2. Lược Sử Đạo Cao Đài
ID027651 - Chương : 2. Lược Sử Đạo Cao Đài 🖶 Print this Chương
Sách : Đời Sống Của Người Tín Đồ Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

2. Lược Sử Đạo Cao Đài

 

A. Lịch sử lập giáo

Đạo Cao Đài là một tôn giáo lớn phát xuất tại Việt Nam từ năm 1926, còn có danh gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

1. Quan phủ Ngô Văn Chiêu là một người có khuynh hướng tu Tiên, thường hay lập Đàn cầu cơ thỉnh Tiên về học Đạo và xin thuốc trị bệnh, ông có gặp được Đức Cao Đài và có thờ Ngài.

Đức Cao Đài có hiện hình Thiên Nhãn (con mắt) làm một huyền diệu cho ông đủ tin tưởng và lấy đó làm biểu tượng thờ phượng. Sự việc này đã xảy ra tại đảo Phú Quốc trong khi ông đang làm quan cho chính quyền Pháp vào năm 1921.

Quan phủ Ngô Văn Chiêu là đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài, sau có thêm một số đệ tử nữa cùng tu hành với ông, nhưng những hoạt động của những vị này chưa phát triển thành một tôn giáo.

2. Từ năm 1924-1925, phong trào xây bàn cầu cơ chấp bút lan rộng và phổ thông hơn trước. Tại Sài Gòn, một số người Việt Nam làm công chức cho Pháp, thường tụ họp nhau lại xây bàn thỉnh vong linh người quá cố về họa thi để tiêu khiển, và hỏi thăm về thế giới vô hình cùng tương lai vận mạng của chính mình và dân tộc

Trong số các chơn linh giáng hạ có một chơn linh đến với một điển lực mạnh phi thường, không chịu xưng danh mà chỉ xưng là ông A,Ă,Â. Mãi đến đêm Noel 1925 ông A,Ă, mới cho biết chính là Ngài Đức Chí Tôn, là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngài đến để lập Đạo Cao Đài.

Ngài xưng danh như sau: “Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương”.

Từ đó Đức Chí Tôn thường giáng dạy về đạo lý, chỉ biểu cách thành lập Hội Thánh, phong tước phẩm cho những chức sắc buổi ban sơ cùng thâu nhận đệ tử. Các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Lê Văn Trung... và một số bạn bè trong nhóm trở thành chức sắc lớn trong Hội Thánh. Quan trọng hơn hết là vai trò của Hộ Pháp Phạm Công Tắc giữ phân nửa quyền hành trong Đạo.

Đến ngày 01-9 Bính Dần (07-10-1926) 28 người đại diện ký tên vào Tuyên Ngôn Khai Đạo gởi lên nhà cầm quyền Pháp. Kể từ đây Cao Đài đã trở thành một tôn giáo về mặt pháp lý tại thế gian.

Tóm lại, lịch sử lập giáo Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) có những thời điểm chính như sau:

. Từ năm 1921 Quan phủ Ngô Văn Chiêu đã biết thờ Đức Cao Đài.

. 1925 Đức Cao Đài xưng danh là Ngọc Hoàng Thượng Đế và tuyên bố Giáo Đạo Nam Phương.

. Đạo Cao Đài thành hình một tôn giáo, bành trướng mạnh mẽ từ 1926 trở đi, trung ương đặt tại Tây Ninh.

 

B. Tổ chức Cao Đài

1. Phân quyền

Cao Đài giáo quan niệm rằng trong cơ trị thế có hai quyền hành là Thiên Thượng và Thiên Hạ.

- Quyền Chí Linh là quyền hành của Đức Chí Tôn và các Đấng trọn lành tức là Thiên Thượng.

- Quyền Vạn Linh là quyền của ba hội: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng Hội hiệp lại thể cho Thiên Hạ.

Bởi Đạo Cao Đài là dân chủ nên quyền Chí Linh (tức Thiên Thượng) cho Vạn Linh (tức Thiên Hạ) rộng quyền tự lập luật mà tu hành.

2. Tổ chức

Về tổ chức có ba đài: một vô hình, hai hữu hình.

Bát Quái Đài:

Thuộc về vô hình, do Đức Chí Tôn và các Đấng trọn lành điều khiển, vận dụng năng lực thần bí trong vũ trụ để thúc đẩy cơ sanh hóa và giục tấn các đẳng chơn hồn.

Hiệp Thiên Đài:

Là cơ quan bán hữu hình, vì nơi đây có chức sắc hữu hình làm việc, được thông công với Bát Quái Đài để nhận lệnh hay lời chỉ giáo của quyền Chí Linh.

Đứng đầu Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp. Hiệp Thiên Đài có nhiệm vụ bảo thủ chơn truyền luật pháp của Đạo.

Toàn thể chức sắc làm việc trong hệ thống Hiệp Thiên Đài hiệp lại thành Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

Cửu Trùng Đài:

Là cơ quan hữu hình, có nhiệm vụ tổ chức đời sống của tín đồ cho phù hợp với chơn pháp Tam Kỳ Phổ Độ, cầm quyền hành chánh, thi hành luật pháp Đạo, truyền bá đức tin.

Đứng đầu Cửu Trùng Đài là Giáo Tông. Giáo Tông là Anh cả của mọi tín đồ. Về mặt hữu hình, Hộ Pháp là em của Giáo Tông, nhưng về phần Thiêng Liêng thì đồng vị. Toàn thể chức sắc làm việc trong hệ thống Cửu Trùng Đài hiệp lại thành Hội Thánh Cửu Trùng Đài, có cả nam phái và nữ phái quyền hành phân biệt.

Hội Thánh Phước Thiện:

Nằm bên Hiệp Thiên Đài và đặt dưới sự lãnh đạo tối cao của vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài là Đức Hộ Pháp.

 

1). Tổ chức Hội Thánh Cửu Trùng Đài

Trung ương đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh, địa phương gồm các tỉnh ở miền Trung và Nam phần Việt Nam, một số tỉnh ở miền Bắc. Ở ngoại quốc cũng có vài nước có cơ sở Đạo Cao Đài như: Pháp, Nhật, Cam Bốt, Congo...

Tại Trung ương có 9 viện, gọi theo chữ Hán là Cửu Viện chia đều cho 3 phái:

Phái Thái điều khiển:

- Hộ Viện coi về tài chánh.
- Lương Viện coi về lương thực.
- Công Viện coi về đường sá, dinh thự.

Phái Thượng điều khiển:

- Học Viện coi về giáo dục.
- Y Viện coi về y tế.
- Nông viện coi về canh nông

Phái Ngọc điều khiển:

- Hòa viện coi về an ninh, hoà giải.
- Lại viện coi về hành chánh đạo.
- Lễ viện coi về tế tự, nghi lễ.

Tại địa phương có:

- Trấn Đạo gồm nhiều Châu Đạo (Tỉnh Đạo)
- Châu Đạo gồm nhiều Tộc Đạo (Quận Đạo)
- Tộc Đạo gồm nhiều Hương Đạo (Xã, Làng Đạo)
- Hương Đạo gồm nhiều Ấp Đạo.

(Tại Châu Thành Thánh Địa, Phận Đạo tương đương với Tộc Đạo).

Đơn vị hành chánh là Hương Đạo, có công cử Bàn Trị sự điều khiển tất cả mọi việc trong Hương Đạo. Những chức vụ trong tổ chức Bàn Trị Sự gồm có:

- Chánh Trị Sự nắm quyền hành chánh và luật lệ trong Hương Đạo.
- Phó Trị Sự nắm quyền hành chánh trong Ấp Đạo.
- Thông Sự nắm quyền luật lệ trong Ấp Đạo.
- Và một số Biện Đạo, Tuần Đạo, Thư Tín...

Theo luật Đạo, tín đồ liên lạc thường xuyên nhất với các chức việc Bàn Trị Sự trong các dịp quan, hôn, tang, tế. Bàn Trị Sự là cơ quan có thẩm quyền xét định và cấp giấy chứng nhận về hạnh kiểm, đức tính của tín đồ. Giấy này rất quan trọng mọi hồ sơ về tôn giáo.

Chức việc Bàn Trị Sự có quyền phân xử những vụ tranh chấp giữa các tín đồ với nhau, thường thường dưới hình thức hòa giải, nếu không sẽ đề trình thượng cấp xét định.

 

C. Tôn chỉ - Mục đích

Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài để dạy cho con người làm lành lánh dữ, lập công bồi đức, để trở thành người hiền, người tốt tại thế gian, khi chết chơn linh được trở về ngôi vị cũ trong cõi thiêng liêng hằng sống, tùy theo công đức ít nhiều mà đạt đến địa vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Còn đối với xã hội, Ngài muốn cho nhơn loại có tư tưởng đại đồng, biết thương yêu nhau, coi nhau như anh em một nhà, thờ một ông Cha chung.

Ngài xác định tất cả các Đạo giáo, các giáo thuyết đã có từ trước đến nay đều do chính Thiên ý Ngài đã lập ra. Sở dĩ có sự khác biệt giữa các đạo giáo là vì phong tục, tập quán, trình độ dân trí của các dân tộc khác nhau, tùy theo thời kỳ và tùy theo từng vùng đất trên địa cầu.

Nay chính mình Đức Chí Tôn đến, ngài gom góp những cái hay của tất cả Đạo giáo, chỉ dạy thêm những điều mới lạ mà lập thành Tam Kỳ Phổ Độ nên gọi là Quy Nguyên Tam Giáo (Nho Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo), Phục Nhứt Ngũ Chi (Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo).