17. Sứ Mạng Truyền Giáo
ID027709 - Chương : 17. Sứ Mạng Truyền Giáo 🖶 Print this Chương
Sách : Đời Sống Của Người Tín Đồ Cao Đài
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

17. Sứ Mạng Truyền Giáo

 

A. Sứ mạng cá nhân

Từ những lời cầu nguyện hằng ngày:

- Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai.
- Nhì nguyện phổ độ chúng sanh.

Là sinh hoạt thuộc quyền năng tư tưởng có sự chuyển pháp của các Đấng Thiêng Liêng hộ trì về phần vô vi sang lãnh vực hữu hình. Đức Chí Tôn dạy mỗi tín đồ phải có sứ mạng truyền bá đạo lý của Ngài cho người khác hiểu và hành động theo Thánh ý.

"Còn chư môn đệ đã lập minh thệ rồi, ngày sau tùy âm chất mỗi đứa mà thăng hay là tội lỗi mà giáng, song buộc mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa là mười hai người". (TNHHT QI Tr 42)

Mỗi lần tái kiếp trong một gia đình nào đó linh hồn sẽ có thêm họ hàng thân thích, tạo thành gia tộc hữu hình và bởi tình yêu thương, nợ khí huyết vay mượn của tổ phụ lưu truyền, khi thoát xác chơn thần của những người thân ấy có những liên hệ ràng buộc với nhau, bởi vậy mới có phép điều chỉnh nghiệp quả.

"Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa"
(Kinh cầu cha mẹ qui liễu)

Tình đồng đạo cũng vậy, khi chúng ta độ rỗi một người nào nhập môn vào Đạo phải có trách nhiệm dìu dắt lẫn nhau anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo. Tình yêu thương và trách nhiệm tâm linh ấy nối kết các chơn thần khi thoát xác trở thành họ hàng gia tộc nơi cõi thiêng liêng.

Đức Chí Tôn dạy:

"Hễ bao nhiêu môn đệ độ rỗi của mỗi đứa thì là họ hàng của mỗi đứa hiểu à!

"Chừng ấy về đến Bạch Ngọc Kinh thì gia tộc mỗi đứa đều phân biệt, nếu chẳng độ rỗi thì về với hai tay không".

Ấy vậy sứ mạng truyền giáo để phổ độ chúng sanh đặt nền tảng trên bổn phận của từng cá nhân người tín đồ. Không phải chỉ có chức sắc hay chức việc mới có bổn phận truyền giáo mà mỗi người tín đồ đều có bổn phận ấy.

 

B. Phương tiện giáo quyền

Khi mở Đạo Cao Đài tại Việt Nam Đức Chí Tôn có tiên tri.

Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc
Chủ quyền chơn Đạo một mình Ta.
(TNHT. TG 15. 9 Bính Dần)

Làm thế nào để ứng hiện lời tiên tri ấy?

Trên thì có các Đấng Thiêng Liêng chuyển pháp khai mở năng khiếu tâm linh của con người, những ai hữu duyên cùng Đạo trên khắp mặt địa cầu, dưới thì có quyền hành Hội Thánh là phương tiện để độ rỗi nhơn sanh.

Phép tu hành nhằm đạt đến sự giải thoát Chơn Thần con người, còn quyền hành áo mão, chức tước chỉ là phương tiện để xác thân làm việc. Hai phương tiện truyền giáo hữu hiệu nhứt là nơi thờ phượng Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng để nuôi dưỡng đạo tâm vì:

"Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi" và kinh điển để truyền bá đức tin hiểu đạo lý cho chính đáng, tránh lạc lầm vào chỗ mê tín dị đoan.

Ngoài ra còn có việc truyền bí pháp thuộc phần sinh hoạt cao cấp không tiện nói ra trong quyển sách nhỏ bé nầy.

Các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền thanh, truyền hình, báo chí, hình ảnh, ghi âm đã giúp ích rất nhiều trong việc truyền giáo. Nhưng phương tiện dù tối tân đến đâu, kinh điển dù cao siêu thế mấy, trên hết mọi sự con người mới là chính.

Đời sống của người tín đồ, sự sinh hoạt thể xác và tinh thần, nếu còn nặng mang nhiều nét phàm tục trước mắt chúng sanh thì nền Đạo đang có dấu hiệu qui phàm.

Trong một nền tôn giáo nếu thiếu những tấm gương sáng chói về đạo đức của con người ở cõi tục nầy thì việc truyền giáo cũng mất đi phần hữu hiệu.

Kinh điển giải bày lý đạo cao siêu, truyền thông đại chúng rộng rãi, đó chỉ là lý thuyết; còn thực hành thì đời sống của người tín đồ ra sao mới là kết quả. Ấy vậy việc tu thân của mỗi cá nhân người tín đồ là nền tảng của cơ phổ độ. Lấy thí dụ cụ thể chẳng hạn:

- Muốn khuyên người nào chay lạt đặng giảm bớt nghiệp sát sanh.
- Hay từ bỏ rượu thịt say sưa cho chơn thần an tĩnh.
- Muốn khuyên đừng cờ bạc đặng bỏ tánh gian tham.
- Hay xa lánh gió trăng cho gia đình đừng nghiêng đổ.

Trước hết phải tu chỉnh bản thân mình để làm gương cho người khác thì lời khuyên mới có giá trị và mới hy vọng cảm hóa đặng lòng người.

Ấy vậy tu thân là chính trước khi sử dụng giáo quyền thi hành sứ mạng phổ độ mà Đức Chí Tôn giao phó.