5. Thờ Cúng

 

A. Cúng Đại Đàn tại Thánh Thất

Tân Luật Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ điều thứ 19:

Buộc mỗi tín đồ phải đến Thánh Thất tham dự các đàn cúng vào ngày mồng một và rằm mỗi tháng âm lịch và sau đó nghe giảng đạo. Trường hợp bận việc riêng bất khả kháng thì được chế giảm.

Để kiểm soát sự siêng năng chầu lễ Đức Chí Tôn của tín đồ, Hội Thánh đã cho áp dụng thể thức chứng sổ lưu niệm mỗi lần dự lễ. Có hai hình thức cúng đàn: Đại đàn và Tiểu đàn.

Nghi tiết cúng Đại đàn tại các Thánh Thất được tóm lược như sau:

- Đến giờ cúng Lễ vụ đánh ba hiệp trống, mỗi hiệp 12 hồi, mỗi hồi 12 tiếng. Giờ cúng được ấn định vào thời Tý (00 giờ) hoặc thời ngọ (12 giờ trưa). Trước khi đánh trống phải đọc câu chú kệ trống ( )

- Xong đến 3 hiệp chuông cũng y như đánh trống ( )

- Khi chuông đổ được hai hiệp, chức sắc, chức việc và tín đồ xếp thành hàng đi vào Thánh Thất, hai tay bắt ấn tý ( ) theo thứ tự nam tả nữ hữu (nhìn từ trong ra ngoài), phẩm lớn trước, phẩm nhỏ sau. Tất cả đứng dọc theo hai bên mặt quay vào nhau.

- Chuông dứt, Lễ vụ khắc ba tiếng chuông báo hiệu nhập đàn, tất cả đều xá một xá, xong bước vào giữa chánh điện, mắt nhìn về phía Thiên Nhãn.

- Nhạc Tấu Huân Thiên: Ban nhạc trỗi bản hòa tấu rất đặc biệt kéo dài khoảng nửa giờ. Mọi người đều đứng yên tại vị trí của mình, cố gắng giữ tâm hồn cho yên tịnh.

- Niệm Thánh: dứt phần nhạc, nghe theo tiếng chuông của Lễ vụ, tất cả đều xá ba xá, quì xuống đưa tay lên trán niệm “Nam Mô Phật”, đưa qua bên trái niệm “Nam Mô Pháp”, đưa qua bên phải niệm “Nam Mô Tăng”, để tay giữa ngực niệm:

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
Nam Mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần”.

Mỗi câu niệm phải cúi đầu kỉnh lễ.

- Đọc kinh: niệm Thánh xong, đồng nhi bắt đầu đọc các bài kinh sau đây:

Niệm Hương:

“Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp...”

Khi dứt lạy 12 lạy, nghĩa là ba lần cúi xuống, mỗi lần bốn gật (vì mỗi gật tượng trưng cho một lạy), mỗi lần gật đầu đều niệm chú Chí Tôn: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Chú ý: Khi cúi xuống lạy, hai bàn tay xòe ra úp sát mặt đất, giữ cho hai ngón cái chéo nhau. Khi ngẩng đầu lên thì bắt ấn tý lại như cũ.

Khai Kinh:

“Biển trần khổ vơi vơi trời nước...”

Khi dứt cúi đầu chớ không lạy.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế:

“Đại La Thiên Đế...”

Khi dứt lạy 12 lạy như trên, niệm chú Chí Tôn.

Phật Giáo Tâm Kinh:

“Hỗn độn Tôn Sư...”

Lạy 9 lạy, nghĩa là 3 lần cúi xuống mỗi lần 3 gật. Niệm chú lạy mỗi gật “Nam Mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Tiên Giáo Tâm Kinh:

“Tiên Thiên khí hoá...”

Lạy 9 lạy như trên. Niêm chú: “Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn”.

Thánh Giáo Tâm Kinh:

“Quế hương nội điện...”

Lạy 9 lạy. Niệm chú “Nam Mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn”.

Dâng Tam Bửu:

Đồng Nhi đọc các bài thài sau đây:

. Dâng Hoa: “Từ bi giá ngự rạng môn Thiền...”

. Dâng rượu: “Thiên ân huệ chiếu giáng thiền minh...”

. Dâng Trà: “Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương...”

Dứt mỗi bài thài lạy 4 lạy, nghĩa là chỉ có một lần cúi xuống, 4 gật.

Lời cầu nguyện khi dâng Tam Bửu như sau:

. Khi dâng hoa: cúi đầu xuống cầu nguyện Chí Tôn như sau:

“Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng”.

. Khi dâng rượu:

“Con xin dâng cả trí thức tinh thần của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng”.

. Khi dâng trà:

“Con xin dâng cả linh hồn con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng”.

Và cầu nguyện luôn câu sau đây:

“Cả linh hồn, cả trí não, cả hình hài con, Thầy đào tạo đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán của Thầy định.

Dâng Sớ:

Sau khi đọc sớ và đốt sớ xong, lạy 12 lạy, niệm chú Chí Tôn.

Đọc bài kinh Ngũ Nguyện:

Nam Mô:
Nhứt nguyện Đại Đạo Hoằng Khai,
Nhì nguyện phổ độ chúng sanh.
Tam nguyện xá tội đệ tử.
Tứ nguyện thiên hạ thái bình,
Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh.

Niệm chú Chí Tôn.

Phần nghi lễ cúng tế xong, tất cả đứng dậy xá ba xá, quay ra sau lưng (nhớ quay đồng lượt phía bên vai trái) xá bàn Hộ Pháp một xá (sau Đức Hộ Pháp có chữ "KHÍ") lui về hai bên đàn nội, nam tả nữ hữu (nhìn từ trong ra ngoài).

Phần thuyết đạo của chức sắc (nếu có)

Bãi Đàn:

Lễ vụ đến dọng chuông bãi đàn và kệ các câu chú như sau :

. Đàn tràng viên mãn chức sắc quy nguyên vĩnh mộc từ ân phong điều võ thuận.
(đánh một tiếng Đại hồng chung)

. Thiên phong hãi chúng quốc thới dân an hồi hướng đàn trường tận thâu pháp giái.
(đánh một tiếng Đại hồng chung)

. Án dà ra đế dạ ta bà ha
(đánh một tiếng Đại hồng chung)

Tất cả nghiêm trang xá đàn, đoạn theo thứ tự ra về. (Người đứng phía trong ra trước, ngoài ra sau, y như trật tự khi vào Thánh Thất).

 

B. Cúng Đại Đàn tại Tòa Thánh

Đến tại Tòa Thánh Tây Ninh là nơi trung ương, nghi tiết cúng đại đàn có phần khác hơn đôi chút ở những điểm sau:

1. Hoán Đàn:

Khi vào bên trong Đền Thánh vẫn giữ theo thứ tự nam tả nữ hữu (nhìn từ trong ra ngoài). Cả chức sắc, chức việc và đạo hữu của mỗi phái nam nữ đều đi thành vòng tròn ngược chiều nhau, nam đi theo nam, nữ đi theo nữ, gọi là đi hoán đàn.

Khởi sự từ chỗ bước vào, ngang ngai Hộ Pháp, phái nam đi thẳng lên phía Bát Quái Đài, đi ngang qua Cung Đạo (khoảng trống giữa bàn thờ Đức Chí Tôn và ngai Giáo Tông) vòng qua bên phái nữ, xuống tận ngai Hộ Pháp, đi ngang qua trước mặt ngai, trở lại vị trí bắt đầu khi nãy tức là giáp được một vòng, rồi mới tiến đến vị trí của mỗi người tùy theo hàng phẩm lớn nhỏ để chờ khởi sự cúng.

Phái nữ cũng đi thành một vòng như vậy nhưng ngược chiều phái nam.

Ý nghĩa của pháp đi hoán đàn được Đức Hộ Pháp giải thích như sau:

Tại sao phải hoán đàn nam nữ chen nhau? Đó là bùa pháp luân thường chuyển.

Tại sao Chí Tôn để bùa pháp luân thường chuyển tại thế này, đặng chi vậy?

"Hiện đã mãn Hạ Nguơn tam chuyển, Thượng Nguơn tứ chuyển ta gọi là Khai Nguơn nên phải để cho pháp luân chuyển. Ta đã biết thời Tiên Thiên Khí và Hậu Thiên Khí chuyển làm một mới đạt đạo đặng.

Cả thảy đều biết qua Cửu Trùng Đài nầy là Cửu Thiên Khai Hóa, còn cung trên kia là Cung Đạo, từ trước đến nay mỗi người mãi miết tìm Đạo mà Chí Tôn để giữa đó, trước mắt mà không biết.

Đi chín từng Trời để cho phần hồn đi cho cùng tột cửu phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật tức là Phật xuống phàm, rồi phàm trở lại Phật, chuyển luân như vậy, bí pháp gọi là đạt Đạo”. (Lời thuyết Đạo. Q.2 tr. 28)

2. Khi cúng tại Đền Thánh:

Được ngồi xếp bằng thay vì quì như ở các Thánh Thất.

3. Chỉnh sát cúng phẩm:

Trong thời gian Nhạc Tấu Huân Thiên, khi Ngọc Đàn xướng “Chỉnh sát cúng phẩm” thì một vị chức sắc Hiệp Thiên Đài rời hàng ngũ lên lầu Hiệp Thiên Đài quan sát các cúng phẩm có đầy đủ và tinh khiết rồi hành pháp trấn thần các cúng phẩm, xong rồi trở lại vị trí cũ và giao cho sáu vị Lễ Sĩ gồm hai mặc áo vàng, hai mặc áo xanh, hai mặc áo đỏ, đội mão lễ, cầm lồng đèn (màu theo sắc áo của mình) đi từ phía trên lầu Hiệp Thiên Đài xuống trước ngai Hộ Pháp rồi đi theo đường nội tâm chánh điện lên phía Bát Quái Đài.

Theo sau là một vị Giáo Sư phái Ngọc mang một cái hộp đựng Tam Bửu (hoa, rượu, trà), sáu Lễ Sĩ và một vị Giáo Sư đi tới ngang phẩm Phối Sư thì dừng lại đấy, phân ra hai bên chờ tới khi dâng Tam Bửu xong sẽ trở về chỗ cũ.

Khi nhạc tấu Huân Thiên dứt, có một vị chức sắc Hiệp Thiên Đài lên thỉnh hương tại Bát Quái Đài đem xuống ngoại nghi (ngang phẩm Phối Sư), Lễ Sĩ điện hương.

Khi Lễ Sĩ điện dâng hoa lên nội nghi (tại cung Đạo) thì vị Chánh Phối Sư phái Ngọc tiếp lấy bình hoa lên đứng phía sau ngai của Ngọc Chưởng Pháp, ngó ra phía Hiệp Thiên Đài đưa cao ngay trán trình cho chức sắc và tín đồ biết để dâng lời cầu nguyện.

Khi dâng rượu thì vị Chánh Phối Sư phái Thượng tiếp lấy chung rượu lên trình như Ngọc Chánh Phối Sư, nhưng đứng sau ngai Giáo Tông.

Khi dâng trà thì Chánh Phối Sư phái Thái tiếp lấy chung trà lên trình như Ngọc và Thượng Chánh Phối Sư, nhưng đứng phía sau ngai Thái Chưởng Pháp.

 

C. Sự khác biệt về nghi tiết cúng Tiểu Đàn và Đại Đàn

1. Tại Tòa Thánh

Tiểu Đàn khác với Đại Đàn ở những điểm sau đây:

- Nhạc đờn 3 bài (thay vì 7 bài hoặc 5 bài như trong các kỳ Đại Đàn)
- Lễ Sĩ không đăng điện.
- Không lập ngoại nghi.
- Không đi hoán đàn.

2. Tại Thánh Thất

Tiểu Đàn tại Thánh Thất khác Đại Đàn ở những điểm sau:

- Nhạc đờn 3 bài thay vì 7 bài hoặc 5 bài.
- Lễ Sĩ không đăng điện.
- Không lập ngoại nghi.

 

D. Cúng Đàn tại Điện Thờ Phật Mẫu

Khi vào chầu lễ Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng tại Điện Thờ Phật Mẫu, tất cả mọi người đều mặc áo dài trắng, khăn đóng đen đối với nam phái; nữ phái mặc áo dài trắng thường, dầu cho chức sắc cũng vậy.

Về phương diện hình thức, nơi đây không còn phân biệt phẩm tước, mọi người đều bình đẳng, ai đến trước quì trước, đến sau quì sau.

1. Cách Nhập Đàn

Đúng giờ cúng, Lễ viện đổ 3 tiếng Đại Hồng Chung và đọc kệ lần thứ nhứt như sau:

. Văn chung khấu hướng, huệ trưởng càn khôn. (dọng một tiếng chuông)
. Pháp giái chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn. (dọng một tiếng chuông)
. Án dà ra đế dạ ta bà ha. (dọng một tiếng chuông)

Kệ chuông vừa dứt chư thiện nam tín nữ sắp đặt chỉnh tề, nam thì sắp hàng bên bàn thờ chư chơn linh nam phái, nữ thì sắp hàng hai bên bàn thờ Đức Phật Mẫu và chư chơn linh nữ phái.

Chuông đổ lần thứ hai, cũng 3 tiếng với các câu kệ như sau:

. Nhứt vi u ám tất giai văn.
. Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
. Án dà ra đế dạ ta bà ha.

Dứt mỗi câu dọng một tiếng Đại Hồng Chung.

Khi tiếng chuông cuối cùng vừa dứt tất cả xá đàn một xá, bước vào trong sắp thành hàng ngó lên bàn thờ.

2. Nhạc Tấu Huân Thiên

Nhạc đờn 5 bài dứt, Lễ viện khắc chuông mọi người kỉnh ba xá quì xuống.

3. Mật niệm Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng

(Nhớ là không có lấy dấu Phật, Pháp, Tăng). Niệm như sau:

. Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn (xá một xá).
. Nam mô Cửu Vị Tiên Nương (xá một xá).
. Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh (xá một xá).

4. Đọc các bài kinh sau đây:

. Niệm Hương:
“Đạo gốc bởi ...”

Khi đọc dứt kinh lạy 9 lạy (lạy 3 lần, mỗi lần 3 gật, mỗi gật niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn)

. Khai Kinh:
"Biển trần khổ vơi vơi trời nước .. ."

Khi đọc dứt câu, cúi đầu chớ không có lạy.

. Phật Mẫu chơn kinh:
“Tạo Hóa Thiên huyền vi Thiên Hậu.. .”

Khi đọc dứt câu kinh lạy 9 lạy (lạy 3 lần, mỗi lần 3 gật, mỗi gật niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn).

. Dâng Tam Bửu (Hoa, Rượu, Trà)

Chú ý: Bài dâng hoa câu thứ tư phải đọc: “Cúi mong Phật Mẫu rưới ân thiên” thay vì đọc “Cúi mong Thượng Đế rưới ân thiên”.

Dứt mỗi bài thài lạy 9 lạy (lạy 3 lần, mỗi lần 3 gật, mỗi gật niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn).

5. Sớ Văn thượng tấu

Đọc sớ và đốt sớ xong, lạy 9 lạy (lạy 3 lần, mỗi lần 3 gật, mỗi gật niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn).

6. Ngũ nguyện

Nam mô:
Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai,
Nhì nguyện phổ độ chúng sanh,
Tam nguyện xá tội đệ tử,
Tứ nguyện thiên hạ thái bình,
Ngũ nguyện Thánh Thất an ninh.

Đọc ngũ nguyện xong, lạy 9 lạy (lạy 3 lần, mỗi lần 3 gật, mỗi gật niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn)

Đứng lên xá ba xá trở ra sắp thành hàng tam ban, nam theo nam, nữ theo nữ.

7. Kệ chuông Bãi Đàn

(Y như câu kệ tại Đền Thánh và Thánh Thất, cách dọng chuông cũng y như vậy).

Xong mọi người từ từ xá Đàn trở ra.

 

E. Nghi tiết cúng Tứ Thời tại Tòa Thánh, Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu

1. Tại Tòa Thánh và các Thánh Thất

Ngoài các buổi cúng đại đàn và tiểu đàn nhằm vào các ngày đại lễ và tiểu lễ (ngày vía, ngày kỷ niệm các bậc chức sắc tiền bối có công lớn với Đạo, ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng tính theo âm lịch), tại Tòa Thánh và các Thánh Thất luôn luôn có các buổi cúng hàng ngày vào các giờ:

. Tý (0 giờ khuya)
. Mẹo (6 giờ sáng)
. Ngọ (12 giờ trưa)
. Dậu (18 giờ chiều)

gọi là cúng tứ thời.

Cúng tứ thời giản dị hơn cúng đại đàn và tiểu đàn, nghi tiết được tóm lược như sau:

Đến giờ cúng, Lễ vụ kệ 3 câu chú đánh 3 tiếng Đại hồng Chung lần thứ nhứt, chức sắc, chức việc và đạo hữu tuần tự vào chánh điện (nam bên tả, nữ bên hữu theo hướng từ trong nhìn ra), cũng đứng hai bên quay mặt vào nhau, sắp theo thứ tự phẩm trật. Xong Lễ vụ tiếp tục kệ 3 câu chú, đánh 3 tiếng Đại Hồng Chung lần thứ hai, mọi người tiếp tục hành lễ với những động tác giống như phần trình bày ở đoạn trước. Tuy nhiên các phần nghi lễ sau đây không có trong các buổi cúng tứ thời:

- Hoán Đàn.
- Nhạc tấu huân thiên.
- Dâng tam bửu (chỉ dâng một trong ba món và đọc một bài thài tùy theo thời cúng: thời Tý và Ngọ dâng rượu – thời Mẹo và Dậu dâng trà)
- Chỉnh sát cúng phẩm.
- Thuyết Đạo.

Trong lúc đồng nhi đọc kinh, có hòa tấu nhạc đệm theo.

Cúng xong, lễ vụ kệ ba câu chú, khắc ba tiếng Đại Hồng Chung lần thứ ba và bãi đàn.

2. Tại Điện Thờ Phật Mẫu

Cũng như tại Tòa Thánh và các Thánh Thất, ngoài các kỳ cúng Đàn, thường nhật cũng luôn luôn cúng tứ thời vào các giờ qui định như trên.

Thể thức hành lễ cũng giống như phần trình bày ở phần D (Cúng Đàn tại Điện Thờ Phật Mẫu), tuy nhiên các phần sau đây được giảm chế:

- Nhạc tấu huân thiên.
- Dâng tam bửu (chỉ dâng một trong ba món giống như ở Tòa Thánh).
- Sớ văn thượng tấu.

Trong khi đồng nhi đọc kinh có nhạc đệm theo.

 

F. Thờ cúng tại tư gia

Độc giả nên xem những quyển sách sau đây:

1. Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo (Hội Thánh xuất bản)
2. Thiên bàn thờ tại tư gia (Giáo Hữu Thượng Lý Thanh)
3. Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn (Hiền Tài Nguyễn Kim Anh)

 

G. Tại sao phải thờ cúng

Điểm khó khăn hơn hết trong vấn đề thờ cúng không phải là những nghi lễ tế tự phức tạp hay các lời kinh bằng chữ Hán khó hiểu, khó nhớ...

Thoạt nhìn người ta có thể cảm nghĩ như vậy, nhưng nghi lễ dù phức tạp đến đâu vẫn có thể quen được như một tập tục, lời kinh dù khó đến đâu đọc mãi cũng thuộc. Đó là hình tướng bên ngoài ai ai cũng làm được.

Chính nội dung, tác dụng của lời kinh tiếng kệ, những giây phút trầm tư mặc tưởng ấy có ích lợi gì cho bản thân ta khiến người tín đồ phải thực hành những nghi lễ ấy, đó mới là trọng hệ.

Đây là điểm đệ nhứt khó khăn trong đời sống của người tín đồ vì nó thuộc về mặt tâm pháp bí truyền. Trong một đàn cúng có đông người tham dự, thường thì chỉ có một số rất ít người có thể cảm nghiệm được nguồn năng lực sinh động, một cái gì lung linh huyền diệu trong “cõi sống thật” đang phủ trùm lấy họ từ bên ngoài cả đến bên trong thân xác.

Một khi cả xác thân lẫn tâm hồn đã đắm mình trong dòng sinh lực ấy, người tín đồ đã thực sự đứng trước ngưỡng cửa của một thế giới không còn thuộc “về cõi người ta” nữa. Nguồn năng lực vô biên ấy không thể tả được, nhưng chỉ cần một chút xíu thôi cũng đủ làm cho những kẻ bướng bỉnh nhất trên thế gian nầy thay đổi cuộc sống của họ một cách trọn vẹn. Nhưng không phải ai ai cũng dễ dàng khám phá được.

Một khi đã thực sự sống trong thế giới Thần Tiên ngay bên cạnh “cõi người ta” nầy thì người tín đồ không còn tâm trạng sợ hãi nữa, trái lại với sự tưởng tượng của những kẻ mà đời sống đắm chìm trong tục lụy, ngồi ở đây mà tưởng tượng vẽ vời ra “thế giới bên kia” mà thực sự họ chưa từng sống ở đó một phút giây nào cả.

Tôi xin nhắc lại lời nói của Thánh Giăng cánh đây gần hai ngàn năm:

“- Người nào đã cảm giác được cái tinh thần thiêng liêng của Đấng Chí Tôn không thể lầm lẫn, nghi ngờ hoặc phủ nhận nó. Ôi! Thế gian, ví như các người có đồng thanh phủ nhận Ngài, ta thà từ bỏ thế gian và giữ vững đức tin của ta” (Chơn sư và Thánh Đạo. Leadbeater. Nguyễn Hữu Kiệt dịch).

Các bậc chơn tu xưa nay đã nói rất nhiều về đời sống Thần Thánh nầy nhưng khốn nỗi chính các Ngài cũng không có quyền muốn đem cho ai thì cho “nguồn sống vạn năng” ấy dù chỉ một chút xíu thôi. Đó định luật tất yếu trong càn khôn vũ trụ.

Các Ngài sẵn sàng cho khối gia tài thiêng liêng ấy đến tất cả mọi người, nhưng mà nắm lấy được hay không là do ở chính mình. Thành thử kết quả sau cùng là các Ngài không trọn quyền ban cho ai tùy thích được.

Đó là một định luật công bình, của báu không bán nài và cũng chẳng phải của riêng ai được quyền nắm giữ dù họ là giáo chủ đi nữa.

Thờ cúng là một trong những cách làm cho thần trí của người tín đồ quen chủ định để dẫn thân xác đến gần thế giới thần linh. Rồi đến một lúc nào đó cả hành vi, tư tưởng, lời nói của người tín đồ đã hiển hiện là những “người Thần”, “người Thánh” trước mắt mọi người thì tự nhiên cánh cửa “thế giới vô hình” sẽ mở hoát ra như một định luật của hữu vô đồng nhất mà người đạo giáo thường gọi là thể pháp và bí pháp tương liên mật thiết với nhau.

Thần, Thánh, Tiên, Phật không phải là những vị mà con người có thể cầu khẩn, van xin đút lót của hối lộ theo kiểu thường làm ở thế gian.

Nghi lễ thờ cúng chỉ là những hình tướng biểu lộ bên ngoài của một nội tâm kính trọng và ý muốn cầu thân cùng các Đấng Thiêng Liêng. Dấu hiệu tỏ lộ bên ngoài có thể bắt chước được.

Hình tướng bên ngoài ấy dùng để dắt dẫn tâm linh nên nó phải thay đổi cho phù hợp với phong tục tập quán và trình độ tấn hóa của con người.

Nghi lễ các đạo giáo vì vậy khác với nhau mới thích ứng được với mọi người, chớ còn bên trong, cái khổ, cái sướng hay niềm an lạc trong tâm hồn của con người thì tự cổ chí kim ai cũng như ai.

Thực hành những nghi lễ thờ cúng là để tìm về chỗ thuần nhất ấy, và khi đạt đến rồi thì người không còn phân cách với người nữa, người cũng không còn phân cách với Trời, Phật hay Thần, Thánh nữa.

Đó là lý do sau cùng khiến người tín đồ phải để tâm đến việc thờ cúng. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ chỉ dạy như sau:

“Các em phải lo cúng kiến thường:

. Một là tập cho chơn thần được gần gũi các Đấng Thiêng Liêng đặng sáng lạn.
. Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.
. Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.
. Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri, lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ”. (TNHT QII. 1969. Tr 87)

Sự ngộ nhận ở chữ nghĩa trong kinh điển về lời cầu nguyện, vái van, xin tha thứ tội tình, đã làm cho người ta tưởng chừng như

các Đấng Thiêng Liêng cũng có nhân cách biết thương yêu, ghét giận như phàm nhân vậy. Sự thật không phải thế, chẳng phải vì lời cầu khẩn, những tiếng nói xin xỏ ấy thốt ra mà các Đấng thương tình tha thứ, nhưng chính vì tâm hồn của con người trong giờ phút ấy đã mở rộng cửa đón nhận các Đấng Thiêng Liêng mà các Đấng thì hằng có mặt khắp nơi, nên khi mở cửa tâm hồn thì đương nhiên gặp, tức là cảm ứng được.

Cũng như bầu sương lam đang phủ trùm cả núi rừng, bác tiều phu mở cửa lều thì tự nhiên sương tràn vào. Tại hành động mở cánh cửa ra, chứ không phải tại lời nói của bác tiều rằng “tôi mở cửa”, tại cái “khoảng trống” không còn ngăn cách giữa phần trong nhà và bên ngoài mà sương tràn vào và cái nhà đầy sương. Sương và nhà lúc bây giờ là một. Sương ở trong nhà và nhà ở trong sương.

Ấy vậy thờ cúng không phải là việc mê tín hay dấu hiệu của những tâm hồn yếu hèn mà mê tín, yếu hèn là tại mình hiểu sai và làm sai vậy.

Cho nên sự thành tâm và trúng cách, nghĩa là đúng pháp, rất cần thiết trong việc thờ cúng, bằng chẳng vậy thì dầu có cúng lạy suốt đời cũng chỉ làm mọi cho khói nhang, cũng hoài công vô ích.