56. Sao gọi là chánh ngữ ?

Chánh ngữ là cách tu tập được xếp vào hàng thứ ba của bát chánh đạo. Nói một cách tổng quát thì có ba phép tu tập: tu giới, tu định và tu tuệ; chánh ngữ thuộc vào lãnh vực tu giới.

Những lời nói chứa đủ cả Chân, Thiện, Mỹ; đó chính là Chánh Ngữ. Chánh ngữ được định nghĩa bằng bốn đặc tính: Không nói dối, không nói hai lưỡi, không ác khẩu và không nói thêu dệt.

· Thứ nhất là không vọng ngữ, nghĩa là không nói dối.

· Thứ hai là không lưỡng thiệt. Lưỡng thiệt tức là hai lưỡi (double tongues), với người này nói thế này, với người khác thì nói khác. Đôi khi nói cho vừa ý một người, rồi lại nói khác đi để làm vừa ý một người khác, kết quả là nói lời không đúng sự thật.

· Thứ ba là không ác khẩu. Ác khẩu tức là nói to tiếng, thô tục, quát mắng, chửi thề, nói lời tạo đau khổ, bực tức, hận thù cho người khác. Có những người tâm rất tốt, không muốn làm hại ai, nhưng khi nói ra thì như châm chích và gây buồn phiền cho người nghe. Đó là “khẩu xà tâm Phật”?.

Tuy người đời nói thế nhưng thực sự người nói còn quá vô minh cho nên cái miệng mới nói lời ác. Nếu có thói quen ái ngữ thì ta sẽ không nói như vậy. Dầu là tâm ta không có ý hại ai nhưng nếu ta bị tập khí ác ngữ miệng ta vẫn gây ra những đổ vỡ. Cho nên tu tập chánh ngữ rất quan trọng.

· Thứ tư là không ỷ ngữ. Ỷ ngữ tức là nói những lời thêu dệt. Thêu dệt là vẽ vời ra cho sự việc thêm đẹp đẽ hơn gấp bội, hoặc xấu xa hơn gấp bội. Như nói thế nào làm cho mọi chuyện thê lương hơn, giật gân hơn hoặc hấp dẫn hơn mà không cần đúng với sự thật.

Khi nói về chánh ngữ, chúng ta không được nói dối, không được nói để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không được nói lời gây chia rẽ căm thù, không loan truyền những tin mà mình không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều mình không biết rõ.

Phải có can đảm nói ra sự thật về những điều bất công, và phải dùng lời nói của mình để thực hiện hòa giải và thương yêu. Khi thấy hai người không hòa hợp với nhau, ta có thể dùng lời nói hòa giải để đưa họ tới gần nhau. Nói những sự thật tích cực về người này cho người khác nghe sẽ giúp họ hiểu lẫn nhau. Chỉ cần nói sự thật thôi, khi hai bên hiểu nhau hơn họ sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau, sẽ dễ dàng hoà giải với nhau hơn

Chánh ngữ là nói sự thật, nhưng sự thật nhiều khi có thể cũng gây ra đau khổ, nhất là khi người nói đang giận dữ. Cho nên sự thật phải được diễn tả bằng ngôn ngữ khôn ngoan để giúp cho người nghe dễ chấp nhận. Nói một sự thật mà gây tan vỡ và tổn hại thì không phải là chánh ngữ.

Khi nói phải biết tâm lý, dùng thứ ngôn ngữ thích hợp với người nghe, nói đúng lúc và hoàn cảnh thuận tiện, diễn tả cách nào để người nghe hiểu được, chấp nhận được thì mới nên.

Chúng ta học hỏi nghệ thuật diễn đạt nhưng hình thức khéo léo phải chứa đựng chánh tư duy. Nịnh nọt, tán dương, tâng bốc, tuyên truyền sai sự thật đều là tà ngữ. Tóm lại, để tránh khẩu nghiệp làm tổn đức, chúng ta phải có CHÁNH NGỮ, ÁI NGỮ.

Ái ngữ là một bài tập của chánh ngữ. Ái ngữ là lời nói dễ thương (lovable speech) Ái ngữ tức đem sự nhân ái, chân thật, thương yêu biểu hiện thành âm thanh. Con người đến với nhau do có nhiều sợi dây ràng buộc từ kiếp xa xưa hay kiếp này. Sự ràng buộc trở nên tốt đẹp khi mình biết giao tiếp bằng lòng nhân ái, bao dung, chấp nhận.

Định nghĩa có vẻ đơn giản nhưng áp dụng thì khó. Có trường hợp, khi ta nói thật, hữu ích và nhẹ nhàng mà người nghe vì thiếu hiểu biết, vì ngang bướng, vì tự ái khiến họ phật lòng sanh ra xích mích, gây sự. Đức Phật cấm các đệ tử của Ngài không được tham gia vào các cuộc khẩu chiến. Nhiều kinh sách kể chuyện Ngài lưu ý các đệ tử phải thận trọng trong từng lời nói, không được biểu lộ hận thù, ganh ghét. Ngài đã nêu lên một cách minh bạch bốn thái độ phải tuân thủ như sau :

- Nói lên sự thật

- Nói những lời hòa giải, không nói hai lưỡi.

- Nói những lời có ý nghĩa, hữu ích; không nói những lời phù phiếm và vô bổ.

- Nói những lời hòa nhã, lịch sự; không chỉ trích lời nói và việc làm của người khác nếu mình không phải là người có trách nhiệm giáo dục họ (cha mẹ, giáo viên).