3. Phước Thiện và Kinh Tế.
ID027630 - Chương : 3. Phước Thiện và Kinh Tế. 🖶 Print this Chương
Sách : Luận Đạo - Nguyễn Long Thành
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

3. Phước Thiện và Kinh Tế.

Một người ăn mày đi đến trước cửa một ngôi nhà chìa tay van xin, một người trong nhà bước ra bỏ vào tay ông một vật gì đó, ông xá lia lịa rồi bước đi. Ông đến trước nhà bên cạnh cũng một giọng khàn khàn thảm thiết ông kêu gọi lòng nhân từ của kẻ khác, cũng có một người trong nhà bước ra bỏ vào tay ông một vật gì đó rồi ông lại đi...

Hai động tác giống y hệt như nhau là cho người ăn mày một món quà, nhưng chưa chắc đã là hai hành động phước thiện. Có thể ban cho kẻ van xin kia một đồng tiền hay bát gạo là cách xua đuổi vẹn toàn danh dự nhứt của người trong nhà, vừa được tiếng đời khen tặng là kẻ có lòng nhân, vừa tránh khỏi phải nghe những tiếng kêu than thống khổ của kẻ hành khất, làm quấy rầy cái cảm giác hả hê về điều gọi là hạnh phúc của người đang sống trong nhà.

Ban cho kẻ khác tiền của chưa hẳn là làm phước thiện, làm việc chỉ vì động cơ muốn được người khác tặng cho mình cái danh làm phước cũng chưa phải là Phước Thiện, mặc dầu kẻ thật sự làm phước thiện thường ban cho người đời tiền của và cũng thường được người đời gọi tên như vậy.

Chính yếu tố tâm linh ngộ được chơn lý hay không, mới quyết định hoạt động bên ngoài là phước thiện hay cái hình bóng của phước thiện, vắng yếu tố bên trong ấy, hoạt động bên ngoài chỉ là sự bắt chước, dẫu rằng đôi lúc sự bắt chước như vậy cũng rất cần thiết cho cuộc sống xã hội.

Phước Thiện không phải là sự bắt chước, làm ra vẽ, mà phải bắt nguồn tự nội tâm rọi sáng vì ánh Đạo tâm. Ngộ được Đạo thì tức khắc có hành động biểu lộ tinh thần phước thiện, cách biểu lộ của mỗi người trong mỗi hoàn cảnh có thể không giống nhau.

Trong hoàn cảnh xã hội hiện tại, phước thiện không có nghĩa đơn thuần là bố thí, một tay bên đây giành giựt chèn ép sự sống của nhơn sanh, tóm thâu tiền của vào nhà, tay bên kia bố thí, thu mười cho một vẫn được tiếng người hay thí của, nhưng hành động đó không phải là phước thiện vẫn là sự tính toán nhiều lời ít lỗ, vẫn là cách thương yêu của cái trí so đo, chưa phải là tình thương vô lượng mà Đức Chí Tôn đã đặt vào tâm mỗi người.

Tình thương ấy khiến chúng ta không thể nào rời bỏ cuộc đời được, chúng ta phải nhập thế, giải quyết những nhu cầu cấp thiết của đời sống thi phàm, tức phải quáng xuyến vấn đề kinh tế. Dĩ nhiên Phước Thiện không phải là kinh tế, nhưng Phước Thiện bao gồm kinh tế. Đời sống con người càng ngày càng chật vật vì chén cơm manh áo, nơi ăn chốn ở...

Trên khắp hoàn cầu đâu đâu nạn nhân mãn cũng chực chờ đe dọa nhân loại. Nếu Phước Thiện là một lối bố thí hời hợt thì nó chẳng giải quyết được cái khổ trước mắt về nạn áo cơm của nhơn sanh, hóa ra tôn giáo chỉ là ảo tưởng siêu hình, hứa hẹn mà không giúp đỡ được gì.

Phước Thiện là một lối hạ thấp giá trị của tôn giáo vào những vấn đề của đời sống thể xác, nhưng chính hành động đó lại là lối nâng cao giá của tôn giáo đến tuyệt vời, mô tả bằng những nấc thang Thập Nhị đẳng cấp Thiêng Liêng mà cái đỉnh cuối cùng của nó đồng thể cùng Chí Tôn vậy.

Nơi mạng sanh của mỗi người chơn thần chỉ có thể nương náu được trong xác thân, lo cho đời sống của xác thân chính là lo cho chơn thần vậy. Một thân thể yếu đuối không thể là cái nhà tốt cho một chơn thần linh hoạt, đời sống của tín đồ nghèo đói thì khối tinh thần của những người trong tôn giáo vì đó mà liên lụy.

Phước Thiện vì vậy là lối giúp cho khối tinh thần của tín đồ thêm vững mạnh, trọng vô bỏ hữu thì chẳng thể huờn nguyên tam bửu, tôn giáo không giải quyết được vấn đề kinh tế thì khó làm cho tinh thần nhơn sanh hiệp cùng Thiên Lý.

Người làm Phước Thiện là người tổ chức đời sống kinh tế cho nhơn sanh với tinh thần vô vụ lợi cho bản thân mình. Buổi ra đi hai bàn tay trắng, lúc trở về cũng trắng tay nhưng nhìn lại quãng hành trình, thấy có những kẻ no cơm ấm áo cùng với những nụ cười thoải mái của nhơn sanh, ấy là công nghiệp của người tu Phước Thiện.

Dĩ nhiên Phước Thiện chẳng phải vỏn vẹn có bao nhiêu đó mà còn nhiều nữa, kể cả những hoạt động thuộc phạm vi thần quyền. Triết lý Phước Thiện nằm trong tứ diệu đề của nhà Phật. Bốn cái khổ chính của con người là sanh, lão, bịnh, tử. Phước Thiện giải quyết từng vấn đề một, trong chủ trương lập nhiều cơ quan thiết dụng cho xã hội, như nhà bảo sanh, dưỡng lão đường, y viện, khách đình hay tổ chức "nhà thuyền" để lo việc tang tế, học đường hay các cơ sở kinh tế.

Chủ trương ấy đã ghi thành luật hẳn hòi nhưng một bộ luật không cũng như triết lý suông, chẳng giải quyết được điều gì cả mà chỉ là nền tảng của công cuộc cải tạo xã hội.

Một kế hoạch dù hay thế mấy, nhưng nếu không có đủ người điều hành đúng mức cũng chưa bảo đảm kết quả. Thành quả của Phước Thiện vì vậy phần nào tuỳ thuộc vào Cửu Trùng Đài là cơ quan giáo hóa nhơn sanh, phải tạo ra được những lớp người có tinh thần Phước Thiện thì mới có kẻ xông pha vào đời, quán xuyến các dịch vụ kinh tế và xã hội, trong tinh thần vô vụ lợi.

Cổng trước là Cửu Trùng Đài, cổng sau là Phước Thiện rồi đến một chân trời bao la có đủ điều kiện cho một đời hằng sống. Phước Thiện vì vậy không phải chỉ là những hoạt động bố thí của cá nhân, như người đời xưa nay thường nghĩ mà nó còn là lối tổ chức đời sống hữu hình của xã hội, lấy tâm linh làm căn bản, đặt đúng vai tuồng quan trọng của kinh tế trong đời sống con người, nó khác với xã hội chủ nghĩa của các nhà duy vật lấy kinh tế làm căn bản.

Đó là một đường lối lấy Đạo làm gốc, nhằm cải tạo xã hội bằng tinh thần đạo đức, thể hiện trong những hoạt động nhập thế vào các lãnh vực xã hội và kinh tế.

Đường lối ấy kêu gọi tinh thần bố thí của cá nhân và tổ chức cho công cuộc bố thí có hiệu năng hơn. Không có tinh thần bố thí của cá nhân thì công cuộc tổ chức sẽ không thành tựu. Vì vậy mà cơ quan Phước Thiện đã lập ra sau Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

Không có được tâm linh giác ngộ thì sự vầy đoàn xung quanh những lợi lộc về kinh tế, chưa hẳn sẽ bảo đảm nổi sự bình an cho những người trong cuộc, vì chính những mâu thuẫn nội tại của các vấn đề kinh tế trong luật cạnh tranh và tham vọng của những phần tử con người trần tục trong cộng đồng, sẽ xô đẩy cả một công trình kiến tạo xã hội vào sự rối loạn và tê liệt.

Những cuộc khủng hoảng về kinh tế quy mô trong những tổ chức tôn giáo sẽ đưa đến những hậu quả tàn hại khôn lường về đức tin của tín đồ và uy quyền của Giáo Hội.

Yếu tố keo sơn mầu nhiệm thực hiện nổi công cuộc cải tạo xã hội nầy chính là đức tin và sự khôn ngoan của tín đồ. Tài nguyên của tổ chức Phước Thiện chính là tài nguyên của cá nhân nằm lẻ tẻ khắp đó đây, đức tin và sự khôn ngoan vầy đoàn họ lại, kéo theo sự tập trung tài nguyên và nhân lực vào một cuộc chung sống quy mô.

Khối tài nguyên được tập trung ấy có thể phân tán về phương diện tồn trữ, nhưng về phương diện vầy đoàn nó là một khối của cộng đồng, chẳng phải của cá nhân tuy rằng cá nhân có quyền hưởng thụ trên đó.

Lấy tiền của nhơn sanh mà lo cho nhơn sanh, công nghiệp của người làm Phước Thiện ở chỗ lo lắng ấy. Sự tập trung tài lực nào cũng tạo nên một sức mạnh, khéo sử dụng thì bảo tồn vạn linh, không khéo sử dụng thì chính sức mạnh ấy lại làm khổ sở cho nhau.

Đã mang lấy mãnh hình hài nầy, ai ai cũng phải có ăn mới sống, có mặc mới ấm, phải có nhà ở mới tránh được gió sương, cho nên kẻ nào nắm chặt quyền phân phát áo cơm trong tay, kẻ ấy có cơ hội bắt buộc thể xác nhơn sanh phải tùng phục quyền hành của mình, dù không bao giờ được toại ý trọn vẹn.

Phước Thiện là đường lối chính trị giải thoát khổ nạn của nhơn sanh bị của tiền vật chất ràng buộc vào quyền hành của tham vọng, nó phá vòng ràng buộc chớ không nhằm thay đổi vai trò chủ nhân ông nắm quyền phân phát áo cơm.

Nó nhắm đến sự điều hòa đời sống kinh tế của nhơn sanh, vì vậy can dự bằng chính sách và đường lối vào tổ chức kinh tế, nó không nhằm thỏa mãn tham vọng làm chủ của tiền vật chất tại thế gian của con người, nên không chấp nhận sự cạnh tranh sống chết giữa những con người và tổ chức mệnh danh là Phước Thiện.

Phước Thiện không phải là một đường lối kinh tế tư bản cũng không phải là lối kinh tế rập khuôn theo kiểu kinh tế của xã hội chủ nghĩa, nó là một cách thực hiện đường lối Chánh Trị Đạo.

Tại sao nó không tùng theo một khuôn mẫu kinh tế nào của thế giới cả? Bởi tự căn bản Đạo là con đường để cho các bậc Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo đó mà hồi cựu vị, để cho bậc nhơn phẩm do theo đó mà lánh khỏi luân hồi, nên đời sống kinh tế tuy cần ích cho sự sống thể hài, nhưng chính nó lại là sự ràng buộc con người với cõi tục.

Phước Thiện là một lối mở ra nên tinh thần hoạt động phải đặt trên căn bản siêu thoát nghĩa là cứu cánh, không phải là vấn đề cơm áo, nhà cửa hay quyền hành điều khiển mà là một sự vượt lên trên tất cả các thứ ấy để trở về cùng cảnh hư vô.

Nó không được phép nhầm lẫn cứu cánh với phương tiện. Cái quyền có của trở thành vô nghĩa đối với người làm phước thiện, tuy rằng đường lối ấy không tước đoạt quyền tư hữu của người sống trong cộng đồng, cũng không buộc họ phải hy sinh trọn vẹn cho một tương lai hứa hẹn ở thế hệ mai sau hay ở xứ Thiên Đàng, trái lại hễ làm thì có ăn, hợp quần trong tình thương, tức là có sức mạnh và mức sản xuất sẽ gia tăng, nhu cầu vì vậy được thỏa mãn.

Và sự thỏa mãn ấy chỉ là một vấn đề trong nhiều vấn đề khác của đời tu, cho nên đạt đến tình trạng sung mãn về kinh tế, Phước Thiện không phải là tự mãn mà nó chỉ là một tư thế giúp cho con người đừng bị vướng kẹt vào đời sống trần tục nầy.

Con người vốn từ đời sống vĩnh cửu mà ra, chỉ hiện thực trên mặt địa cầu trong khoảng thời gian ngắn, nên đời sống kinh tế liên hệ đến cái sống thể hài cũng chỉ hiện thực trong những khoảng thời gian ấy. Phước Thiện giải quyết nó đúng với tinh thần tạm bợ của một lần thác sinh, nên nó không nhằm đến sự chiếm đoạt của cải vật chất tại thế gian.

Bởi nhịp độ gia tăng nhân số trên toàn cả địa cầu, cùng với những đòi hỏi tiện nghi cần thiết cho cuộc sống ngày càng tấn hóa của nhân loại, vấn đề kinh tế trở nên nghiêm trọng, nên người tu phải giải quyết nó chớ không chạy trốn.

Phước Thiện ra đời là vì vậy nó giải quyết toàn vấn đề chớ không phải chỉ là những phản ứng lẻ tẻ có tính cách "động lòng trắc ẩn" của một từ tâm trước cảnh ngộ éo le chợt thấy trên đường đời. (Trích trong tài liệu "TRÊN ĐƯỜNG NHẬP THẾ" của Nguyễn-long-Thành)