năng chủ yếu, là yếu tố nổi bật của thú tính trong con người.

Về mặt vũ trụ, tính dục chỉ sự tương quan giữa tinh thần và vật chất, là sự thể hiện của LUẬT HẤP DẪN.

Về mặt con người, tính dục chỉ sự liên hệ giữa Nam và Nữ, với kết quả là chủng loại được lưu truyền.

Còn đối với người duy vật, tính dục chỉ sự thỏa mãn ham muốn của thú tính với bất cứ giá nào, không kiểm soát.

 

48. Sao gọi là tà dâm ?

Con người là một sinh vật tình cảm. Sự ham muốn tình dục là một phần của bản năng.

“Dâm” có nghĩa là “những điều liên quan đến tình dục”. Tự nó không có nghĩa xấu, chữ “tà” ở đây mới là điều phải tránh. điềuKhi vợ chồng có cưới hỏi đủ lễ gọi là chánh; lén lút lang chạ, làm tình với người khác phái không phải là vợ hay chồng mình thì gọi là tà. Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân chính là tội tà dâm.

Luật dạy người xuất gia hàng chức sắc thượng thừa dứt hẳn dâm dục, còn người tín đồ thì không được tà dục.

Trong cuộc sống, khoa học đã chứng minh sự dâm dục quá độ khiến cho sức khỏe hao mòn, chơi gái đưa đến những bệnh phong tình, hoa liễu, giang mai cho đến các bệnh nan y như HIV (AIdS. Đức Chí Tôn đã giảng cho chúng ta biết vì sao dâm dục quá độ phải mang tội nơi cõi vô hình.

Dưới đây là những tội lỗi do sử dụng dục tính sai trái:

. Dâm ô là hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục. Khoái lạc tình dục trở thành sai trái, khi con người chỉ tìm hưởng thụ để thỏa mãn chính mình, chứ không nhằm mục đích truyền sinh và kết hợp trong tình yêu.

. Tà dâm là quan hệ xác thịt giữa một người nam và một người nữ không phải là vợ chồng. Đây là lỗi xúc phạm đến nhân phẩm và giới tính của con người, vốn qui về lợi ích của đôi vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con cái.

. Ngoại tình là tội vợ chồng thất tín với nhau. Khi hai người nam nữ có quan hệ tính dục với nhau, dù là nhất thời mà trong đó có ít nhất một người đã kết hôn, thì cả hai phạm tội ngoại tình. Đức Jesus lên án tội này ngay cả khi chỉ là một ước muốn.

. Mại dâm xúc phạm đến phẩm giá của người bán dâm vì họ biến mình thành trò vui xác thịt cho người mua dâm. Kẻ mua dâm phạm tội nặng nơi bản thân vì họ vi phạm giới cấm, và làm ô uế thân xác là đền thờ Thượng đế nội tâm.

. Hiếp dâm là dùng bạo lực bắt kẻ khác quan hệ xác thịt với mình. Đây là tội phạm đến công bằng và bác ái. Hiếp dâm xúc phạm nặng nề đến quyền được tôn trọng, quyền tự do và toàn vẹn thể lý cũng như tinh thần của nạn nhân, gây thương tổn nghiêm trọng có thể kéo dài cả cuộc đời của nạn nhân. Hiếp dâm tự nó là một hành vi xấu xa, tội này lại càng nặng nề hơn nữa, khi người có chức quyền lạm dụng thân xác các em được ủy thác cho họ.

. Loạn luân là quan hệ tính dục giữa những người họ hàng cùng huyết tộc, mà luật cấm kết hôn với nhau. Đây là một trọng tội. Tội loạn luân phá vỡ quan hệ gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính.

Thân và Tâm liên hệ mật thiết lẫn nhau, nên lối sống buông thả thân thể là đem tâm hồn bán đi rồi. Thân thể chính là đền thờ tâm linh. Con người sử dụng thân thể để tu hành, lập công quả. Sự tinh khiết của Thân là sự vẹn toàn của Tâm nên Thân sống lành mạnh tức là giữ Tâm được trong sáng, công chánh.

Đức Phật Mẫu dạy:

Gắng sức trau giồi một chữ TÂM,
Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đoạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm.

 

49. Ngoại tình là tà dâm ? Làm sao loại bỏ tà dâm ?

Trong công việc, bạn cảm thấy hài lòng, điều này không có gì lạ bởi vì Đức Chúa Trời đang hành động qua bạn, nhưng bạn đang mãn nguyện và bắt đầu có cảm giác kiêu ngạo,tự mãn. Từ lúc đó, thời gian ở nhà ít đi. Không chỉ có ít thời gian ở nhà, nhưng bây giờ, những lúc ở nhà bạn không còn cảm thấy ý nghĩa như trước kia nữa. Quan hệ vợ chồng trở thành hời hợt, lạt lẻo.

Khi mới cưới, vợ chồng yêu thương vô cùng, nhưng bây giờ, vị trí của người bạn đời đứng sau công việc của bạn. Chức vụ và địa vị mà trước kia là niềm vui chung của cả hai, bây giờ đã trở thành kẻ thù của hạnh phúc gia đình. Gia đình không còn là nơi đáng mơ ước và vui vẻ như trước kia.

Satan bắt đầu giương chiếc bẫy cuối cùng của nó, thay vì cần quan tâm và có nhiều thì giờ với người bạn đời hơn, người ta lại chọn con đường ngoại tình.

Hãy tìm sự giúp đỡ trong những trường hợp cảm thấy yếu đuối; nếu bị cám dỗ, hãy cầu nguyện bạn sẽ nhận được sự hỗ trợ từ chính Chơn linh của bạn.

Thiếu đức tin vào Đức Thượng đế là gốc rễ của những sự lăng nhăng tình dục. Hãy canh giữ tư tưởng bạn, hãy quyết định một cách tích cực rằng bạn sẽ không bao giờ suy nghĩ về những điều nhơ bợn.

Nếu một ý nghĩ ham muốn bất chánh vừa xuất hiện, hãy bác bỏ thẳng thừng: “cảnh giác, Satan đang dụ dỗ”. Nếu chúng ta đùa giỡn với ái tình, chúng ta đang cho Satan một chỗ đứng và một ngày kia nó sẽ đánh bại chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận trong những tình huống có thể dẫn đến những cám dỗ tình dục.

Chẳng hạn không bao giờ ở một mình với người khác phái hay xem phim sex, đọc dâm thư để “tự sướng”. Những người khôn ngoan không bao giờ cho phép những tình huống bị kích thích mà ma quỉ có thể nhơn dịp đó tấn công.

Nếu đừng nghĩ tới, thì sẽ loại bỏ được. Nếu cứ liên tục nghĩ đến, thì làm sao bỏ ? Kinh Phật nói rằng: “Hãy xem những người phụ nữ cao niên như mẹ của mình, xem những người lớn tuổi hơn mình như chị của mình, xem những người trẻ tuổi như em gái của mình và xem người nhỏ tuổi như con gái của mình. Phát tâm độ họ, và diệt những tà niệm đi.”

 

50. Tôn giáo nghĩ thế nào về thủ dâm ?

Thủ dâm là hình thức kích thích bằng tay vào các cơ quan sinh dục, thường là vào điểm cực khoái. Thủ dâm là một trong nhiều hành động được gọi là tự thỏa mãn tình dục (tiếng Anh: autoeroticism), bao gồm cả việc sử dụng những dụng cụ hỗ trợ tình dục (sex toy) và kích thích ngoài bộ phận sinh dục. Cũng có những máy thủ dâm được sử dụng để kích thích sự giao hợp. Trong tiếng Việt, từ thủ dâm có gốc từ chữ Hán 手淫, có nghĩa là "hành dâm bằng tay".

Trong phạm vi sức khỏe tinh thần có nói rằng thủ dâm có thể làm dịu sự phiền muộn và mang lại cảm giác cao hơn về giá trị bản thân (Hurlbert & Whittaker, 1991. Thủ dâm cũng có thể đặc biệt hữu ích khi một người bạn tình có nhiều nhu cầu tình dục hơn người kia - trong trường hợp đó thủ dâm giúp có được một ảnh hưởng cân bằng và vì thế là một mối quan hệ hòa điệu hơn. Thủ dâm là một cái van an toàn để chống lại sự vỡ mộng có tính hủy diệt của tình dục. Tuy nhiên, thủ dâm thường xuyên sẽ gây tác hại tới tâm lý, tinh thần và sức khỏe:

- Ảnh hưởng tới tâm lý, tinh thần: Thủ dâm quá thường khiến cho bản thân ở vào trạng thái tâm lý căng thẳng, dằn vặt, thậm chí làm cho tính tình trở nên cáu gắt. Vì thế những người thường xuyên thủ dâm có thể bị nhiễu loạn hoạt động bình thường của hệ thống thần kinh do trung khu hung phấn của đại não luôn phải lặp đi lặp lại trạng thái hưng phấn liên tục, từ đó làm giảm sức tập trung tới công việc và trí nhớ cũng bị giảm sút một cách nhanh chóng.

- Giảm khả năng tình dục: Thủ dâm với mức độ nhiều sẽ ảnh hưởng đến thận dễ dẫn đến hiện tượng xuất tinh sớm hay khó xuất tinh thậm chí là liệt dương, ngoài ra còn gây đau lung, chóng mặt, ù tai. Đối với phụ nữ, thủ dâm nhiều có thể gây viêm nhiễm âm đạo, viêm bàng quang trường hợp nặng có thể làm chảy máu vùng chậu, lãnh cảm tình dục. Những người thường xuyên thủ dâm rất dễ khiến bạn đời của mình không cảm thấy thỏa mãn vì đạt cực khoái quá sớm, dễ khiến cho chính bản thân cảm thấy tự ti, bạn đời không hài lòng, gây ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, thậm chí đỗ vỡ hôn nhân.

- Mắc các chứng bệnh về đường tiết niệu, viêm tuyến tiền liệt: Thủ dâm quá mức có thể khiến xoang chậu bị ứ huyết lâu dài khiến vi khuẩn gây bệnh lây từ tay vào cơ quan sinh dục dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Viêm tuyến tiền liệt mãn tính gây ra hiện tượng đi tiểu nhiều, nước tiểu đục, thường xuyên gây khó chịu vùng bụng dưới và bộ phận sinh dục; do xuất tinh nhiều làm chất lượng tinh dịch kém gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Trong nhiều tôn giáo, như các hình thức Tin lành, Thiên chúa giáo, Mormon, Do Thái giáo và Hồi giáo thủ dâm bị coi là một hành động không trong sạch, tuy không phải là phi đạo đức.

Trong truyền thống Phật giáo, theo năm lời răn và bát giới, mọi người không nên thèm khát có được cảm giác khoái lạc tình dục kiểu đó, thủ dâm vì thế không bị ngăn cấm nhưng cũng không được khuyến khích.

Do Thái giáo ngăn cấm thủ dâm, vì nó dẫn tới sự xuất tinh không cần thiết.

Cơ đốc giáo: Theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2352 thì: “Thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục", “thủ dâm tự bản chất là một hành động sai trái nghiêm trọng”, vì “tự ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng bình thường, dù với động lực nào đi nữa, cũng là sai mục đích”.

Để phán đoán đúng về trách nhiệm luân lý của đương sự là thủ dâm có tội hay không “cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của thói quen, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý xã hội. Các nhân tố này có thể làm trách nhiệm luân lý của đương sự được giảm khinh ngay cả đến mức tối thiểu”. Và vì thế, một cách chủ quan, không phải thủ dâm lúc nào cũng là tội trọng.

Đạo Tin lành: Những nhà thần học Tin lành chỉ bắt đầu sửa đổi những lời dạy bảo trước đó từ thế kỷ 20 với một số quan điểm hiện nay vẫn đang sử dụng về ủng hộ thủ dâm. Thủ dâm, tuy nhiên, vẫn bị một số người coi là một hành động tự thỏa mãn và một tội lỗi nhục dục, làm nó vẫn bị tranh cãi cho tới ngày nay.

Hồi giáo: Các học giả Hồi giáo coi thủ dâm là hành động bị cấm đoán, ngoại trừ trong những tình huống giảm nhẹ như vì mục đích thử nghiệm y học, hay nếu là cần thiết về mặt y tế. Đối với những người Hồi giáo, việc có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là một tội lỗi to lớn, khiến người phạm tội bị trừng phạt trong cả cuộc sống hiện tại và cả sau khi mất. Tuy thế, nhưng nếu sự thèm muốn của một người mạnh tới mức có thể khiến họ phạm phải một tội lỗi nặng hơn là có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân thì thủ dâm trở thành được phép với tư cách là một nhu cầu cần thiết: "Và những người không có gia đình cần cố gắng sống trong sự trinh bạch, cho tới khi Chúa trời ban ơn huệ cho họ" (Qur'an, 24:33).

Theo Sheikh Hamed Al-Ali: "Thủ dâm ban ngày trong thời gian thánh lễ Ramadan sẽ là hành động vi phạm luật lệ, dựa theo Hadith quy định rằng người Hồi giáo phải không được ăn, uống và có thèm muốn tình dục. Bởi thủ dâm là một loại mong muốn tình dục, một người Hồi giáo trong mùa chay phải cố tránh nó. Vì thế, thủ dâm là một hành động vi phạm cũng như ăn uống và bởi nó là một trong những tội lỗi mà nếu một người nào đó phạm phải thì cũng là sự vi phạm tới tính thiêng liêng của tháng chay đó.

 

51. Phương pháp để chế ngự tình dục ?

Có ba phương pháp chính để chế ngự tình dục:

1. Bạn hãy thay thế nó bằng một thứ khác trong đầu óc của bạn:

Khi dục tình nổi lên, nó khuấy động tất cả mọi tư tưởng khác, chiếm ngự tinh thần bạn như một chủ nhân ông đầy quyền lực, nó sai khiến bạn phải làm theo sự thôi thúc của nó. Bạn đừng chú ý đến nó, đừng sợ hãi, đừng bực tức nó, cứ thản nhiên đi tìm một công việc khác để làm và chú ý tới công việc. Bằng cách đó bạn đã quên nó hồi nào không hay.

Hoặc là bạn thay thế quyền chủ nhân ông của nó, buộc nó trở thành thứ yếu. Địa hạt tư tưởng rất trừu tượng, khi có một kích động dục tình vừa khởi dậy, chính tư tưởng bạn đồng hóa với nó, bạn thấy mình là nó và do đó bạn đã giúp sức cho nó mạnh thêm. Nó điều khiển bạn và bạn lại giúp sức cho nó làm chủ bạn một vòng lẩn quẩn khép kín ! Bạn hãy tách mình ra khỏi vòng lẩn quẩn ấy bằng cách thay đổi tư duy, hãy ngắm nhìn quan sát sự vận hành của nó trong nội thân, từ vị trí của một kẻ bên ngoài.

Bạn hãy cố gắng nhớ lại rằng cái cảm giác đang rạo rực kia không phải là bạn. Hãy cố gắng nhớ lại và sống với tư tưởng rằng ta là linh hồn, là ánh sáng tâm linh đang ngự trị nơi phàm thể còn cảm giác này đây là của thân xác, chỉ là phương tiện để ta sử dụng. Bạn để cho nó sống đúng vị trí thứ yếu của nó, chớ không phải giết nó. Khi bạn nhớ lại được như vậy thì tức khắc đã giành được quyền chủ tể của thần và khí dục phải chịu khuất phục dưới quyền năng của ý chí .

Hoặc là trong khi quán niệm như vậy bạn có thể điều khí bằng cách thở dài hơi chậm và sâu. Bằng cách chú ý tới hơi thở và thay đổi vị trí, góc độ nhìn cảm giác tình dục của mình như thể từ ngoài nhìn vào nó sẽ mất dần cường độ và từ từ lắng đọng xuống, trở thành một sức sống thuần lương yên tĩnh, không quấy rầy tinh thần bạn nữa .

2. Loại trừ những nguyên nhân gây kích động tình dục:

Bằng kinh nghiệm đã trải qua trong bản thân mình nếu thấy rằng mỗi khi mắt bạn nhìn những hình ảnh khiêu dâm trên sách báo, phim ảnh, hình tượng, tình dục bạn bị kích động thì bạn phải khôn ngoan, cương quyết từ bỏ những thứ ấy đừng ngó tới nữa .

Nếu tai bạn nghe kể những câu chuyện hay lời lẽ gợi tình và tâm bạn động thì kinh nghiệm lần sau bạn đừng để ý nghe những chuyện thuộc loại ấy nữa .

Nếu thân bạn ngồi hay đứng gần một người khác phái nào đó và tự nhiên lòng bạn thấy rạo rực thì bạn đừng gặp nữa. Nếu buộc phải giao tiếp, hãy đứng cách xa họ vài mét khi nói chuyện để loại trừ bớt nguyên nhân kích dục ở nhân điện.

Nếu miệng lưỡi bạn thích rượu thịt say sưa hay những món ăn kích thích như tiêu, hành, tỏi, ớt và sau đó sức sống dục tình bùng dậy mạnh mẽ, tôi khuyên bạn nên đổi thức ăn, giảm bớt hay loại trừ hẳn những thứ kích thích ấy. Nếu mũi bạn ngửi mùi hương hay nước hoa chi đó mà kết quả làm dục tình trỗi dậy thì tốt hơn bạn nên từ bỏ nó đi .

Nói tóm lại bạn phải biết ngăn chận con đường xâm nhập của các nguyên nhân gây kích dục qua các giác quan của bạn là tai, mắt, mũi, miệng, lưỡi, da thịt thân xác. Nói vắn tắt dễ hiểu hơn, đừng đem lửa vào nhà thì nhà không bị cháy, phải không các bạn? Ngọn lửa dục tình cũng thế, không có nó làm sao có sự sống của thân xác chúng ta đây, điều quan trọng là chúng ta phải chủ động được nó.

3. Nên tăng thêm tính thánh thiện cho tinh thần của bạn:

Ngoài những việc giữ gìn giới luật mà tôi vừa kể trên đây hàng ngày các bạn nên cầu nguyện, tụng kinh, tĩnh tâm xét mình, thực tập yoga, công phu thiền định quán tưởng v.v. . để loại trừ bớt những tư tưởng xấu ra khỏi tâm trí mình và phát triển những đức hạnh tốt, bạn chọn phương pháp nào cũng được miễn là có hiệu lực nhiều nhất đối với bạn.

Điều kiện tiên quyết trong phương pháp này là phải thành ý và chánh tâm nghĩa là phải sống thật với lòng mình, thành thật với chính lương tâm mình. Cầu nguyện một cách sâu thẳm trong tinh thần là đối diện với chính tòa thiên lương, nói rõ ràng chỗ yếu kém của tinh thần mình và cầu xin sự phò hộ của một Đấng nào đó mà bạn sùng kính và tin tưởng hơn hết, điều này có nghĩa là làm cho thần của bạn thêm trong sáng, mạnh hơn để nó điều khiển được khí và tinh theo đúng chức năng của nó.

Năng lực tình dục có một sức mạnh huyền bí, nếu biết giữ nó lại trong thân cho đúng cách, nó sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh tâm linh vô cùng phong phú và sáng tạo giống như lộ trình của kẻ đăng sơn khi lên đến đỉnh sẽ mở ra một chân trời bao la trước mắt. (trích LUẬN ĐẠO SƯU TẬP của Hiền Tài NGUYỄN LONG THÀNH)

TÂM NIỆM:

Con người sanh ra bởi sắc dục, chết bởi sắc dục, đó là lẽ thường của thế tục, và thuận theo thế tục thì cứ luân hồi sống đi chết lại triền miên. Kẻ học đạo thì đi ngược lại, có đi ngược mới thành thánh. Muốn cầu đại đạo ắt phải ra khỏi đường mê. Nếu chuyển được tâm háo sắc thành tâm tu học Phật Pháp, từng giờ từng phút không lãng quên việc tu học, thì sẽ sớm đạt Đạo. TINH, KHÍ, THẦN là ba báu vật. Người tu phải biết gìn giữ nó.

 

52. Nguồn gốc và sự hiện diện của rượu trong văn hoá nhân loại ?

Không biết từ bao giờ rượu đã chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa nhân loại. Hiện nay, người ta không biết chính xác rượu có từ bao giờ. Nhưng chắc chắn, nó phải có lịch sử lâu đời. Theo ghi chép và trên những phiến đá từ thời đế chế Babylon cổ ghi lại, cách làm rượu bia đã có cách đây gần 4000 năm. Ở Ai Cập, người ta cũng tìm thấy những dấu tích của rượu từ 5000 năm trước công nguyên

Rượu nồng và cay, hơi đắng (trừ rượu ngọt. Không chỉ là thức uống, nghệ thuật uống rượu được ca ngợi như một thú vui tao nhã. Thi nhân Lý Bạch, người từng được mệnh danh là thi tiên, tửu thánh. Không phải người nào uống rượu cũng muốn say, nhiều người uống rượu chỉ để tiêu sầu vì chán đường công danh, vì đời sống hay tình duyên gặp nhiều khó khăn, trắc trở:

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Với người Tây phương, vì tính cách phong phú, đa dạng của các loại rượu, uống rượu là cả một nghệ thuật thưởng thức. Người VN tuy không sành rượu bằng, nhưng coi tình cảm (cách tiếp đãi nhau) quan trọng hơn chất lượng rượu (loại rượu gì.

Rượu ngon không thể thiếu bạn hiền. “Bạn hiền” trong câu này có nghĩa là bạn tốt, hiểu biết và hợp tính tình. “Bạn nhậu” chưa hẳn đã là “bạn hiền”. Vì sao phái nam thích uống rượu dù nó nồng và đắng? Đó là vì họ muốn thể hiện sức mạnh nam nhi. Có chút men vào người, họ sẽ thấy sảng khoái và điều quan trọng, mượn men rượu để họ cảm thấy mạnh mẽ, dám làm dám nói hơn lúc bình thường.

Bia rượu còn làm đồng nghiệp dễ tâm sự, giúp công việc trôi chảy. Có thể bàn bạc công việc làm ăn một cách thoải mái, không phân đẳng cấp, thân tình và hiệu quả hơn; bên bàn nhậu, họ có thể hàn huyên đủ thứ chuyện...

 

53. Uống bao nhiêu rượu thì an toàn cho sức khỏe ?

Rượu có tính hai mặt. Rượu được dùng nếu uống đúng mực, đúng lúc đúng nơi thì là thức uống giúp hưng phấn, giúp them vui trong tiêc chiêu đãi; nhưng nếu uống nhiều thì nó trở thành thứ độc hại.

Trong rượu có chất gây ức chế thần kinh của con người. Tùy theo mức độ ức chế khác nhau mà khi con người ta bị ngộ độc rượu sẽ có những biểu hiện khác nhau:

- Ngộ độc ở mức độ nhẹ gọi là ức chế tư duy và các hoạt động cao cấp của vỏ não: con người sẽ bộc lộ ra những hành vi, suy nghĩ, cử chỉ bị rối loạn. Vì vậy có những người bình thường ít nói, thận trọng nhưng sau khi uống rượu thì trở nên ba hoa, khoác lác hoặc nói năng quá đà không kềm chế được.

- Nặng hơn nữa thì rượu có thể ức chế toàn bộ thần kinh con người, gây hôn mê sâu thậm chí suy hô hấp gây ảnh hưởng đến các biến chứng khác như tăng huyết áp, thậm chí dẫn đến tử vong.

- Ngoài ra, rượu cũng là thức uống có khả năng gây trạng thái nghiện khiến người ta luôn luôn muốn uống quá liều. Những người nghiện rượu còn chịu một tác hại lâu dài là giảm trí nhớ, tay run. Những người này sẽ bị rối loạn tư duy, tình cảm, nhân cách và dẫn đến mất khả năng làm việc, mất khả năng sinh hoạt bình thường.

Một tác hại khác đối với người nghiện rượu mãn tính là gây xơ gan. Bản thân rượu cũng là chất độc nếu uống ít thì gan có thể xử lý, chuyển hóa được nhưng khi uống nhiều sẽ làm tổn thương, phá hủy tế bào gan, dẫn đến tình trạng xơ gan. Còn nếu uống nhằm rượu không đủ chuẩn, chứa lượng methanol cao v…v thì dù uống ít vẫn bị ngộ độc.

Tác động của rượu đến sức khỏe con người cũng có những mức độ khác nhau. Với người Việt Nam có thể tạng nhỏ thì không nên uống quá 30 ml rượu mạnh một ngày vì như vậy đã mất kiểm soát hành vi lời nói. Thường thì có người uống cả đời nhưng đến cuối đời khoảng 50 - 60 tuổi thì bộc lộ bệnh xơ gan nhưng cũng có trường hợp mới 35 tuổi, sau 15 năm uống rượu liên tục đã bị rồi.

Những khả năng này phụ thuộc vào các yếu tố: uống nhiều hay ít hàng ngày, chế độ ăn uống kèm theo và phụ thuộc vào loại rượu người đó uống nữa. Có loại rượu không tinh khiết, có nhiều tạp chất thì tốc độ phá hủy gan nhanh hơn. Nên nhớ bia có nghĩa là rượu chứa 10 đến 12% độ cồn.

Dân gian có nhiều loại rượu thuốc nhưng để chữa các loại bệnh mãn tính. Rượu mà gọi là rượu thuốc tức là có phần thuốc theo liều lượng và uống ít hơn rượu bình thường, nhưng người ta lại mang rượu thuốc ra chiêu đãi nhau thì rất dễ bị ngộ độc. Ngày Tết hay trong tiệc cưới hỏi, uống bia chút đỉnh là chuyện bình thường nhưng phải biết kềm chế, và phải xác định là uống chút ít cho vui, không cần biểu diễn tửu lượng dù có bị thách đố.

Phải ý thức được điều quan trọng nhất là uống ít, đúng lúc, đúng chỗ; nếu không chính bản thân mình sẽ chuốc lấy những hậu quả khôn lường, biến vui thành buồn, thậm chí bi đát khi gây tai nạn xe cộ hay bị xuất huyết não. Rất nhiều lý do dẫn đến việc nghiện rượu, nhưng người ta quên mất hậu quả tệ hại của việc nghiện rượu:

· Gan bị thoái hóa dần cho đến khi viêm gan, xơ gan, và ung thư gan xuất hiện đưa đến tử vong.

· Bao tử bị viêm loét, gây ra biến chứng xuất huyết bao tử. Rượu cũng là nguyên nhân hàng đầu gây viêm tụy nặng gây hoại tử hoặc chảy máu trong tụy làm tử vong.

· Tế bào não bị tiêu hủy, nói giọng lè nhè; não bộ teo lại, làm suy giảm trí nhớ.

· Bộ máy tim mạch bị tổ thương, dẫn tới suy tim, viêm cơ tim gây tử vong.

· Bia được xem là nguồn cung cấp rất lớn nhân Purin gây tăng acid uric trong máu, gây mất cân bằng trong chuyển hóa acid uric của cơ thể. Bia rượu cùng với thịt còn là nguyên nhân tạo nên bệnh gút (còn gọi là thống phong), gây đau dữ dội ở ngón chân cái, mắc cá chân.

 

54. Vì sao cấm dùng rượu và chất gây nghiện ?

Giới cấm này mới nghe thấy có vẻ không quan trọng, nhưng xét kỹ thấy thật quan trọng, chính vì uống rượu say mà có thể gây phạm bốn giới cấm còn lại là sát sinh, cướp của, nói dối, hiếp dâm.

Giới cấm uống rượu bao gồm cả cấm dùng các thứ ma túy, vì nó cũng làm cho tinh thần người sử dụng mất sáng suốt, trở nên sân si hung hăng không còn biết phải quấy. Người không uống rượu còn tránh được sự hao tốn tiền bạc, thân ít bệnh tật, trí tuệ tăng trưởng, tuổi thọ cao, con cái khoẻ mạnh, và gia đình yên vui.

Dùng một chút, đó chỉ là một việc nhỏ thôi mà ? Việc phạm giới không phải là việc nhỏ. Ngay cả một lượng rượu nhỏ hay thử một tí ma túy cũng làm mất đi sự tỉnh thức. Dùng một lượng lớn, hậu quả tàn phá sẽ nặng nề hơn. Đức Phật cấm uống rượu và các chất gây nghiện vì hai lý do sau:

- Bảo toàn hạt giống trí tuệ: rượu và các chất gây nghiện còn nguy hiểm hơn thuốc độc. Một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại, còn rượu và các chất gây nghiện làm mất giống trí tuệ, màng bảo vệ thể phách từ từ bị rách, vì thế để bảo toàn hạt giống trí tuệ quý báu, Phật cấm uống rượu.

- Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi: Dùng rượu và các chất gây nghiện không phải là tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nhưng chúng có thể làm cho những tội lỗi sanh ra. Khi đã mất lý trí do rượu hay do các chất gây nghiện, thì tội nào cũng có thể phạm được. Tất cả những chất men làm say người, hay chất gây nghiện người đều không được dùng. Ép nài, khuyến khích người khác dùng, tội lại nặng hơn.

Theo HUYỀN BÍ HỌC, đời nay người ta chế tạo đủ thứ để uống làm hại cơ thể, nhất là rượu và các chất gây nghiện. Nó làm hư trí não, bộ óc xác thịt, mà còn làm hại đến cái Vía và cái Trí nữa. Muốn giao thiệp với mấy cõi cao, ta phải bỏ hẳn rượu và các chất gây nghiện.

Người tín đồ tránh luôn thuốc lá và ma túy, vì thuốc lá sanh ra bệnh ung thư phổi, còn ma túy thì làm cho con người sống trong ảo giác, mất ý chí phải lệ thuộc vào nó. Cả ba đều làm hư cái thể Phách tức đệ nhị xác thân.

Con người sanh ra ở trần thế, không phải để hưởng phước, ăn chơi sung sướng, hay bê tha, hoặc phải lo bù đầu, để chạy ăn, chạy mặc, làm lụng khổ cực, chịu đủ bệnh tật, rồi chết là hết chuyện.

Mục đích cuộc đời là sự tiến hóa theo luật thiên nhiên. Con người phải học hỏi, tập luyện cho được toàn thiện, toàn năng, toàn tri, toàn giác. Con người phải lo giải thoát khỏi các sự trói buộc ở các cõi thấp để trở về hiệp nhứt với Đức Thượng Đế, cũng gọi là Phản bổn Huờn nguyên. Sự tiến hóa của con người không ngừng nghỉ, từ chỗ cơ bản đến chỗ toàn vẹn, từ chỗ phân chia đến nơi hiệp nhứt.

Con người chưa biết mình là ai, xuống trần để làm gì, nên lầm lạc, chìu theo Xác thân, nuôi tánh hưởng thụ ích kỷ, cứ xâu xé lẫn nhau, giết hại nhau, rồi tới ngày kia nhắm mắt thì bao công danh, sự nghiệp, vợ chồng, con cái, đều bỏ lại cõi Trần, nắm hai bàn tay trắng mà xuống mồ, chỉ còn mang theo hai chữ TỘI, PHƯỚC. Đúng ngày giờ, Linh hồn phải đầu thai trở lại Trần gian, chịu khổ nữa.

Nếu tìm hiểu Luật Trời để thi hành cho đúng thì mau tiến bộ, bằng không, ta bị buộc chặt vào Luật Nhơn Quả, phải chịu Luân hồi mãi không biết bao giờ mới dứt. “Lành dữ hai đường tùy ý chọn”.

 

55. Vọng ngữ là gì ?

Vọng là sai, Ngữ là lời nói. Vọng ngữ là nói sai sự thật. BẤT VỌNG NGỮ là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời hứa.

Có vài trường hợp phải nói dối để cứu người, không gây hại cho người còn có thể được chấp nhận.

Nói sai sự thật có 4 cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.

· Nói dối hay nói láo, là nói không thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có; việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều nghe nói không nghe, điều không nghe nói nghe; hoặc giả trước mặt khen dồi, sau lưng chê mạt; hay khi ưa thì dịu ngọt thơm tho, khi ghét thì lại đắng cay chua chát. Tóm lại, vì muốn quyền lợi về mình mà lời nói việc làm trước sau mâu thuẫn, trên dưới khác nhau, trong ngoài bất nhứt, đều thuộc về nói dối cả.

· Nói thêu dệt, là việc ít xích cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân hận; là trau tria lời nói, chuốt ngót giọng hay, lên hơi xuống giọng cho êm tai mát dạ để cám dỗ người nghe để dụ dỗ, lường gạt người; cũng có khi là nói biếm, nói bâm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ sở. Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật, thêm bớt, cho đến văn chương phù phiếm, bóng bẩy làm cho kẻ nghe phải loạn tâm, sanh phiền não, đều gọi là nói thêu dệt cả.

· Nói lưỡi hai chiều, hay nôm na hơn, là nói "đòn xóc nhọn hai đầu", nghĩa là đến chỗ này thì về hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì về hùa với bên ấy để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trở lại chống nhau, kẻ ân người nghĩa chống đối, oán thù nhau.

· Nói lời hung ác, là nói những tiếng thô tục, cộc cằn, chửi rủa, làm cho người nghe phải ghê tởm, buồn rầu, sợ hãi và đau khổ.

Tóm lại, từ Vọng ngữ đã trở thành Ác ngữ, đó là lời nói biểu hiện của tâm THAM, SÂN, SI.

Lời nói gây chia rẽ, kích động hận thù là ác ngữ. Ác ngữ bao gồm những lời mắng nhiếc, nói xấu, những lời gây gổ sỉ nhục người khác. Nếu người nào sử dụng ngôn ngữ ác độc để gây tổn thương cho người khác cũng gọi là ác ngữ.

Người biết thực tập không bị kẹt vào những lời ác ngữ vì biết rằng đó là nghiệp của mình. Ăn nói thế nào là quyền tự do của mình nhưng làm khổ hay làm hại người khác bằng lời nói không phải là quyền tự do. Con người có giáo dục để trao dồi nhân phẩm và đức hạnh, nên từ suy nghĩ thiện hãy phát ra lời nói thiện.

 

56. Sao gọi là chánh ngữ ?

Chánh ngữ là cách tu tập được xếp vào hàng thứ ba của bát chánh đạo. Nói một cách tổng quát thì có ba phép tu tập: tu giới, tu định và tu tuệ; chánh ngữ thuộc vào lãnh vực tu giới.

Những lời nói chứa đủ cả Chân, Thiện, Mỹ; đó chính là Chánh Ngữ. Chánh ngữ được định nghĩa bằng bốn đặc tính: Không nói dối, không nói hai lưỡi, không ác khẩu và không nói thêu dệt.

· Thứ nhất là không vọng ngữ, nghĩa là không nói dối.

· Thứ hai là không lưỡng thiệt. Lưỡng thiệt tức là hai lưỡi (double tongues), với người này nói thế này, với người khác thì nói khác. Đôi khi nói cho vừa ý một người, rồi lại nói khác đi để làm vừa ý một người khác, kết quả là nói lời không đúng sự thật.

· Thứ ba là không ác khẩu. Ác khẩu tức là nói to tiếng, thô tục, quát mắng, chửi thề, nói lời tạo đau khổ, bực tức, hận thù cho người khác. Có những người tâm rất tốt, không muốn làm hại ai, nhưng khi nói ra thì như châm chích và gây buồn phiền cho người nghe. Đó là “khẩu xà tâm Phật”?.

Tuy người đời nói thế nhưng thực sự người nói còn quá vô minh cho nên cái miệng mới nói lời ác. Nếu có thói quen ái ngữ thì ta sẽ không nói như vậy. Dầu là tâm ta không có ý hại ai nhưng nếu ta bị tập khí ác ngữ miệng ta vẫn gây ra những đổ vỡ. Cho nên tu tập chánh ngữ rất quan trọng.

· Thứ tư là không ỷ ngữ. Ỷ ngữ tức là nói những lời thêu dệt. Thêu dệt là vẽ vời ra cho sự việc thêm đẹp đẽ hơn gấp bội, hoặc xấu xa hơn gấp bội. Như nói thế nào làm cho mọi chuyện thê lương hơn, giật gân hơn hoặc hấp dẫn hơn mà không cần đúng với sự thật.

Khi nói về chánh ngữ, chúng ta không được nói dối, không được nói để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không được nói lời gây chia rẽ căm thù, không loan truyền những tin mà mình không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều mình không biết rõ.

Phải có can đảm nói ra sự thật về những điều bất công, và phải dùng lời nói của mình để thực hiện hòa giải và thương yêu. Khi thấy hai người không hòa hợp với nhau, ta có thể dùng lời nói hòa giải để đưa họ tới gần nhau. Nói những sự thật tích cực về người này cho người khác nghe sẽ giúp họ hiểu lẫn nhau. Chỉ cần nói sự thật thôi, khi hai bên hiểu nhau hơn họ sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau, sẽ dễ dàng hoà giải với nhau hơn

Chánh ngữ là nói sự thật, nhưng sự thật nhiều khi có thể cũng gây ra đau khổ, nhất là khi người nói đang giận dữ. Cho nên sự thật phải được diễn tả bằng ngôn ngữ khôn ngoan để giúp cho người nghe dễ chấp nhận. Nói một sự thật mà gây tan vỡ và tổn hại thì không phải là chánh ngữ.

Khi nói phải biết tâm lý, dùng thứ ngôn ngữ thích hợp với người nghe, nói đúng lúc và hoàn cảnh thuận tiện, diễn tả cách nào để người nghe hiểu được, chấp nhận được thì mới nên.

Chúng ta học hỏi nghệ thuật diễn đạt nhưng hình thức khéo léo phải chứa đựng chánh tư duy. Nịnh nọt, tán dương, tâng bốc, tuyên truyền sai sự thật đều là tà ngữ. Tóm lại, để tránh khẩu nghiệp làm tổn đức, chúng ta phải có CHÁNH NGỮ, ÁI NGỮ.

Ái ngữ là một bài tập của chánh ngữ. Ái ngữ là lời nói dễ thương (lovable speech) Ái ngữ tức đem sự nhân ái, chân thật, thương yêu biểu hiện thành âm thanh. Con người đến với nhau do có nhiều sợi dây ràng buộc từ kiếp xa xưa hay kiếp này. Sự ràng buộc trở nên tốt đẹp khi mình biết giao tiếp bằng lòng nhân ái, bao dung, chấp nhận.

Định nghĩa có vẻ đơn giản nhưng áp dụng thì khó. Có trường hợp, khi ta nói thật, hữu ích và nhẹ nhàng mà người nghe vì thiếu hiểu biết, vì ngang bướng, vì tự ái khiến họ phật lòng sanh ra xích mích, gây sự. Đức Phật cấm các đệ tử của Ngài không được tham gia vào các cuộc khẩu chiến. Nhiều kinh sách kể chuyện Ngài lưu ý các đệ tử phải thận trọng trong từng lời nói, không được biểu lộ hận thù, ganh ghét. Ngài đã nêu lên một cách minh bạch bốn thái độ phải tuân thủ như sau :

- Nói lên sự thật

- Nói những lời hòa giải, không nói hai lưỡi.

- Nói những lời có ý nghĩa, hữu ích; không nói những lời phù phiếm và vô bổ.

- Nói những lời hòa nhã, lịch sự; không chỉ trích lời nói và việc làm của người khác nếu mình không phải là người có trách nhiệm giáo dục họ (cha mẹ, giáo viên).

 

57. Có nên nói ra tất cả sự thật ? Khi cần khiển trách phải nói thế nào ?

Người đệ-tử phải nói hết sức đúng với sự thật. Đây là một đức tánh cần-thiết hơn hết cho những ai muốn đi theo con đường Huyền-Bí Học.

Phải thật đúng trong khi nhận-xét.
Phải thật đúng trong khi tường-thuật lại mọi việc.
Phải thật đúng trong khi tư-tưởng.
Phải thật đúng trong lời nói, trong việc làm, trong lúc hành-động

Quyển “Ánh-sáng trên đường Đạo” đã dạy: Trước khi được nói trước mặt Chơn-Sư, lời nói phải mất năng-lực làm thương tổn.

Nói một cách khác dễ hiểu, lời nói phải dịu-dàng, không nhục-mạ ai, không làm đau lòng ai. Vậy lời nói phải thật đúng,và phải nhã-nhặn. Đó là sự khắc-kỷ về lời nói, sự hãm mình trong ngôn-ngữ, sự hy-sinh mà mỗi người Chí-nguyện phải thực-hành.

Nếu phải cảnh-cáo hay khiển-trách thì phải làm thế nào? Nếu cảnh-cáo hoặc khiển-trách là những điều có khi phải cần đến thì kết-quả của nó phải có phần bổ ích. Nó phải thức-tỉnh, khuyến-khích sửa đổi, chớ đừng làm cho người có lỗi ở trong tình-trạng ngã lòng, rủn chí. Một đôi khi Chơn-Sư có thể tỏ ra nghiêm-khắc trong lời nói, nhưng như thế là Ngài muốn cho Đệ-tử hiểu cái lỗi đã phạm một cách rành-mạch và rỏ-ràng hơn. Đồng thời Ngài cũng muốn làm cho tâm-hồn Đệ-tử được thêm phần mạnh-mẻ và đầy nghị-lực.

Tuy nhiên chớ nên hiểu lầm sự nói thật đúng với sự nói hành. Không phải phanh-phui những tật xấu của thiên-hạ hay là mắng xối trên đầu người bất kể lớn nhỏ rồi viện lẽ rằng: “mình nói sự thật”. Không nên đem những sự bí-mật trong nghề-nghiệp, trong gia-đình, trong xã-hội, trong nước nhà nói trắng ra để tỏ ra mình tay thạo đời là mình thành thật. Điều đó là khờ dại, là chuốc lấy tai-họa vào thân.

Phải sáng suốt, phải biết phân-biện, phải thận trọng từ chút, vì có nhiều việc dầu biết rõ cũng phải giữ thái-độ im-lặng, vì đó là điều hay hơn hết đặng tránh nhửng phiền-phức về sau có thể xẩy ra.

 

58. Ảnh hưởng lời nói theo huyền bí học ?

“- Con hãy xem coi sự nói hành (nói xấu kẻ khác) làm hại là thể nào. Nó bắt đầu bằng một tư tưởng xấu, và chính tư tưởng xấu đó là một trọng tội rồi. Bởi vì trong mỗi người và mỗi vật đều có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta có thể tăng thêm sức mạnh cho sự tốt hay sự xấu khi ta nghĩ tới chúng nó, và làm như vậy ta có thể thúc giục hay là trì hoãn sự tiến hóa. Chúng ta có thể vâng lời Đức Thượng Ðế hay là chống lại Ngài. Nếu con nghĩ tới điều xấu của kẻ khác thì con đang làm ba việc ác độc một lượt:

· Một là: Con sanh sản chung quanh chỗ con ở đầy những tư tưởng xấu xa thay vì những tư tưởng tốt lành, và như vậy thì con thêm điều khổ não cho đời.

· Hai là: Nếu người đó thật có tánh xấu trong lòng như con nghĩ, thì con nuôi dưỡng tánh xấu đó và thêm sức mạnh cho nó. Vậy thì con làm cho bạn con trở nên xấu thêm thay vì trở nên tốt hơn. Nhưng thông thường người ta không có tánh xấu ấy, tại con chỉ tưởng tượng đó thôi; và rồi tư tưởng xấu của con đến xúi giục y làm quấy, vì thế, nếu bạn con chưa trọn lành thì con làm cho y thành giống in (hoặc là bỏ bớt in) như ý tưởng mà con đã nghĩ về y.

· Ba là: Con sanh sản trong trí của riêng con đầy những tư tưởng xấu thay vì những tư tưởng tốt, như vậy, con trì hoãn sự tiến hóa của con và phô bày cho người có mắt thánh xem thấy một cảnh tượng rất xấu xa, đau lòng, thay vì đẹp đẽ và dễ thương.

Sự nói hành không ngừng ở chỗ gây hại cho người nói hành và nạn nhân của hắn, mà sự nói hành còn cố thôi thúc người nói hành lôi kéo nhiều người khác dự phần vào tội ác của y. Người nói hành lật đật mang chuyện ác độc của y nói cho mấy người ấy và hi vọng rằng họ sẽ tin bằng thật. Rồi thì cả thảy xúm nhau lại rải một dọc tư tưởng xấu vô trí người bị nói hành đau khổ đáng thương kia. Ngày nầy qua ngày kia, cả ngàn người làm như vậy chớ không phải có một người mà thôi đâu.

Bây giờ đây con bắt đầu thấy chuyện nói hành là một tội đê hèn và gớm ghiếc thế nào chưa ? Con phải hoàn toàn tránh nó. Con đừng nói xấu ai; con cũng đừng nghe người ta nói việc xấu của kẻ khác; và hãy bảo cho họ biết một cách êm ái như vầy: Có lẽ việc đó không có thật. Mà dầu có thật, đừng nói đến mới thiệt có lòng nhơn từ hơn nữa".

Đức Chí tôn đã dạy: "Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã". Như các con nói dối, trước chưa dối với người, thì các con đã nói dối với lương-tâm, tức là chơn-linh. Thầy đã nói Chơn-linh ấy đem nạp vào Tòa phán-xét từ lời nói của các con, dầu những lời nói ấy không thiệt hành mặc dầu, chớ tội hình cũng đồng một thể. Nơi Tòa phán-xét, chẳng một lời nói vô-ích mà bỏ, nên Thầy dạy các con phải cẩn-ngôn, cẩn-hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.”

 

59. Giữ giới luật là một phép tu, là con đường đến cõi thiêng liêng hằng sống ?

Đúng như thế. Tân luật của tôn giáo Cao Đài qui định tín đồ phải giữ giới luật vì muốn người tín đồ gột rửa các thể được tinh khiết, nhẹ nhàng, tránh xa những lỗi lầm để được hưởng hồng ân đại ân xá của Đức Chí Tôn trong kỳ ba phổ độ.

Theo Phật giáo, nguyện giữ năm giới cấm cũng là một phép tu cho thân và tâm tinh khiết, tránh phải trầm luân trong biển sinh tử luân hồi. Dưới đây là bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh về năm giới cấm.

- Giới thứ nhất: BẢO VỆ SỰ SỐNG.

Ý thức được những khổ đau do sự giết chóc gây ra, con xin nguyện thực tập nuôi dưỡng lòng Từ Bi để có thể bảo vệ sinh mạng của con người, của các loài động vật, thực vật và môi trường của sự sống. Con nguyện không sát hại, không yểm trợ cho bất cứ một hành động sát hại nào trên thế giới, trong tư duy cũng như trong đời sống hằng ngày của con.

Thấy được rằng tất cả những bạo động do sự sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy nhị nguyên và kỳ thị; con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị và không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trong thế giới.

- Giới thứ hai: HẠNH PHÚC CHƠN THỰC.

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cắp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập san sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trong cả ba lĩnh vực tư duy, nói năng, và hành động của đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do tự mình tạo ra.

Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy rằng hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con, rằng hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, và đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng.

Con đã ý thức được rằng hạnh phúc chân thực phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không đến từ bên ngoài, rằng thực tập phép tri túc con có thể sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại nếu con có khả năng trở về giây phút ấy để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đã có sẵn.

- Giới thứ ba: TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC.

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học hỏi theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và trong xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau, rằng những liên hệ tình dục do thèm khát gây nên luôn luôn mang tới hệ lụy, đổ vỡ cho con và cho kẻ khác.

Con nguyện không có liên hệ tình dục với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức và lâu dài. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và để nuôi lớn các đức Từ, Bi, Hỉ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực để làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ Vô Lượng Tâm ấy, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong những kiếp sau.

- Giới thứ tư: LẮNG NGHE VÀ ÁI NGỮ.

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và do thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con xin nguyện học các hạnh Ái Ngữ và Lắng Nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt nỗi khổ đau của người, giúp đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo.

Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải.

Con nguyện không nói năng gì khi biết cơn bực tức đang có mặt trong con, nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của những bực tức ấy, nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang bực tức.

Con nguyện học nói sự thật. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên những sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể.

Con nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để có thể nuôi dưỡng khả năng hiểu, thương, hạnh phúc, không kỳ thị nơi con và cũng để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

- Giới thứ năm: NUÔI DƯỠNG VÀ TRỊ LIỆU.

Ý thức được những khổ đau do không chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ.

Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phầm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới internet, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và cả chuyện trò.

Chúng ta phải biết những thức ăn và thức uống nào gây tàn phá và làm mất sự điều hòa trong cơ thể. Khi chúng ta ăn những món hiền lành và bố dưỡng thì chúng ta cũng biết. Ðó gọi là chánh kiến. “ (theo NĂM GIỚI TÂN TU – Nhất Hạnh)

 

60. Ăn kiêng và dinh dưỡng cho những linh hồn đang tiến hóa thăng lên ?

Với các bạn, chúng tôi kiến nghị một chế độ ăn kiêng với nhiều rau tươi hữu cơ, một lượng vừa phải hoa quả tươi (không phải nước ép), và protein thông thường, đậu nành lên men và các loại bột supergreen như là tảo xoắn (spirulina) và tảo chlorella.

ĐẬU NÀNH: Ăn đậu tương hữu cơ tự nhiên một cách điều độ là ổn, nhưng nói chung, đậu tương được sử dụng tốt nhất là trong trạng thái lên men, bao gồm món tempeh, tương miso và một vài loại đồ ăn khác. Hãy đảm bảo là đậu nành của các bạn không bị biến đổi gene.

TÀU HỦ và bơ đậu nành có thể nâng lượng hooc-môn sinh dục nữ estrogene. Vì thế, chỉ ăn uống mỗi ngày khoảng 200 ml sữa (tương đương 20g đậu), tối đa 50g, không nên dùng nhiều hơn. Vì bên cạnh những lợi ích, đậu nành cũng có nhiều tác dụng phụ, không có lợi cho sức khỏe ở một số người.

Nói chung, thực phẩm càng ít qua chế biến thì càng tốt cho cơ thể các bạn. Thực phẩm qua chế biến thường có chỉ số glycemic cao, có nghĩa là nó chuyển hóa sang đường quá nhanh trong cơ thể. điều này trút sự tàn phá lên insulin, chất điểu chỉnh lượng đường trong máu.

Cả chứng tăng đường huyết và chứng hạ đường huyết có thể bị gây nên bởi có quá nhiều hay quá ít đường trong đồ ăn kiêng. Một số bác sĩ đề xuất là chỉ cần từ 15 đến 25 gam fructose (đường hoa quả) từ hoa quả hữu cơ hàng ngày. Chọn lựa một chế độ ăn kiêng nhiều rau quả sống, với tối thiểu thức ăn đã qua chế biến và có ít hoặc không có đường, có thể làm bệnh tiểu đường loại II giảm bớt trong một vài tuần, ở hầu hết các trường hợp.

Một vấn đề khác với thực phẩm đã qua chế biến là bản chất các chất hóa học được sử dụng để bảo quản hay làm tăng mùi vị. Đặc biệt cẩn trọng với chất MSG (monosodium glutamate - muối natri của axit glutamic, có hại, thường được thêm vào bột ngọt, hạt nêm bởi một số nhà sản xuất), thường được ngụy trang như là chất điều vị, protein thực vật thủy sinh, và hương vị “tự nhiên”.

Khoảng một nửa dân số phản ứng với chất glutamates và hầu hết không biết điều đó. Các chất hóa học khác cần tránh gồm si rô ngô độ ngọt cao, đường hóa học, sodium benzoate (là một chất dùng để bảo quản thực phẩm), chất BHT (Butylated hydroxytoluene, chất ổn định chống lên men thực phẩm, là chất gây ung thư, có thể dẫn đến bệnh gan, nhiễm sắc thể dị thường, hoặc suy giảm chức năng sinh sản, chất này có trong mỳ ăn liền), chất BHA (Butylated hydroxyanisole, chất phụ gia được thêm vào để chống hư hỏng chất béo trong thực phẩm ), và hầu hết các loại E900 nơi những chất tạo ngọt nhân tạo được phát hiện.

Đồ uống tốt nhất là nước khoáng tự nhiên (natural spring water), đựng trong chai thủy tinh. Một lượng nhỏ rượu hay bia ngon, hoặc 1 hay 2 ly rượu vang đỏ vào những dịp lễ cũng được, nhưng chú ý đến nồng độ a-xít trong thân thể các bạn, khi mà việc uống một lượng cồn có thể nhanh chóng hạ thấp độ pH tổng thể của các bạn.

Các bạn muốn thân thể mình hơi có tính kiềm, nên chọn cao nhất ở mức 7.0 đến 8.0, và uống thêm thật nhiều nước khoáng tự nhiên kèm với nước có độ pH cao. Cách tốt nhất để kiềm hóa thân thể các bạn là ăn nhiều loại rau củ có lá xanh sẫm, cùng với các loại bột tảo supergreen.

Nói về đường, một lượng nhỏ nước mía ép tự nhiên hoặc mật ong là khá ổn. Tránh mọi dạng đường đã qua xử lý và tất cả những chất tạo ngọt nhân tạo. Chắc chắn chất tạo ngọt tốt nhất là đường STEVIA (loại thảo dược tự nhiên chế biến từ cây cỏ ngọt) .

Chúng tôi quan sát thấy rất nhiều các vấn đề của phụ nữ, như là các chu kỳ kinh kéo dài hoặc đau bụng kinh, là do bởi những sự mất cân bằng khoáng chất. Đồng, kẽm, calcium, magiê và selenium là 5 yếu tố đóng góp lớn nhất cho vấn đề sức khỏe do hooc-môn gây ra.

Chúng tôi đặc biệt kiến nghị tránh tất cả các dạng của calcium tổng hợp. Nếu các bạn sử dụng một lượng calcium bổ sung, hãy đảm bảo là nó được lấy từ thực phẩm, tránh hoàn toàn calcium carbonate (thành phần chủ yếu trong các loại thuốc làm giảm độ a-xit trong dạ dày. Hầu hết các chứng ợ nóng sẽ hết khi các bạn giảm thiểu hoặc loại trừ các loại carbohydrate phức hợp và ăn một cách cân bằng các chất carbohydrate, chất béo và protein trong mỗi bữa ăn.

Một vài lời về sôcôla: Một lượng nhỏ sôcôla đen với lượng tối thiểu đường và ít chế biến có thể thực sự có lợi. Tránh sôcôla sữa. Sử dụng các sản phẩm với một lượng cacao trên 70%. Nếu các bạn cảm thấy mệt mỏi sau bữa ăn, hay đặc biệt 2 hay 3 giờ sau khi ăn, nó có thể là vì các bạn ăn quá nhiều, hoặc bởi vì các bạn ăn nhiều carbohydrate phức hợp trong bữa ăn.

Đừng ăn thứ gì nặng nề đáng kể trong vòng 3 giờ trước thời gian ngủ. Một chút đồ ăn nhẹ đôi lúc là ổn. Nên nhớ câu châm ngôn: “Tất cả mọi thứ đều điều độ, bao gồm cả sự điều độ”. Cân bằng việc ăn uống mang lại nhiều lợi ích hơn là ăn kiêng một cách nghiêm khắc.

 

61. Những biểu hiện của sự ăn kiêng trên con đường thăng lên (từ cao nhất đến thấp nhất) ?

1. Hấp thụ sinh lực sống Prana (không cần không khí, nước hay thức ăn).
2. Không cần ăn hay uống (chỉ hít thở không khí, không ăn thức ăn và nước).
3. Chỉ uống nước (không ăn thức ăn).
4. Chỉ ăn các chất lỏng supergreen, các vitamin và các khoáng chất dạng lỏng.
5. Ăn nước ép rau tươi sống.
6. Ăn chay trường - đồ sống (rau tươi và một số nước ép hoa quả tươi).
7. Ăn chay trường - đồ chưa chế biến (hoa quả, rau tươi và các loại hạt).
8. Ăn chay trường - đồ đã chế biến (ngũ cốc, đường, caffeine, v.v...).
9. Ăn chay (gồm thực phẩm hàng ngày và các loại trứng).
10. Ăn chay một phần (ăn hải sản, không thịt đỏ ).

 

62. Làm sao bỏ được nghiện rượu, thuốc lá ?

Nghiện Rượu

:

Điều này nói chung được xem như là thói nghiện mang tính phá hủy nhất trong các thói nghiện chất. Mỗi năm rượu trực tiếp hoặc gián tiếp giết chết hàng trăm nghìn người, hoặc thông qua những tai nạn giao thông, các vụ giết người, hoặc suy gan.

Một lượng nhỏ đồ uống có cồn có thể có lợi cho thân thể con người, nhưng ranh giới rất mong manh. Những người uống rượu để tỏ ra thân mật hơn hay để thư giãn có thể bị phụ thuộc vào một chất để trở nên hướng ngoại và điều đó là thành phần tâm lý của chứng nghiện rượu. Điều này có nghĩa là các bạn càng uống nhiều rượu, thì càng có nhu cầu uống thêm để đạt được trạng thái “hưng phấn”. Trạng thái hưng phấn được kèm theo là một sự suy sụp.

Nghiện CAFFEINE, AMPHETAMINE và các chất kích thích.

Việc sử dụng chất kích thích xuất phát từ sự không thỏa mãn với tình trạng các vấn đề của con người, cả ở phạm vi cá nhân và phạm vi toàn cầu. Nó có thể đơn giản như muốn có nhiều năng lượng hơn bởi vì cuộc sống của họ quá áp lực. Danh sách cho các lý do thật là dài, nhưng tiến trình thì giống nhau. Các bạn bắt đầu phụ thuộc vào cà phê hoặc một chất kích thích khác để duy trì khi năng lượng của các bạn bắt đầu hạ xuống.

Những nguyên nhân lớn nhất của sự thất thoát năng lượng là các vấn đề tình cảm chưa được giải quyết và các lối sống áp lực. Nếu các bạn đang ăn một chế độ ăn kiêng lành mạnh, đã làm sạch hầu hết các tình cảm tiêu cực, và sống một cuộc sống cân bằng, các bạn sẽ có rất nhiều năng lượng trong mọi lúc.

Tái xây dựng lại các quyền ưu tiên của các bạn. Bắt đầu ăn những bữa ăn lành mạnh hoặc uống cà phê đã lọc bỏ caffein thay cho thói quen thường ngày. Học cách nói “Không” để cam kết nhiều hơn là tìm cách điều khiển. Tìm kiếm sự giúp đỡ nếu thích hợp.

Nghiện hút thuốc lá:

Cũng như với rượu, có hai bước để bỏ hút thuốc. Đầu tiên là với thói nghiện về mặt vật lý và sau đó với vấn đề sinh lý. Với chứng nghiện nicotine, sự phụ thuộc về vật lý phải được xử lý bằng cách giảm từ từ lượng nicotine đưa vào cơ thể.

Do đó, chúng tôi kiến nghị giảm một cách từ từ số lượng các điếu thuốc mỗi ngày cho đến khi chấm dứt việc hút thuốc. Sẽ có thể hữu ích khi thay thế việc hút thuốc thông thường bằng cách dùng các ống hút hoặc nhai kẹo cao su. Một miếng cao dán nicotine có thể là có ích cho một số người, nhưng nó không phải là một giải pháp lâu dài cho thân thể khi thân thể vẫn nhận nicotine.