9. Đời Sống Hôn Nhân
ID027683 - Chương : 9. Đời Sống Hôn Nhân 🖶 Print this Chương
Sách : Đời Sống Của Người Tín Đồ Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

9. Đời Sống Hôn Nhân

 

A. Luật về Hôn Phối

Hôn phối là việc rất hệ trọng trong đời người, thiết nghĩ ai cũng biết điều đó, nhưng không phải ai cũng đủ khôn ngoan, sáng suốt khi quyết định về hôn nhân.

Bởi vậy ngoài yếu tố tình yêu, tâm lý của gia đình rất nhiều người còn tìm đến những nhà bói toán để xem tuổi với hy vọng sẽ gặp được người phối ngẫu thích hợp với mình. Sự việc bói toán đúng hay sai không bàn nơi đây, nhưng ghi nhận ý nghĩa trong hành động tìm đến bói toán như là một sự đắn đo trước khi quyết định vì đã ý thức được sự quan trọng của hôn nhân.

Luật Đạo Cao Đài buộc phải chọn người phối ngẫu cùng trong tôn giáo.

“Việc hôn là việc rất quan trọng trong đời người. Phải chọn hôn trong người đồng đạo, trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới kết làm giai ngẫu”. (Điều 6. Chương Thế Luật. Bộ Tân Luật).

Vấn đề nầy vẫn gây nhiều thắc mắc cho các thanh niên nam nữ. Tình yêu đâu phải như bài toán có đáp số dễ dàng sau khi đã cộng, trừ, nhân, chia thì phải ra như vậy. Có biết bao trường hợp cô hay cậu yêu người không phải đồng đạo mới tính sao đây?

Sự ràng buộc của luật pháp có vẻ nghiêm khắc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt tâm lý từ nửa thế kỷ trước và tới nay vẫn còn hiệu dụng.

Ý nghĩa của hôn nhân là sự hòa hợp giữa người với người. Sự hòa hợp ấy đến tuyệt đỉnh khi hai thân xác hiệp làm một, tình cảm cũng một, mà tinh thần cũng một.

Còn có tai hại nào hơn khi hai người phải sống chung với nhau suốt đời mà từng giây từng phút mỗi người là một thế giới riêng?

Ấy là một kiếp sống cô đơn, quạnh quẽ trong khi thân xác vẫn bị buộc ràng. Xác thân có thể vì những định luật vật chất buộc nó phải phối hợp với nhau, tình cảm cũng có thể vì những khêu gợi chung quanh nhất thời chia sẻ cùng nhau được, nhưng niềm tin sâu thẳm trong tâm hồn con người thì không dễ gì lay chuyển. Niềm tin về đạo giáo thuộc về loại nầy. Bởi vậy thái độ khôn ngoan là thái độ của người thấy trước được điểm tâm lý khó khăn nầy.

Đành rằng triết lý Tam Kỳ Phổ Độ vẫn dạy rằng các Đạo giáo vốn từ một gốc sanh ra, nhưng sự hiểu biết lẽ thật của người tín đồ đâu phải ai cũng có trình độ như các hiền triết cả để có thể thông cảm cùng nhau dễ dàng.

Thế nên, tốt hơn nên chọn người đồng đạo với mình, hy vọng sẽ tránh được nhiều phiền toái hơn. Bậc chơn tu khi đặt ra một điều luật cho tín đồ, hẳn đã nghiên cứu kỹ lưỡng rồi.

Còn việc chọn người ngoài làm phối ngẫu với điều kiện ưng thuận nhập môn, xét về mặt chánh trị đạo là một phương thức dụng tình yêu đưa người vào cửa đạo.

Ý hướng dụ dỗ tín đồ ở các đạo khác theo đạo Cao Đài bằng ngõ hôn nhân không cần thiết nơi đây. Điều kiện “ưng thuận nhập môn” nầy không nhằm mục đích làm gia tăng số tín đồ, mà chính vì muốn bảo đảm hạnh phúc cho hai người.

Trong Cao Đài giáo, qua hôn nhân, con người không phải là công cụ để củng cố chế độ chánh trị đạo, cũng không phải là phương tiện tranh đấu để bành trướng số tín đồ, hôn nhân có ý nghĩa thiêng liêng của nó, biểu lộ thân phận làm người của người tín đồ.

Cơ sanh hóa càn khôn đào tạo,
Do âm dương hiệp Đạo biến thiên.
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn luân.
(Kinh Hôn Phối)

Chính con người, hạnh phúc trong hôn nhân mới có ý nghĩa nơi đây chớ không phải chánh trị hay chế độ. Sự ràng buộc của luật Đạo tuy có nghiêm khắc thật nhưng là phương thức hữu hiệu, là chỉ dẫn cần thiết cho thanh niên nam nữ.

Ngoài điều luật về sự lựa chọn người phối ngẫu trên đây còn có các điều luật khác liên quan đến sự đề phòng gian dối, nghi lễ hôn phối, cưới hầu thiếp, ly dị.

. Tám ngày trước lễ sính, chủ hôn trai phải dán bố cáo nơi Thánh Thất sở tại cho bổn đạo hay sau khỏi điều trắc trở.
(Điều 7. Thế Luật)

. Làm lễ sính rồi hai đàng trai và gái phải đến Thánh Thất mà cầu lễ chứng hôn.
(Điều 8. Thế Luật)

. Cấm người trong đạo kể từ ngày ban hành (1927) luật nầy về sau không được cưới hầu thiếp. Rủi có chích lẽ giữa đường thì được chấp nối. Thoảng như phụ nữ kia không con nối hậu thì Thầy cũng rộng cho đặng phép cưới thiếp, song chính mình chánh thê đứng cưới mới đặng.
(Điều 9. Thế Luật)

. Trừ ra có ngoại tình hay là thất hiếu với công cô, vợ chồng người đạo không được để bỏ nhau.
(Điều 10. Thế Luật)

 

B. Phép Hôn Phối

Sau khi làm lễ sính hôn rồi, luật lệ buộc hai đàng trai và gái phải đến Thánh Thất cầu lễ “chứng hôn”. Cô dâu và chú rể sẽ quì trước Thiên Bàn, bốn tay nắm chéo lẫn nhau, vai kề vai, đầu chạm đầu trước sự chứng kiến của họ hàng đôi bên. Cử chỉ nầy biểu lộ ý nghĩa tâm đồng ý hiệp và sự phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa hai người như một.

Một vị chức sắc chứng lễ đứng trước mặt cặp vợ chồng hành pháp hôn phối trong khi đồng nhi đọc kinh. Bí pháp nầy có tác dụng giải trừ bớt những mầm xung khắc đã có sẵn trong tâm hồn của hai người do tiền khiên nghiệp chướng của họ gây ra, giờ đây sẽ có cơ hội vay trả lẫn nhau trong đời sống vợ chồng.

Những mầm mống xung khắc nầy có thể khó nhận thấy vì trong buổi đầu của cuộc yêu đương sự bồng bột của tình yêu có thể lấn lướt và làm lu mờ tất cả các yếu tố khác. Khi yêu nhau thắm thiết người ta tha thứ cho nhau và chiều ý nhau một cách dễ dàng, sẵn sàng kềm chế những thói hư tật xấu của chính mình để làm vừa lòng người yêu.

Thế nhưng sau một thời gian chung sống sự bồng bột trong buổi đầu không còn nữa khi sự thật đã hiện nguyên hình thì những xung khắc có cơ hội nổi dậy làm thành một cuộc trả vay khóc cười lẫn lộn ngay trong đời sống yêu đương.

Tác dụng giải trừ bớt nghiệp quả xấu nầy gọi là ban ơn, là sự ân xá của Đức Chí Tôn trong Tam Kỳ Phổ Độ. Nhiều người tín đồ không hiểu rõ về tác dụng thần quyền nầy lại cũng không có đức tin vững mạnh nên đã xem phép hôn phối là một nghi lễ thêm phiền phức, họ quan tâm đến tiệc tùng, lời chúc tụng và sự vui thích trong ngày hôn lễ hơn.

Đó là một sự thiệt thòi rất lớn trong suốt kiếp sanh của họ mà họ không hề hay biết vì không hiểu đạo. Đức Chí Tôn đã ân xá cho tội tình của họ mà họ lại khước từ ân huệ ấy qua hành động từ chối phép hôn phối và dễ gì có được cơ hội thứ hai khi dịp may kia đã lỡ rồi.

Hành pháp xong, vị chức sắc sẽ dặn dò vợ chồng mới cưới vài lời về cách ăn ở với nhau cho phải đạo làm người. Sau khi bái lễ Đức Chí Tôn, vị chức sắc sẽ nắm tay cô dâu, chú rễ đưa ra Thánh Thất, người đi giữa, cô dâu chú rễ hai bên.

Có nhiều trường hợp chẳng may không gặp được vị chức sắc có đủ khả năng hành pháp hôn phối, hai đàng trai và gái vẫn đến Thánh Thất cầu nguyện nhưng không có hành pháp. Dĩ nhiên nếu lời cầu nguyện chân thành vẫn có sự cảm ứng của thiêng liêng nhưng chắc chắn ân huệ sẽ không được đủ đầy như trong trường hợp có hành pháp linh hiển.

 

C. Vai trò của người mẹ đối với các chơn linh giáng trần

Vai trò nầy được ví như “bụng mang đầy quyền phép nắn đời” bởi vì người mẹ có thể làm cho đời trở nên hiền lương nhưng ngược lại người cũng có thể làm cho đời trở nên quỉ mị.

Người mẹ giữ vai trò của cơ quan sản xuất ra nhơn loại, phép uốn nắn trẻ thơ nơi tay người không ít. Người có thể sản xuất ra hạng hiền nhân quân tử, tài trí thông minh, nhưng cũng có thể tạo ra hạng đàng điếm lưu manh.

Nếu hiểu được Đạo là máy Trời vi diệu, chúng ta cũng có thể nương theo đó mà thay đổi số kiếp của con người được phần nào. Phép sanh hóa của người mẹ thật hệ trọng đối với các chơn linh giáng trần. Hễ cái máy xấu thì khó lòng sản xuất được vật tốt.

Một người gọi là tốt thì phải tốt cả hình hài lẫn tâm hồn, hai yếu tố ấy tương liên mật thiết với nhau. Hồn tốt mà xác xấu sẽ không đủ sức làm nổi việc thế gian, xác tốt mà hồn xấu thì chỉ vụ đường vui chơi.

Cái phép sửa đời tệ hóa ra hay của Đạo Cao Đài còn ngó đến tận chốn phòng the trong việc ăn ở với nhau giữa vợ chồng cho phải phép của Đấng Hóa Công thì mới mong gặp được hạng Thánh Thần giáng thế.

Nếu như tâm hồn của người mẹ thấp hèn nhơ nhớp quá, thể xác ô uế, tiều tụy quá làm sao hy vọng có đủ điều kiện sản xuất được hình hài tốt đẹp cho các chơn linh cao trọng giáng ngự. Ấy vậy vai trò của người mẹ đã thay nửa quyền Tạo Hóa vẽ nên hình tướng của cuộc đời nầy.

 

D. Ảnh hưởng của đời sống tình dục

Xin tóm tắt nơi đây những lời giảng dạy của Đức Hộ Pháp về vấn đề nầy:

“Hồn và xác của con người tương liên mật thiết với nhau. Tinh thần của người mẹ như thế nào trong khi mang thai thì đứa con sẽ chịu ảnh hưởng giống như thế đó không ít. Ấy là một phép truyền thần, dầu chẳng linh hiển trọn vẹn, nhưng rất quan hệ.

Bởi vậy trong việc ăn ở của vợ chồng, ảnh hưởng tinh thần của cha mẹ rất hệ trọng, cần phải tập đứa con trong tương lai được thông minh bằng cách chính cha mẹ phải sống với tinh thần cao thượng, để tinh thần ấy nhiễm vào bào thai từ từ.

Bần Đạo đâu vọng ngữ nói chơi,
Dạy vợ chửa tức thời dạy trẻ.
Những trí thức tinh thần có lẽ,
Nhiễm vào tâm chửa đẻ trọn tinh thần.
Có tinh thần mới có xác thân,
Biến thân đủ tinh thần quán chúng.
Trí cao thượng nhiễm từ trong bụng,
Con đẻ ra chắc đúng bực thông minh.
Tỉ khác nào tấm kiếng chụp hình,
Có bóng chói đã in mọi vật.
Đầu mới tượng, óc còn thiếu chất,
Phần thông minh lật đật bỏ vào.
Cây hưởng phân, quí sẽ dường bao,
Thì cha đã thông minh mẫn đạt.
Con chắc là bác lãm quần thi,
Thần mẹ thêm cách vật trí tri.
Con ắt đặng quản tri thế sự,
Dầu vợ dốt hay là hay chữ.
Nghe điều hay cư xử gia đình,
Phép truyền thần dầu chẳng đặng linh.
Việc dạy dỗ vợ mình còn chế sửa,
Để ý thấy trẻ thơ nhiều đứa.
Tánh thông minh từ thuở mới lên ba,
Ấy là nhờ tính chất mẹ cha.
Gặp phải phép hiệp hòa sanh đặng vậy,
(Phương Tu Đại Đạo - Phạm Công Tắc)

Ấy là tích cực, còn tiêu cực thì vợ chồng nên tránh giao hoan trong lúc thể xác yếu đau và tinh thần bất ổn như đang lúc say rượu hay là vừa khi nguôi cơn giận. Bởi vì bào thai của đứa trẻ tượng hình do nơi tinh khí của cha mẹ là những chất liệu đầu tiên tạo nên hình hài nhục thể nó.

Vậy nếu tinh suy nhược, khí rối loạn thì cha mẹ làm sao tạo được hình hài hoàn hảo cho đứa trẻ, vừa ý với những chơn linh cao trọng giáng trần.

Lúc vợ chồng giao tình tua để dạ,
Luyện trí thức thông minh hòa nhã.
Tứ đổ tường chớ khá nên gần,
Hễ thân mình thiếu khí, loạn thần.
Thọ khí bẩm nhâm thần, con dại dột,
Cữ hoa nguyệt, bớt đi thì tốt.
Tinh khí đầy, hài cốt trẻ tráng cường,
Khi giao hoan có độ, có lường.
Vợ bịnh, yếu chớ thường lân cận,
Đừng nhè lúc vợ chồng đương giận.
Mới vừa vui, vầy trận tam bành,
Cũng đừng quen theo phép dỗ dành.
Ép buộc vợ thỏa tình hoa nguyệt,
Khi thấy dáng nhụy hoa quả kết.
Thì phải toan dứt tuyệt đường ong,
Nghén ba trăng phải gắng gia công.
Dạy con trẻ còn trong bụng mẹ".
(Phương Tu Đại Đạo - Phạm Công Tắc)

Đành rằng sự tấn hóa của đứa trẻ còn tùy thuộc nhiều yếu tố khác nữa như cách dinh dưỡng của người mẹ trong khi mang thai, sự dinh dưỡng của đứa bé từ khi ra đời, sự giáo dục của gia đình trong tuổi ấu thơ, sự giáo dục của học đường, ảnh hưởng của xã hội. Những yếu tố ấy cấu kết với nhau làm thành một phần nào số phận của nó.

Thế nhưng, một khi đã hiểu lý đạo nhiệm mầu, con người vẫn có thể chủ định được phần nào tương lai của chính mình bằng thái độ tích cực loại trừ bớt những mầm mống của đau khổ bất kỳ lúc nào có thể làm được.

Đức Hộ Pháp đã nhắc nhở tín đồ cần loại trừ bớt những mầm đau khổ ấy ngay từ trong việc ăn ở của vợ chồng với nhau, tưởng cũng nên để ý lắm vậy.