G. Tại sao phải thờ cúng
ID027672 - Tiết : G. Tại sao phải thờ cúng 🖶 Print this Tiết
Chương : 5. Thờ Cúng
Sách : Đời Sống Của Người Tín Đồ Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

G. Tại sao phải thờ cúng

Điểm khó khăn hơn hết trong vấn đề thờ cúng không phải là những nghi lễ tế tự phức tạp hay các lời kinh bằng chữ Hán khó hiểu, khó nhớ...

Thoạt nhìn người ta có thể cảm nghĩ như vậy, nhưng nghi lễ dù phức tạp đến đâu vẫn có thể quen được như một tập tục, lời kinh dù khó đến đâu đọc mãi cũng thuộc. Đó là hình tướng bên ngoài ai ai cũng làm được.

Chính nội dung, tác dụng của lời kinh tiếng kệ, những giây phút trầm tư mặc tưởng ấy có ích lợi gì cho bản thân ta khiến người tín đồ phải thực hành những nghi lễ ấy, đó mới là trọng hệ.

Đây là điểm đệ nhứt khó khăn trong đời sống của người tín đồ vì nó thuộc về mặt tâm pháp bí truyền. Trong một đàn cúng có đông người tham dự, thường thì chỉ có một số rất ít người có thể cảm nghiệm được nguồn năng lực sinh động, một cái gì lung linh huyền diệu trong “cõi sống thật” đang phủ trùm lấy họ từ bên ngoài cả đến bên trong thân xác.

Một khi cả xác thân lẫn tâm hồn đã đắm mình trong dòng sinh lực ấy, người tín đồ đã thực sự đứng trước ngưỡng cửa của một thế giới không còn thuộc “về cõi người ta” nữa. Nguồn năng lực vô biên ấy không thể tả được, nhưng chỉ cần một chút xíu thôi cũng đủ làm cho những kẻ bướng bỉnh nhất trên thế gian nầy thay đổi cuộc sống của họ một cách trọn vẹn. Nhưng không phải ai ai cũng dễ dàng khám phá được.

Một khi đã thực sự sống trong thế giới Thần Tiên ngay bên cạnh “cõi người ta” nầy thì người tín đồ không còn tâm trạng sợ hãi nữa, trái lại với sự tưởng tượng của những kẻ mà đời sống đắm chìm trong tục lụy, ngồi ở đây mà tưởng tượng vẽ vời ra “thế giới bên kia” mà thực sự họ chưa từng sống ở đó một phút giây nào cả.

Tôi xin nhắc lại lời nói của Thánh Giăng cánh đây gần hai ngàn năm:

“- Người nào đã cảm giác được cái tinh thần thiêng liêng của Đấng Chí Tôn không thể lầm lẫn, nghi ngờ hoặc phủ nhận nó. Ôi! Thế gian, ví như các người có đồng thanh phủ nhận Ngài, ta thà từ bỏ thế gian và giữ vững đức tin của ta” (Chơn sư và Thánh Đạo. Leadbeater. Nguyễn Hữu Kiệt dịch).

Các bậc chơn tu xưa nay đã nói rất nhiều về đời sống Thần Thánh nầy nhưng khốn nỗi chính các Ngài cũng không có quyền muốn đem cho ai thì cho “nguồn sống vạn năng” ấy dù chỉ một chút xíu thôi. Đó định luật tất yếu trong càn khôn vũ trụ.

Các Ngài sẵn sàng cho khối gia tài thiêng liêng ấy đến tất cả mọi người, nhưng mà nắm lấy được hay không là do ở chính mình. Thành thử kết quả sau cùng là các Ngài không trọn quyền ban cho ai tùy thích được.

Đó là một định luật công bình, của báu không bán nài và cũng chẳng phải của riêng ai được quyền nắm giữ dù họ là giáo chủ đi nữa.

Thờ cúng là một trong những cách làm cho thần trí của người tín đồ quen chủ định để dẫn thân xác đến gần thế giới thần linh. Rồi đến một lúc nào đó cả hành vi, tư tưởng, lời nói của người tín đồ đã hiển hiện là những “người Thần”, “người Thánh” trước mắt mọi người thì tự nhiên cánh cửa “thế giới vô hình” sẽ mở hoát ra như một định luật của hữu vô đồng nhất mà người đạo giáo thường gọi là thể pháp và bí pháp tương liên mật thiết với nhau.

Thần, Thánh, Tiên, Phật không phải là những vị mà con người có thể cầu khẩn, van xin đút lót của hối lộ theo kiểu thường làm ở thế gian.

Nghi lễ thờ cúng chỉ là những hình tướng biểu lộ bên ngoài của một nội tâm kính trọng và ý muốn cầu thân cùng các Đấng Thiêng Liêng. Dấu hiệu tỏ lộ bên ngoài có thể bắt chước được.

Hình tướng bên ngoài ấy dùng để dắt dẫn tâm linh nên nó phải thay đổi cho phù hợp với phong tục tập quán và trình độ tấn hóa của con người.

Nghi lễ các đạo giáo vì vậy khác với nhau mới thích ứng được với mọi người, chớ còn bên trong, cái khổ, cái sướng hay niềm an lạc trong tâm hồn của con người thì tự cổ chí kim ai cũng như ai.

Thực hành những nghi lễ thờ cúng là để tìm về chỗ thuần nhất ấy, và khi đạt đến rồi thì người không còn phân cách với người nữa, người cũng không còn phân cách với Trời, Phật hay Thần, Thánh nữa.

Đó là lý do sau cùng khiến người tín đồ phải để tâm đến việc thờ cúng. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ chỉ dạy như sau:

“Các em phải lo cúng kiến thường:

. Một là tập cho chơn thần được gần gũi các Đấng Thiêng Liêng đặng sáng lạn.
. Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.
. Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.
. Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri, lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ”. (TNHT QII. 1969. Tr 87)

Sự ngộ nhận ở chữ nghĩa trong kinh điển về lời cầu nguyện, vái van, xin tha thứ tội tình, đã làm cho người ta tưởng chừng như

các Đấng Thiêng Liêng cũng có nhân cách biết thương yêu, ghét giận như phàm nhân vậy. Sự thật không phải thế, chẳng phải vì lời cầu khẩn, những tiếng nói xin xỏ ấy thốt ra mà các Đấng thương tình tha thứ, nhưng chính vì tâm hồn của con người trong giờ phút ấy đã mở rộng cửa đón nhận các Đấng Thiêng Liêng mà các Đấng thì hằng có mặt khắp nơi, nên khi mở cửa tâm hồn thì đương nhiên gặp, tức là cảm ứng được.

Cũng như bầu sương lam đang phủ trùm cả núi rừng, bác tiều phu mở cửa lều thì tự nhiên sương tràn vào. Tại hành động mở cánh cửa ra, chứ không phải tại lời nói của bác tiều rằng “tôi mở cửa”, tại cái “khoảng trống” không còn ngăn cách giữa phần trong nhà và bên ngoài mà sương tràn vào và cái nhà đầy sương. Sương và nhà lúc bây giờ là một. Sương ở trong nhà và nhà ở trong sương.

Ấy vậy thờ cúng không phải là việc mê tín hay dấu hiệu của những tâm hồn yếu hèn mà mê tín, yếu hèn là tại mình hiểu sai và làm sai vậy.

Cho nên sự thành tâm và trúng cách, nghĩa là đúng pháp, rất cần thiết trong việc thờ cúng, bằng chẳng vậy thì dầu có cúng lạy suốt đời cũng chỉ làm mọi cho khói nhang, cũng hoài công vô ích.