II. Con Đường Thứ Ba Đại Đạo
ID027730 - Phần : II. Con Đường Thứ Ba Đại Đạo 🖶 Print this Phần
Sách : Quan Niệm Tu Chơn Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

II. Con Đường Thứ Ba Đại Đạo

 

1. Con Đường Thứ Ba Đại Đạo là gì?

Năm 1947 Đức Hộ Pháp cho phổ biến những chỉ dẫn cụ thể về cách sống của người tu luyện với lời giới thiệu: "Phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo".

Đã gọi là con đường thứ ba tất nhiên phải có con đường thứ nhứt và thứ hai. Vậy con đường thứ nhứt và thứ hai là con đường nào?

Đạo Cao Đài được chính thức khai mở vào năm Bính Dần ( 1926 ) với những thủ tục thông thường của một đoàn thể xã hội như :

. Tuyên ngôn Khai Đạo (7-10 Bính Dần 1926)
· Lễ ra mắt gọi là Lễ Khai Đạo (15-10 Bính Dần 1926)
· Ban hành Bản Hiến Pháp thiêng liêng của Đạo gọi là Pháp Chánh Truyền và bộ luật của tôn giáo mới gọi là Tân Luật.

Đó là những yếu tố cần thiết phải có để thành hình Hội Thánh là cơ quan quyền lực tổ chức và điều hành sinh hoạt tín ngưỡng của khối tín đồ Cao Đài theo triết lý đã chọn.

Tín đồ phải có tín ngưỡng Trời Phật, hiểu biết luật nhân quả luân hồi, ăn ở hiền lành, lập công bồi đức, tu tâm sửa tánh và tùy theo công nghiệp phụng sự vạn linh, đức hạnh, tài năng có được nhiều hay ít sẽ được thăng phẩm từ tín đồ lên đến Giáo Tông.

Đó là con đường lập quyền Đạo để nương nhờ quyền hành ấy mà làm phương tiện phổ độ chúng sanh. Các phẩm tước hữu hình trong Hội Thánh chỉ là những nghi thức đối phẩm với các Đấng thiêng liêng trong thế giới vô hình, nó đòi hỏi người thọ nhận phải làm tròn thiên chức của mình, khi chết linh hồn mới xứng đáng được gọi là Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Chẳng hạn phẩm Giáo Sư, Pháp Chánh Truyền buộc phải lo lắng cho tín đồ như anh ruột lo cho em.

Ôi ! Được bao nhiêu người có tâm đức ấy, chẳng trách nào Đức Chí Tôn định chỉ có 72 Giáo Sư hành quyền trên toàn thế giới.

Hay là phẩm Giám Đạo của Hiệp Thiên Đài đòi hỏi người chức sắc phải có đủ quyền năng tâm linh để tự mình hay biết những vụ vi phạm luật pháp Đạo đã hay đang xảy ra ở một nơi nào đó mà về phương diện hữu hình chưa lộ tông tích, mới đúng nghĩa Giám Đạo, đúng với câu trong Pháp Chánh Truyền: "chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài chẳng biết".

Vì vậy phẩm tước hữu hình chỉ là giả tạm và trạng thái sống thực của Chơn Thần có tinh tấn hay không mới là yếu tố quyết định giá trị của hai tiếng đối phẩm.

Con đường đó là Cửu Trùng Đài, con đường thứ nhứt của Đại Đạo lấy quyền hành, phẩm tước hữu hình làm phương tiện hành đạo. Phẩm tước ấy phải do công nghiệp hành đạo và đức hạnh mới có được, khi chết chơn thần rời khỏi xác thân trở về cùng Đức Chí Tôn.

Con đường thứ nhứt nầy bao gồm cả những chức sắc cấp dưới của Hiệp Thiên Đài mà sở hành của họ cũng lấy quyền Đạo làm phương tiện lập công.

Con đường thứ hai là Phước Thiện với Thập Nhị đẳng cấp thiêng liêng cũng có phẩm tước hữu hình để đối chiếu với Thiêng Liêng từ Minh Đức đến Phật Tử.

Sở hành của họ chú ý nhiều đến việc lập đức, tạo ra nhiều của cải, vật chất để tế khó trợ nghèo, yểm trợ đời sống hữu hình cho chức sắc hành đạo bất kỳ ở cơ quan nào, nuôi nấng bênh vực trẻ mồ côi, người già cả, tật nguyền. Cũng phải đợi đến khi chết Chơn Thần mới rời khỏi thân xác trở về cùng Đức Chí Tôn.

Con đường thứ ba Đại Đạo là Tu Chơn tức là con đường tịnh luyện, thiền định chú ý tới sự rèn luyện năng lực sống trong nội thân mình theo tiến trình Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần huờn Hư, đến chỗ Chơn Thần có đủ khả năng rời khỏi xác phàm trước khi chết trở về cùng Đức Chí Tôn được. Đây là con đường đi tắt trong kiếp sanh, dĩ nhiên Chơn Thần xuất ngoại xác thân được thì phải trở về được và sống trọn kiếp người của mình theo đúng Thiên ý. Có rất nhiều người lầm lạc vì ảo tưởng, ảo giác trong loại sinh hoạt nầy.

Nếu như ở con đường thứ nhứt và thứ hai, người ta có thể lầm lạc chạy theo danh, lợi, quyền trong tôn giáo, cũng là ảo ảnh của cuộc đời, nhầm lẫn phương tiện với cứu cánh, làm biến tướng nền Chơn Giáo thành Tả Đạo Bàn Môn, thì ở con đường thứ ba nầy nhầm lẫn chính là ảo tưởng và ảo giác rất tinh vi.

Trong phép thông công của con người với thế giới Thần linh cũng có vô vàn những điều đáng tiếc như vậy đã xảy ra và hậu quả của nó đối với đời sống tín ngưỡng của một số đông người cũng rất đáng thương tâm.

 

2. Tương Quan Giữa Ba Con Đường

Như vậy có phải con đường thứ ba Đại Đạo là phần tiếp nối của con đường thứ nhứt hoặc thứ hai trong tiến trình tu tập của người tín đồ hay không ?

Đức Hộ Pháp chủ trương tín đồ phải có đủ Tam Lập mới bước vào sinh hoạt tịnh luyện, không buộc phải qua một thời gian hành đạo có áo mão, hay quyền hành, chức tước.

Một đàng sống với đức tin vào nguyên tắc đối phẩm, lấy sự thể hữu hình làm chuẩn với lý trí thông thường, đợi đến khi chết chơn thần sẽ xuất ngoại xác thân trở về cùng Thượng Đế, cũng chẳng vội, ung dung lập công bồi đức và thăng tiến theo phẩm trật hữu hình.

Một đàng tìm phương rốt ráo, phải về diện kiến Đức Chí Tôn ít nhứt một lần trong khi còn sống thì phương pháp tu hành mới gọi là chứng đắc được.

Yếu lý khác biệt của nó nằm ở chỗ Chơn Thần về được cùng Đức Chí Tôn trước khi chết hay sau khi chết.

Còn điều kiện định quyết cho Chơn Thần về được hay không là ở chỗ công đức, chớ không phải ở phương pháp tu luyện điều khí, dưỡng thần, truyền thần, xuất thần, tham thiền, nhập định.

Phương pháp tu luyện là kiến thức có thể truyền lại cho nhau dễ dàng giữa người nầy và người kia nhưng công đức mỗi cá nhân tự tạo mới có. Phải có đủ công đức nghĩa là tròn tam lập, áp dụng phương pháp tu luyện mới có kết quả gọi là ấn chứng chánh truyền, bằng không rất dễ rơi vào ảo tưởng làm cho Thần biến ra đủ thứ khi công phu thiền định.

Một người thiếu công đức là người mà khí thể còn ô trược, lấy trược khí nuôi Thần, thì Thần phải tối, tức nhiên đời sống tâm linh còn trộn lẫn nhiều hình ảnh tư duy ảo vọng. Thần phóng ra ảo rồi nhắm lấy ảo ấy mà đeo đuổi thì quả thật là "đổi chơn thay giả tô Thiên vị".

Chỗ nhằm lẫn nầy hết sức tế vi, khó thấy và chẳng dễ gì xua đuổi nó ra khỏi tâm tư của con người khi mà các trung khu não bộ hãy còn phủ trùm bằng một vùng trược khí.

Nói vắn tắt cho dễ hiểu, nếu như kiến thức về phương pháp công phu làm cho người ta đắc đạo được thì những kẻ gian hùng nhứt ở thế gian sẽ ngự trị ở cõi Thiên Đàng.

Vì sao ?

Vì những kẻ gian hùng ở thế gian nầy, thứ gì họ cũng ăn cướp được, nói chi đến bí quyết luyện đạo của thầy tu là điều mà kẻ có lòng từ tâm luôn luôn muốn có nhiều người hưởng ứng.

Kinh điển hay là phương pháp tu luyện cũng như đũa với chén để ăn cơm, phải có cơm vào dạ dày mới no được, công đức của mình mới là thứ cơm tinh thần vậy, phải có cơm thì chén đũa mới hữu dụng.

Đức Chí Tôn dạy :

- "Người ở thế nầy muốn giàu phải kiếm phương thế làm ra của cải. Ấy là phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo phải có công quả". (TNHT. 5-7-1926)

- "Đạo vẫn như nhiên do công đức mà đặng đắc Đạo cùng chẳng đặng". (TNHT. 21-8-1926)

- "Thầy nói cho các con biết nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều là phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất thì cái công phu tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao". ( TNHT. 5-3-1927)

Dầu đi con đường nào cũng vậy, thứ nhứt, thứ hai, thứ ba cũng phải có công đức mới đặng đắc Đạo. Con đường thứ ba Đại Đạo nếu thành công về với Đức Chí Tôn sớm hơn một chút chẳng phải đợi đến khi chết như con đường thứ nhứt và con đường thứ hai.

Mối tương quan giữa ba con đường là như thế chẳng nên hiểu lầm rằng nếu không tịnh luyện thì không đắc Đạo.

 

3. Vài Kinh Nghiệm Tâm Linh

 

A. Thiếu tình mẫu tử

Xin đơn cử sau đây vài trường hợp điển hình về kinh nghiệm trong đời sống tâm linh của một tín đồ tu chơn ở Tòa Thánh Tây Ninh. Là một thanh niên còn trẻ tuổi y đã sớm bước chân vào sinh hoạt Thượng Thừa Đại Đạo, trong quãng đầu đời theo tiếng gọi sâu thẳm của tâm linh mình thúc giục và may duyên được Chân Sư dìu dẫn trực tiếp.

Sau khi tu tập khổ hạnh một thời gian, một ngày kia trong buổi công phu giờ Tý, Chơn Thần y được đối diện trước quyền năng Thiêng Liêng của Chân Sư và như thường lệ Chân Sư dạy y:

"- Con hãy dùng phép hồi quang phản chiếu, xem xét lại những gì con đã nghĩ và làm trong ngày hôm nay, có gì lầm lỗi chăng ?"

Y ngồi yên một lúc và hồi tưởng; trong thời kỳ tu học nầy Chân Sư không dạy y điều gì khác hơn là phép xét mình.

"- Bạch Thầy con đã làm tròn bổn phận con trong những công việc thường lệ ngày hôm nay, không có điều gì làm mất lòng ai cả."

Chân Sư hỏi tiếp: "- Còn bữa cơm trưa nay ?"

"- Bạch Thầy mọi người đều vui vẻ."

"- Con đã ăn món gì ?"

Y đáp một cách thản nhiên vì cũng chẳng nhớ mình đã ăn món gì.

"- Bạch Thầy thì món gì vừa miệng con thì con ăn, có ai phiền hà gì đâu, con thấy mọi người đều vui vẻ."

Chân Sư ôn tồn giảng dạy bằng một giọng trầm trầm đầy quyền lực làm thức tỉnh chơn thần y.

"- Trong bữa ăn bà mẹ nếu thấy món nào bà cho là ngon miệng đối với bà, bà ăn ít hay là nhường lại cho con bà ăn. Tình thương của một bà mẹ phàm tục đối với con là như thế. Con chưa sống với tình mẫu tử ấy thì làm sao có được tình thương yêu đại đồng đối với chúng sanh. Con phải thương yêu chúng sanh như thương chính thân mình vậy".

Chân Sư dừng lại không nói thêm một lời nào nữa, có một sức mạnh vô hình truyền qua từng lời nói của Chân Sư làm cho tâm thức y bừng tỉnh dậy. Bao nhiêu ý nghĩ trước đây tự thấy mình cũng thuộc loại khá về đạo đức ở thế gian đều tan biến hết.

Y nhận thức được tính chất tầm thường trong tinh thần mình cũng như của bao nhiêu người trần tục khác dù y đang được Chân Sư dạy Đạo bằng huyền linh mặc khải.

 

B. Cứu đói trẻ mồ côi

Và một lần khác vào khoảng nửa đời tu học y cũng gặp một trường hợp tương tự. Có một số trẻ mồ côi sống gần nơi y cư ngụ đang gặp cơn đói, không phải vì xã hội bạc đãi chúng nó, mà vì lòng tham lợi của người chăm sóc khiến xảy ra vụ đói mà bên ngoài ít người biết được.

Y biết rõ tình trạng thiếu thốn của chúng, nhưng y vẫn lờ đi không giúp đỡ gì, y an tâm để việc đói khát ấy lại cho người khác lo liệu, tự nhủ rằng mình làm quá nhiều công việc tinh thần rồi.

Trong một lần diện kiến Chân Sư bằng Chơn Thần sau phần dạy bảo xong, Ngài liền quay sang hỏi thăm chuyện trần tục.

"- Mấy đứa trẻ mồ côi ở gần con đó hiện giờ sống ra sao ?"

"- Bạch Thầy chúng nó đang đói phải ăn cháo qua ngày."

Ngài dạy tiếp : "- Trong túi con đang có tiền, con có quyền chi dụng số ấy. Mấy đứa trẻ mồ côi đang đói trước mắt con, mà con vẫn làm ngơ, hạnh của một người tu không phải như thế. Con hãy trở về cõi đời trần tục của con mà lập hạnh lại".

Chơn Thần y đã bị Chân Sư đuổi về cõi đời trần tục vì thiếu hạnh thương yêu đối với chúng sanh…

Thế là sau đó một chương trình cứu đói cho trẻ mồ côi được thực hiện một cách âm thầm, khéo léo, khoảng vài ba tháng thì hết nạn. Có ai biết rằng những bát cơm cứu trợ vào những ngày giờ ấy là kết quả của một hình phạt mà vị môn đồ tu chơn đã nhận từ vị Thầy của mình nơi cõi Thiêng Liêng để cảnh cáo. Y nhớ mãi bài học nầy trong đời.

 

C. Tâm ô uế

Một câu chuyện khó quên nữa là chuyện hai con kiến vàng cắn lộn.

Hôm ấy khoảng 11 giờ trưa, vị môn đồ tu chơn đang ngồi đi tiêu dưới gốc một bụi tre. Cầu tiêu nơi miền quê chỉ là một cái hố sâu có hai miếng ván bắt ngang, bao chung quanh vài thanh gỗ và mấy miếng lá dừa sơ sài.

Gió hiu hiu thổi, vài áng mây bay lãng đãng trên bầu trời xanh thẳm. Y đang ngồi ngó mông lung bất giác nhìn xuống thanh gỗ thấy một hàng kiến vàng bò lưa thưa.

Có hai con chẳng biết giận nhau chuyện gì, đang cắn nhau dữ dội, bốn cái nanh bấu chặt không rời, chân chỏi vào nhau dựng đứng cả người, con nầy đẩy qua con kia đẩy lại, khi thắng khi bại, có lúc lăn nhào trông giống một màn đô vật trên võ đài. Lấy làm vui mắt, y mãi mê xem trận kiến vàng đấu võ.

Bỗng một luồng thần lực tuôn tràn xuống mạnh mẽ khắp cả người y. Y đã quen với cảm giác nầy mỗi khi Chân Sư sắp xuất hiện, nên định thần lại để tâm thật yên xem có chuyện gì xảy ra. Y nghe rõ tiếng nói Chân Sư lồng lộng trong chơn thần với giọng nghiêm khắc.

"- Hai con kiến đang cắn nhau sắp chết mà con nỡ ngồi nhìn như thế à ! Sao con không can nó ra ?"

Y có cảm giác sợ hãi vì thất lễ, cầu tiêu ô uế quá sao Thầy lại đến nơi nầy.

Tiếng nói lại tiếp : "- Con nhìn xuống hầm cầu kia xem".

Y ngó xuống hố tiêu thấy một đám dòi lúc nhúc.

"- Nơi đó đang có sự sống. Có sống là có Thầy trong đó, không có gì là ô uế cả. Chính tâm con đang dơ đó".

Tiếng nói im bặt…

Y lấy ngón tay định kéo mỗi con ra một bên …

Tiếng nói lại vang lên: "- Nhẹ nhẹ tay không khéo con làm chết nó bây giờ".

Y xé một miếng giấy nhỏ xen vào giữa bốn cái càng của chúng, rồi dùng miếng giấy khác ép nhẹ vào thân nó đẩy ra xa, chúng vẫn còn giận dữ, phải một hồi lâu mới chịu buông ra mà bò đi chỗ khác.

Y bàng hoàng như vừa qua một cơn mộng giữa ban ngày.

Bên ngoài đàn kiến vẫn bò lưa thưa, cơn gió nhẹ thoảng qua và những đám mây trôi lững thững trên nền trời xanh biếc, khung cảnh vẫn y như lúc nãy nhưng tâm hồn người tu sĩ đã đổi thay rất nhiều.

Những dòng tư tưởng của trí não lại hiện ra ; thì ra bấy lâu nay Thầy bắt mình học thuộc lòng Tân Luật, Pháp Chánh Truyền mình đọc thuộc như con két mà không nhập tâm chút nào.

"Đừng thấy đồng Đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải".

Thầy muốn dạy mình một bài học về hai chữ "Đạo Tâm" thật mắc mỏ và quí giá vô cùng.

Sau nầy khi tuổi đời đã về chiều, vị môn đồ tu chơn trẻ tuổi của mấy mươi năm trước mỗi khi nhắc lại kinh nghiệm tu học của mình để hướng dẫn đàn em, vẫn khẳng định rằng :

"- Cả cuộc đời của Qua, Qua đã sống tràn ngập trong ân huệ thiêng liêng của Đại Từ Phụ và các Đấng trọn lành do duyên may từ tiền kiếp mà được vậy ngay từ buổi đầu tu học.

Qua có thể làm chứng chắc với mấy em rằng, phải có công nghiệp phụng sự vạn linh, phải tu sửa đức hạnh của mình từ trong tâm ý sâu kín cho đến những biểu lộ bên ngoài trong cử chỉ, lời nói, hành động cho đến chỗ chí Thánh mới đoạt Đạo đặng.

Kiến thức về đạo lý không thôi chưa đủ mà phải thực hành đạo lý ấy mới trọn vẹn tri hành hợp nhứt tạo nên thiện duyên, thiện nghiệp đọng lại trong Chơn Thần một sức sông tâm linh cảm hóa được lòng người gọi là cái đức của kẻ tu hành.

Cái phép tu luyện chỉ giúp mình gần đặng Chân Sư để nghe lời chỉ giáo, còn Thánh chất trong con người mình, mình phải tự tạo cả tâm ý lẫn hành động đều mang tính chất thánh thiện mới được. Chân Sư không bồng ẵm đặng, luật Trời không cho phép như thế.

Hay nói một cách khác thì phương pháp tu luyện cũng như áo mão, quyền hành, chức tước của giáo quyền giúp mình đến chỗ tạo được nhiều công nghiệp phụng sự vạn linh và đức hạnh thánh thiện là hai yếu tố quyết định cho người tu sĩ đắc Đạo hay không".

 

4. Phạm Môn Là Gì?

Phạm Môn là đường lối tu chơn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đức Hộ Pháp lập ra để thực hiện sinh hoạt Tịnh Luyện ghi trong Bộ Tân Luật vâng theo Thánh ý Đức Chí Tôn trong bài thi :

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn
Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn
Vô lao bất phục hồi chơn mạng
Tỉnh thế kỳ thân đắc chánh tôn

Đường lối tu hành nầy chủ trương vượt qua hình thức áo mão, quyền hành của Hội Thánh chuyên chú về phương diện Tam Lập là lập công, lập ngôn, lập đức cho đầy đủ để được thọ truyền bí pháp tịnh luyện tự giải thoát lấy mình.

Về phương diện tổ chức là một nếp sống cộng đồng dưới hình thức những cơ sở kinh tế nhỏ qui tụ một số người đồng chí hướng làm ăn chung với nhau. Trước nhứt để tự nuôi thân mình và sau dùng lợi nhuận hiến công quả cho Hội Thánh hoặc tế khó trợ nghèo bất luận người trong Đạo hay ngoài đời.

Những người tình nguyện vào Phạm Môn phải qua một thủ tục kết nghĩa với nhau gọi là "Đào viên Pháp".

Về nội qui họ phải tuân theo Thập điều giới răn kể ra như sau :

1. Phải tuân y luật pháp chơn truyền của Chí Tôn.
2. Phải trọn hiếu với tông đường phụ mẫu, trọn nghĩa vợ chồng vẹn phận làm cha.
3. Phải trọn giữ trai giới.
4. Phải xa lánh các đảng phái.
5. Phải thật hành phước thiện, nuôi người già, dưỡng trẻ nhỏ.
6. Không đặng thâu của chúng sanh.
7. Coi anh em đồng đạo như ruột thịt.
8. Không được bội sư phản bạn.
9. Phải ăn ở như các Thánh hiền, đừng phạm tội vong công bội đức.
10. Phải thương yêu loài người và loài vật, kỉnh trọng mạng sanh vừa theo tính chất của Chí Tôn là chúa sự sống.

Tại Tây Ninh từ năm 1929 đến năm 1933 đã tổ chức được 9 nhà sở theo kiểu nầy.

Khởi đầu là cơ sở Phạm Nghiệp nằm bên quốc lộ 22 tại xóm Trường Đua gần ngã ba Mít Một, làm ruộng và đồ mộc. Kế đến là các nhà sở :

· Khách Đình (nội ô Tòa Thánh)
· Sở Tâm Lạch xã Trường Hòa.
· Sở Giang Tân xã Trường Hòa.
· Sở Nam Công Nghệ gần ngã ba Suối Đá.
· Sở Nữ Công Nghệ gần ngã tư Ao Hồ.
· Sở Dưỡng Lão Đường.
· Sở làm ruộng ở Núi Sập.
· Trạm Y Tế Phạm Môn phía sau Hộ Pháp Đường (nội ô Tòa Thánh).

 

5. Biến Tướng Của Phạm Môn

Nguyên từ buổi ban sơ, các nhóm phò loan học Đạo bằng cơ bút, giáo lý của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ truyền dạy qua cơ bút cũng có đôi phần khác hơn với cựu luật của Tam Giáo đang lưu truyền buổi ấy.

Đặc biệt vấn đề tịnh luyện, thiền định, Đức Chí Tôn giáng cơ xác định những điều căn bản sau đây đối với các tín đồ gốc ở Đạo Phật và Đạo Lão chuyển sang. Tóm tắt như sau :

"- Luật lệ tuy cũ nhưng Đạo vẫn như nhiên, do công đức mà đặng đắc Đạo cùng chẳng đặng".

"- Tu thành công hay không là do người hành Đạo".

"- Phép luyện Đạo không đổi".

"- Tam Kỳ Phổ Độ là một trường thi công quả".

"- Duy Thầy cho Thần hiệp cùng Tinh Khí đặng hiệp Tam Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh".

"- Thầy đến đặng huờn nguyên cho Chơn Thần các con đắc Đạo".

Yếu tố công đức được quan tâm trước tiên thay vì phương pháp công phu, tịnh luyện, thiền định.

Do đó, khi tổ chức đời sống tu hành của tín đồ nhằm mục đích giải thoát sau cùng, đường lối Phạm Môn chủ trương phải dấn thân nhiệt thành làm công quả một thời gian song song với việc học hỏi để mở mang trí tuệ, tu chỉnh đức hạnh của mình cùng với cúng kiến, công phu để rèn luyện Tinh Khí Thần theo chiều hướng hiệp nhứt Tam Bửu.

Nếp sống nầy hiện ra thành những sinh hoạt cộng đồng của nhà sở có tính chất giống như phước thiện, thu hút được một số đồng đạo ngày càng đông dần theo thời gian và có một sắc thái đặc biệt hiện rõ lên giữa một khối tín đồ Cao Đài buổi đầu còn đa dạng.

Từ đó dấy sinh lên trong lòng người cái nhìn và phê phán có tính cách trường phái là nguyên nhân đưa đến những khảo dượt làm biến tướng Phạm Môn.

Trước tiên là danh xưng Phạm Môn nguyên văn lấy từ bài thi của Đức Chí Tôn giáng cơ cho:

"Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn .. ."

Phạm Môn có nghĩa là cửa Phật, chữ Phạm còn đọc là Phạn có nghĩa là Phật [Hán Việt Tự Điển của Nguyền Văn Khôn. Khai Trí. Xuất bản năm 1969, nơi trang 692 ghi rõ như sau: Phạm (Phật) thanh tịnh, trong sạch, một âm nữa là Phạn].

Vì Đức Hộ Pháp mang họ Phạm nên Phạm Môn bị hiểu lầm xuyên tạc là của dòng họ Phạm. Phạm Nghiệp là tên của cơ sở kinh tế đầu tiên của đường lối tu chơn tại Tây Ninh.

Nguồn vốn đầu tiên của cá nhân và gia đình Ngài, có sự hùn công của một số đồng đạo cùng chung sống với nhau, tổ chức như một đơn vị kinh tế tự lập, không phải là tài sản của Hội Thánh.

Lời giải thích xác định ấy được diễn dịch ra dưới cái nhìn phe phái cho rằng Đức Hộ Pháp lập riêng sự nghiệp của những người họ Phạm.

Xin trích nguyên một đoạn trong tờ lời giảng ngày 15-10 Nhâm Thân do Ngài Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh viết :

"- Đức Hộ Pháp ban đầu có lập một cảnh nhà bên đường lộ Tây Ninh Sài Gòn, gần ngã ba Mít Một, đặt tên là Phạm Môn để cho gia quyến của Ngài ở và thờ ông bà kiến họ Phạm là họ của Ngài.

Ngài khai rằng : là của riêng của Ngài sắm không ăn nhập với Hội Thánh. Hai năm nay Ngài có lập riêng ra nhiều chỗ nữa, người ta cũng kêu là Phạm Môn, song Ngài nói để chữ Phạm là Phật như:

1. Phạm Môn gần Ao Hồ.
2. Khách Đình.
3. Phạm Nghiệp Nam.
4. Nữ Công Nghệ ở gần Tòa Thánh.
5. Phạm Từ ở Cẩm Giang. (Đức Hộ Pháp coi là của riêng của người họ Phạm, hay là người vào Phạm Môn, không ăn nhập với Đạo)
6. Giang Tân ở Bến Kéo.
7. Sở làm ruộng ở Núi Sập (Long Xuyên).

Ngài nói là sở làm ăn của người kiến họ Phạm của Ngài chớ không phải của Đạo, Ngài nói Ngài dùng tiền bạc riêng của Ngài mà lập ra các sở nầy nên Ngài không cho Hội Thánh hay trước.

Ngài nói như Hội Thánh muốn lãnh các sở ấy mà làm theo sở hành Phước Thiện của Ngài sắp đặt cho đạo hữu thuở nay thì Ngài giao cho, song cũng phải thối hồi những tiền sở tổn về việc ấy thuở giờ cũng là nhiều.. ."

Còn về phía chính quyền tại Tây Ninh, người Pháp luôn luôn tình nghi Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị chống Pháp trá hình, nên những hình thức tập hợp tín đồ thành từng nhà sở kinh tế kiểu nầy càng làm tăng thêm mối nghi ngờ sẵn có, dĩ nhiên người Pháp phải tìm cách ngăn chận và dập tắt.

Sau cuộc khám xét, lục soát tại Hộ Pháp Đường vào cuối năm Quí Dậu (1933) chính quyền Pháp ra lịnh đóng cửa các cơ sở Phạm Môn với lý do lập hội không giấy phép.

Nội vụ đưa ra tòa, Hội Thánh chống án, và cuối cùng được tòa tối cao bên Pháp xử trắng án, mặc dầu được trắng án, mối căng thẳng giữa Đạo và chính quyền Pháp vẫn không có gì giảm bớt.

Sau cuộc đại náo Đạo quyền tại Toà Thánh Tây Ninh ngày 20-1 Giáp Tuất (5-3-1934) về việc chia chi phái, những người tu ở Phạm Môn tỏ ra rất trung thành với lập trường của Hội Thánh, nên Đức Quyền Giáo Tông yêu cầu Đức Hộ Pháp mượn người Phạm Môn bổ đi các địa phương để giữ vững tinh thần của các tín đồ.

Đứng trước tình thế nan giải ; trong thì nội bộ bất hòa, chia rẽ, chi nầy, phái nọ nghịch lẫn nhau, ngoài thì Pháp đàn áp, bắt bớ, giam cầm, tra tấn số đông anh em Phạm Môn ở khám đường Tây Ninh cả ba tháng trời, Đức Hộ Pháp đồng ý đưa anh em Phạm Môn ra cầu phong, nhận lãnh áo mão, phẩm tước của Hội Thánh hành Đạo để giải tỏa những sự hiểu lầm trong và ngoài Hội Thánh.

Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 15-2 Ất Hợi (19-3-1935), Đức Lý Giáo Tông phong :

· ? Giáo Hữu.
· 26 Lễ Sanh Nam.
· 14 Lễ Sanh Nữ.

Hầu hết những vị nầy đều được bổ nhiệm làm đầu họ Đạo Phước Thiện tại các tỉnh có nhiệm vụ lập các sở Lương Điền, Công Nghệ, Thương Mãi y như Phạm Môn nhưng đổi tên lại thành Phước Thiện và các cơ sở nầy thuộc quyền Hội Thánh.

Cơ quan Phước Thiện mới thành hình đặt dưới quyền chưởng quản của Ngài Khai Pháp Hiệp Thiên Đài Trần Duy Nghĩa.

Như vậy đường lối tu chơn Phạm Môn không áo mão, phẩm tước trong buổi đầu đã bị biến tướng thành cơ quan Phước Thiện mở rộng ở nhiều tỉnh từ năm 1935 với Thập Nhị đẳng cấp thiêng liêng là 12 phẩm tước do Hội Thánh mới đặt ra gồm :

1. Minh Đức.
2. Tân Dân.
3. Thính Thiện.
4. Hành Thiện.
5. Giáo Thiện.
6. Chí Thiện.
7. Đạo Nhơn.
8. Chơn Nhơn.
9. Hiền Nhơn.
10. Thánh Nhơn.
11. Tiên Tử.
12. Phật Tử.

Tám phẩm dưới do Hội Thánh phong có nhiệm vụ giúp Hội Thánh Cửu Trùng Đài. Bốn phẩm sau cùng là Hiền Nhơn, Thánh Nhơn, Tiên Tử, Phật Tử phải do cơ bút định, giúp Hội Thánh Hiệp Thiên Đài giữ gìn chơn pháp tức là bảo thủ bí pháp tâm truyền.

 

6. Cân Thần Truyền Pháp

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ người chịu trách nhiệm tối cao truyền bí pháp là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc; người đứng đầu cơ quan Hiệp Thiên Đài.

Trong Pháp Chánh Truyền Đức Chí Tôn dạy :

"Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền Thiêng Liêng mối Đạo"

Cầm quyền thiêng liêng mối Đạo có nghĩa là dùng quyền lực vô hình của Bát Quái Đài tác động trên đời sống hữu hình của Hội Thánh và chúng sanh.

Bí Pháp là quyền năng của điển lực để giải thoát Chơn Thần con người khỏi những ràng buộc của thất tình lục dục, bí pháp thuộc phần trách nhiệm của Hiệp Thiên Đài truyền lại cho chức sắc gồm có hai phần :

- Cái thể tức nhiên là hình thức, phương pháp phải làm như thế nào để diêu động được điển quang trong nội thân con người và trong Trời Đất. Phần nầy người đi trước học được truyền lại cho người đi sau được.

- Phần thứ hai là hiệu ứng của nó tức nhiên là kết quả của sự vận dụng phương pháp đó đã đạt được những gì. Phần nầy thuộc quyền năng của Bát Quái Đài vô tư và khách quan.

 

A. Nguồn gốc Bí Pháp Đạo Cao Đài do đâu ?

Chúng ta hãy nghe một đoạn trong lời giảng của Đức Hộ Pháp đêm 13-8 Mậu Tý (16-9-1948) tại Đền Thánh.

"- Nhớ lại từ khi Đức Chí Tôn chọn Bần Đạo làm Hộ Pháp, dạy Bần Đạo phò loan và chấp bút.

Đặc biệt hơn hết là chấp bút vì nhờ chấp bút mà Bần Đạo được Đức Chí Tôn dạy cách tham thiền.

Khi biết tham thiền rồi mới nhập tịnh nhưng nhập tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời.

Nhập tịnh mà không tới thì bị hôn trầm tức là ngủ gục, còn nhập tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ.

Nhập tịnh mà đúng rồi còn phải nhờ các Đấng Thiêng Liêng mở Huệ Quang Khiếu nữa mới xuất hồn ra được.

Con đường mà Chơn Thần xuất ra rồi về với Đức Chí Tôn là con đường Thiêng Liêng hằng sống đó vậy.

Chính Bần Đạo được Đức Chí Tôn mở Huệ Quang Khiếu, nên mới về được hội kiến cùng Đức Chí Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí Tôn nhiều điều bí yếu, bí trọng".

Và một đoạn khác trong lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn ngày 24-4-1926:

"- Chiêu là môn đệ yêu dấu của Thầy, nó có công tu luyện, Thầy lại dùng huyền diệu mà rỗi nó trước các con". (Trích Đạo Sử Hương Hiếu)

Một đoạn khác trong lời giảng của Đức Hộ Pháp thuật lại lần gặp gỡ đầu tiên giữa Ngài và Đức Ngài Lê Văn Trung.

".. . Khi chúng tôi ôm cái cơ đến nhà Ngài đặng Đức Chí Tôn độ, mục đích chúng tôi là Đức Chí Tôn bảo đâu làm đó vậy thôi. Khi tới nhà thú thật với Ngài rằng :

Chúng tôi được lệnh Đức Chí Tôn đến nhà anh phò loan cho Đức Chí Tôn dạy Đạo, ông biết Đấng đó hơn chúng tôi, lo sắp đặt bàn ghế sửa soạn buổi phò loan rồi bắt ông nhập môn.

Trong nhà có một người con nuôi tên Thạnh còn nhỏ độ 12 tuổi, hai cha con kiếm được cơ đâu không biết, vái rồi cầu cơ, khi phò loan thằng nhỏ ngủ, ông thì thức.

Cơ chạy hoài, ông hỏi thì Đức Chí Tôn mới trả lời, chỉ có hai người biết với nhau mà thôi. Từ đó ông mới tin Đức Chí Tôn". (Trích lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, 13-10 Giáp Ngọ - 1954)

Từ khi Đức Chí Tôn giao trọng trách một Đại Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài, Ngài Thượng Trung Nhựt luôn luôn bận rộn với việc Đạo của Hội Thánh trong những năm đầu mới thành lập đầy những khó khăn đối nội và đối ngoại.

Ngài từ chối hình thức tu luyện nhập tịnh thất, sống cách ly với những sinh hoạt bên ngoài với lý do "Đạo thì nghèo, em thì đông an nơi đâu mà tịnh".

Nhưng trên thực tế Ngài là một đồng tử thông công được với Đức Chí Tôn và được Đức Chí Tôn giáng tâm chỉ dạy Ngài phương pháp "tĩnh tâm", Ngài áp dụng phương pháp tu tập nầy hằng ngày trong khi vẫn ngồi làm việc tại Giáo Tông Đường. Điều nầy chỉ một số ít người sống thân cận với Ngài mới biết được và Ngài đã đắc Đạo linh hiển.

Như vậy trong buổi đầu của lịch sử Đạo Cao Đài, theo thứ tự thời gian cả ba Ngài Ngô Văn Chiêu, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung đều là những đồng tử thông công được với Đức Chí Tôn và chính Đức Chí Tôn dùng huyền diệu độ rỗi cả ba vị nầy.

Về sau Đức Chí Tôn giao trách nhiệm cho Ngài Phạm Công Tắc ở Hiệp Thiên Đài, còn hai vị kia ở Cửu Trùng Đài, một người nhận một người từ chối.

Vấn đề nguồn gốc bí pháp Đạo Cao Đài thọ truyền từ đâu đã rõ. Đức Hộ Pháp học bí pháp trực tiếp từ Đức Chí Tôn. Đức Hộ Pháp có tiếp xúc với Ngài Ngô Văn Chiêu trong buổi đầu nhưng về một vấn đề khác, không phải vấn đề bí pháp.

 

B. Cân thần là gì ?

Cân thần là từ ngữ bình dân mà các bậc tiền bối trong đạo hay dùng để chỉ công việc tuyển chọn người có đủ điều kiện được truyền bí pháp.

Cân thần là đo lường, xem xét, cân nhắc mức độ trược khí trong Chơn Thần của một người nhiều ít thế nào có đủ sức chịu đựng nổi điển lực của các Đấng trọn lành ban cho hay chưa mà không bị biến tướng thành Tả Đạo.

Đức Hộ Pháp dùng thần của Ngài, tức là sự minh triết thiêng liêng nơi con người của Ngài quyết định vấn đề nầy, các vị Thời Quân Chi Pháp cũng có truyền bí pháp cho chức sắc nhưng khả năng cân thần cho từng cá nhân người thọ nhận không thấy các Ngài thi thố.

Đối với các vị tu ở Phạm Môn đã chuyển qua hình thức Phước Thiện từ năm 1935 và có nhận lãnh trách nhiệm Đầu Họ Đạo Phước Thiện tại các tỉnh vào dịp lễ vía Đức Chí Tôn ngày 9-1- Bính Tý (1936) Đức Hộ Pháp có truyền các phép bí tích, giải oan, tắm thánh, phép xác, hôn phối cho các vị nầy tại Hộ Pháp Đường.

Đức Hộ Pháp hành pháp trục thần, khai khiếu và truyền dạy cách thực hành cho từng vị, ngoài ra còn được đặc ân nhận lãnh phép "Bạch Đăng" (cây đèn trắng) để trong khi hành Đạo gặp chuyện khó khăn thắp lên vào giờ Tý và thành tâm cầu nguyện Đức Ngài sẽ đến giúp cho.

Một số chức sắc Cửu Trùng Đài cũng được ban phép "Bạch Đăng" và nhiều giai thoại lý thú được ghi nhận chung quanh lối làm việc huyền linh nầy của Đức Hộ Pháp, xác thân ngồi tại Hộ Pháp Đường mà Chơn Thần ứng biến xuất hiện được nhiều nơi khác nhau để yểm trợ cho chức sắc hành đạo.

Xin đơn cử vài trường hợp điển hình sau đây :

(Kiểm duyệt bỏ một đoạn)

Riêng về phần công phu nội thân để hàm dưỡng Tinh Khí Thần, việc truyền bí pháp không đồng đều, có người được Đức Hộ Pháp chỉ trọn một vòng luân chuyển khí lực, có người chỉ là mới hình thức khởi đầu. Điều ấy cũng dễ hiểu vì trình độ tu tiến và nghiệp lực của mỗi cá nhân không giống nhau.

Cụ thể Đức Hộ Pháp đã chỉ cho những vị ấy cách thức công phu như thế nào, điều nầy không thể phổ biến rộng rãi trên giấy được, vì nó cũng giống như những liều thuốc thần kinh cực mạnh, phải đúng với bệnh trạng của từng cơ thể bệnh nhân và phải có sự giám sát kỹ lưỡng của bác sĩ, bằng không sẽ có hại nhiều hơn lợi, lý do bí truyền là ở chỗ tai hại nầy.

Nếu như thuật điều khí, dưỡng thần, truyền thần, xuất thần v..v.. là một công thức cố định mà bất cứ cơ thể người nào cũng có thể áp dụng có kết quả tốt thành Tiên hoá Phật được thì bậc chơn tu là kẻ có lòng từ tâm biết thương đời, muốn cứu vớt chúng sanh khỏi vòng trầm luân khổ hải đâu có lý do gì để giữ kín.

Đối với bậc hạ thừa Đức Hộ Pháp có cho phổ biến rộng rãi một phương pháp tập thể dục, gọi là phương pháp dẫn huyết gồm động tác vận động cơ bắp, gân cốt, kích thích thần kinh.

Đặc biệt đáng chú ý là cách thở dài hơi, chậm, sâu xuống bụng gọi là dẫn khí xuống đan điền.

Cách hấp cặp nhãn bằng cách xoa lòng bàn tay rồi vuốt mắt cho mở bùng ra, tinh thần phải mạnh dạng và thấy hình Thiên Nhãn, và phần chót thuộc tư tưởng buộc phải tập suy nghĩ cho chơn chánh hằng ngày. Thể dục xong, cúng thời sáng mỗi ngày một lần.

Trên thực tế áp dụng lối dưỡng thần nầy không phải dễ dàng thành công. Trong cuộc đời bon chen cơm áo nầy con người luôn bị tác động để suy nghĩ những chuyện gian dối tham lam, giành nhau từng chút lợi quyền nhỏ nhặt , hằng ngày buộc phải sống với hạnh đức của bậc chân tu, suy nghĩ cho chơn chánh, lòng phải thanh tịnh để tưởng tượng được ra hình Thiên Nhãn.

Dầu đó chỉ là bước đầu luyện tập, người tín đồ từ đó vẫn phải trải qua những cuộc tranh đấu nội tâm dữ dội lắm mới đi được trên con đường chánh đạo.

Ngay như hình thức cúng tứ thời hàng ngày tại tư gia người tín đồ, xét trên phương diện tâm pháp khả năng trụ thần được trong thời cúng ít bị phóng tâm cũng có ít người thành công, vẫn biết rằng :

"Lễ bái thường hành tâm Đạo khởi".

Nhưng chỗ rốt ráo vẫn là :

Sang hèn trối kệ tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.

Con đường tu chơn phải ngó đến chỗ rốt ráo ấy. Miệng đọc kinh lâm râm mà lòng tưởng nhớ lung tung chuyện đời, tâm ấy đâu còn chỗ trống để làm "Toà sen cho Lão ngồi", cúng mà Thần Thánh không ngự được nơi tâm thì lạy ai đây ?

Lạy khói nhang hay lạy bàn thờ bằng gỗ, hay lạy tiền tài danh vọng, tình duyên đang nhớ tới bên trong. Khía cạnh phàm tục của con người là như thế, chiếc áo không làm nên thầy tu.

Đi vào tu chơn là đối diện với sự thật tâm linh một cách rõ ràng Thánh, phàm không lẫn lộn, bí pháp trong nghi lễ cúng lạy là ở chỗ mở ra tâm mình giao cảm được với các Đấng để nắm bắt được bóng dáng của Chân Sư làm một quyền năng vô hình dìu dẫn mình từng chuyện lớn nhỏ trong suốt cuộc đời tu học về sau cho đến chỗ :

Đạo hư vô Sư hư vô,
Reo chuông thoát tục phất cờ tuyệt sinh.
(Kinh xuất hội)

Bước khởi đầu mượn hữu hình tìm đến vô vi còn chưa thực hiện được, lại đòi bí pháp tịnh luyện để siêu phàm nhập Thánh chỉ là mơ vọng xa xôi.

Quan niệm tu chơn của Toà Thánh Tây Ninh rất nghiêm khắc, vì vậy việc truyền bí pháp của Hiệp Thiên Đài vẫn trong vòng im ẩn, ít người biết rõ.

 

7. Con Đường Tu Chơn Tiếp Diễn Như Thế Nào Sau Ngày Phạm Môn Biến Tướng Thành Phước Thiện

Sau ngày Phạm Môn biến tướng thành Phước Thiện, cơ quan nầy phát triển nhanh chóng nhớ vào những yếu tố hữu hình, âm thanh, sắc tướng đáp ứng sát với trình độ tâm lý của đa số nhơn sanh.

Người ta dễ dàng cảm thấy hài lòng với những bộ đạo phục có màu sắc phân biệt đẳng cấp khác nhau, chỗ ngồi trước sau trong nội tâm Thánh Điện theo nghi lễ Triều Thiên.

Quyền hành phẩm tước, áo mão, lễ nghi tế tự theo thứ bậc tác động như những hình thức Thần Thánh hóa công đức của người tu, phô bày trước mắt nhơn sanh có một sức kích thích dây chuyền trong lòng người hơn là những chứng ngộ nội tâm im ẩn của hàng chơn tu.

Mình Thánh mình hiền mình biết lấy,
Tặng phong quá tiếng chớ nhờ ai.
(TVDĐ)

Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của cơ quan Phước Thiện chính thức thành hình do Đạo Nghị Định số 48/ĐNĐ ngày 19-10 Mậu Dần ( 10-12-1938) Đức Hộ Pháp và Đức Lý Giáo Tông đồng ký ban hành.

Quyền vạn linh công nhận qua Đạo Luật Mậu Dần 1938, Phước Thiện là một trong bốn cơ quan của tổ chức trong Đạo Cao Đài. Song song với sự phát triển hình tướng, tổ chức vấn đề tâm pháp trong lòng người chức sắc diễn tiến ra sao ?

Bất luận hành đạo ở cơ quan nào Hành Chánh, Phổ Tế, Tòa Đạo, Phước Thiện .. ., khi chơn thần người chức sắc đã đạt đến tình trạng thu hút sự chú ý của Đức Hộ Pháp về phương diện huyền linh, họ sẽ được Đức Ngài quan tâm đặc biệt hơn và có dịp gặp gỡ chỉ dạy riêng về tâm pháp một cách kín đáo.

Đức Ngài có năng khiếu tâm linh đặc biệt do Đức Chí Tôn khai mở ngay từ buổi đầu trong cuộc sống tu hành nên vấn đề nhận diện được những chơn thần tinh tấn còn trong thân xác con người là việc bình thường đối với Đức Ngài.

Đối với người thường, hiểu được vấn đề nầy trên lý thuyết đã khó rồi nói chi đến việc thực hành, vận dụng con mắt siêu phàm ấy để tìm người mà độ.

Năng khiếu tâm linh ấy mỗi người đều có trong trạng thái tiềm ẩn. Muốn vận dụng nó duy chỉ có cách tu hành thật nghiêm chỉnh và cao độ.

Kinh nghiệm của một vài vị chức sắc Hiệp Thiên Đài cho biết đi cúng trong tình trạng mỏi mệt vì thức khuya, có lần sau giờ cúng thời Tý bị Đức Ngài gọi đến nhắc nhở phải chuẩn bị nghỉ ngơi, ngủ sớm đừng để mệt mỏi như vậy.

Vì khi nãy Ngài thấy chơn thần xấu quá ! Tốt cũng được thấy để nâng đỡ mà xấu cũng bị thấy để nghe quở rầy. Vấn đề tâm pháp bí truyền ai có sống gần gũi Đức Hộ Pháp mới hiểu được chuyện ấy không có gì là lạ.

Tuy nhiên cách thức khởi đầu công phu do Ngài chỉ dạy cho người nầy có thể không giống người kia vì tâm đức của họ chẳng đồng, nghiệp lực cá nhân khác nhau nhưng nguyên lý thăng hoa Tinh Khí Thần vẫn đồng nhất lý.

Những phương pháp khai mở năng khiếu tâm linh cũng được truyền dạy theo nguyên tắc riêng từng người. Chẳng hạn trường hợp một chức sắc Hiệp Thiên Đài được Đức Ngài tập luyện khiếu thần giao cách cảm bằng cách Ngài ở trên lầu Hộ Pháp Đường còn vị chức sắc kia ở tầng dưới.

Ngài nói điều chi đó với vị chức sắc nầy và ông phải tập lắng nghe như trong trạng thái thông công với các Đấng bằng cách giáng tâm, xong rồi trình lại với Đức Ngài, kết quả ghi nhận được để xem mức độ chính xác đến đâu.

Không khoe khoang, không tự ý chỉ lại những người khác những gì Đức Hộ Pháp đã mật truyền được coi là những đức tính cần thiết của loại sinh hoạt nầy.

Vì vậy vấn đề tu chơn truyền bí pháp tuy vẫn âm thầm tiếp diễn, nhưng nếu nhìn ở bề ngoài và nghe trong dư luận quần chúng dường như chìm trong quên lãng bên cạnh những ồn ào của sinh hoạt truyền giáo và kinh tế phước thiện.

Về phần lý thuyết tu chơn, năm 1947 Đức Hộ Pháp cho phổ biến "Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo" gồm 273 chữ. Đó là những chỉ dẫn có tính cách nguyên tắc cụ thể theo một lối sống mẫu mực của các bậc Thánh Tiên xưa truyền lại, được diễn tả một cách tân thời hợp với những từ ngữ quen dùng trong Đạo Cao Đài.

Các sách báo Đạo đều có phổ biến rộng rãi phương pháp nầy, thậm chí còn có một bản in thủ bút của Đức Hộ Pháp về phương luyện kỷ cùng với ảnh của Đức Ngài đang đứng ban phép lành để lộng vào khuôn kính treo nơi vách nhà nhiều tín đồ như là một hình thức nhắc nhở phải tập sống theo mẫu mực ấy.

Sau ngày Đức Hộ Pháp qui thiên, các vị Thời Quân Chi Pháp và Chi Đạo còn lại tiếp tục chịu trách nhiệm về sinh hoạt tu chơn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhưng trên thực tế hoạt động của các vị nầy rất yếu ớt.

Song song với sự suy thoái quyền lực hữu hình của Hiệp Thiên Đài về nhiều phương diện, trong đó có vấn đề truyền bí pháp huyền linh của Bát Quái Đài lại vượng lên dưới nhiều hình thức khác nhau, giống như tính chất linh thiêng trong những năm đầu của lịch sử Đạo Cao Đài.

Con đường tu chơn của tín đồ tiếp diễn với một sắc thái khác có tính cách tự phát, kinh nghiệm của người đi trước giúp đỡ phần nào cho người đi sau, cộng với những chỉ dẫn do mặc khải nội tâm của cá nhân được ghi nhận đó đây trong hàng ngũ chức sắc và tín đồ hữu công hữu đức.

Nếu như ngày xưa Đức Hộ Pháp còn tại thế, tâm lý của nhơn sanh trong lãnh vực tu chơn nầy đã trông cậy vào Ngài như một ngọn đèn sáng bảo đảm bườc đi không lạc lối, thì trong thời kỳ uy linh của Hiệp Thiên Đài mờ nhạt dần, đức tin của tín đồ về mặt huyền linh có tính chất tản mát theo từng nhóm do luật đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, tùy duyên hóa độ và đe dọa trong tương lai có nhiều trường phái khác nhau mà mỗi phái hay mỗi xu hướng chỉ có khả năng làm sáng tỏ được một góc độ nào đó của triết lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

 

8. Phương Luyện Kỷ

Mười tám năm sau ngày khai mở Phạm Môn với nội luật sơ đẳng gồm 10 điều giới răn, năm 1947 Đức Hộ Pháp đưa ra "Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo" gồm 18 điều giáo huấn nằm gọn trong 273 chữ được coi là những nguyên tắc cụ thể, chi tiết hơn 10 điều giới răn, buộc người tín đồ phải áp dụng nếu muốn bước vào con đường tu chơn.

Nội dung phương luyện kỷ là sự thánh hóa tánh đức con người để làm nền tảng cho những hành vi đạo đức phô diễn một cách chơn thật ra bên ngoài trong cách đối nhân xử thế, có sức cảm hóa lòng người hướng về nẻo thiện và để làm một tòa ngự thiên lương cho vận hà thần lực từ cõi thượng giới tuôn chảy qua hồn phách của bậc chân tu đắc pháp, tác động trên sự tấn hóa của các sanh linh khác trên một vùng rộng lớn ít nhiều tương ứng với đức độ của vị ấy có được.

Phần kết của phương pháp nầy ghi "Ấy là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy" đã nói lên ý nghĩa vừa nêu trên, đồng nghĩa với đắc đạo tại thế, chơn thần của bậc chân tu sẽ có đủ quyền năng tương liên cùng các Đấng trọn lành, thường xuyên sống trong trạng thái Trời người hiệp nhứt.

Tuyệt nhiên không có chỉ dẫn nào về cách thực hành công phu nội thân, để kích thích các phản ứng sinh hóa làm biến đổi khối vật chất của thức ăn thành nhiệt năng, cơ năng hay là tác động để thúc giục sự khai mở các năng khiếu tâm linh như Thần Nhãn chẳng hạn.

Phương luyện kỷ hướng dẫn người tín đồ phải sống như thế nào mới đắc đạo tại thế. Còn phương pháp công phu nội thân hay là thuật làm gia tốc hiện tượng Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần huờn Hư là việc bí truyền cho từng cá nhân, người tu thường hay nhầm lẫn hai lĩnh vực nầy những tưởng rằng nếu họ có được bí quyết tịnh luyện là đắc đạo.

Sự thật nếu không sống được theo những nguyên tắc thánh thiện thì không bao giờ thành Thánh cả dù có học thuộc lòng hằng pho kinh điển dạy tham thiền nhập định.

Thần Thánh Tiên Phật là những linh hồn đã thoát xác mà trước kia đã sống theo kiểu người Thần, người Thánh, người Tiên, người Phật, tên gọi ấy do con người đặt ra tùy sở hành của họ trong một kiếp sanh mà có, chớ chơn linh vốn không tên tuổi, không hình ảnh chỉ là một sức sống tâm linh, sáng suốt thánh thiện.

Bí quyết tịnh luyện thực hành có kết quả tốt được là khi nào đời sống thân xác và tâm linh của con người có đầy đủ Thánh chất, trong trường hợp trái lại Thiên Đình sẽ đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí.

Tại sao vậy ?

Vì một khi Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì đương nhiên Chơn Thần có quyền năng pháp thuật mà trong quyền năng pháp thuật ấy còn chứa đầy tính phàm tục, nên khi vận dụng quyền năng tâm linh ấy có động cơ phàm tục tác động sâu kín bên trong, tức nhiên đã lạc lối vào con đường tà Đạo, bậc chân tu không nên đào tạo Chơn Thần mình theo kiểu ấy và quyền năng tâm linh tích tụ được do công phu tịnh luyện theo kiểu ấy cũng cần được giải tán.

Thiên Đình đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí là để tránh chỗ tai hại nầy. Phương luyện kỷ là hình thức giáo hóa nhơn sanh hiểu con đường tu chơn phải như thế nào mới đúng, được phổ biến rộng rãi để tín đồ có ý thức rõ rệt khi bước vào sinh hoạt tịnh luyện không mơ hồ, nghi hoặc hay mơ mộng điều huyễn ảo dị đoan.

Ấy là phần dọn mình cho trong sạch để Thánh linh có thể giáng ngự được khi người tín đồ bước sanh giai đoạn thượng thừa nghiêm khắc được truyền pháp, trục thần, khai khiếu.

Có nhiều nguy hiểm có thể làm hư hoại cả cuộc đời con người ở khúc quanh nầy, nên việc truyền bí pháp xưa nay các bậc Thánh hiền vẫn phải giữ gìn nghiêm nhặt. Lý do chính chỉ có thế thôi, hay nói cách khác là do trình độ tu tiến nghiệp lực của người thọ nhận xứng đáng hay chưa mà vị chân sư quyết định truyền pháp hay còn chờ đợi sự dọn mình tiếp tục.

Nguyên văn lời chỉ dạy của Đức Hộ Pháp như sau :

Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo

· Phải thân thích cùng cả nhơn vật tức là tìm nguyên do của vạn linh cùng chí linh.
· Phải ân hậu và khoan hồng.
· Phải thanh nhàn đừng vị kỷ.
· Phải bình tĩnh nghĩa là đừng chịu ảnh hưởng của họa phước buồn vui, tập tánh không không đừng nhiễm, vui cũng vui buồn cũng buồn nhưng đừng để nọc buồn vui thấm vào chơn tánh.
· Phải độ lượng khoan dung tha thứ.
· Phải vui vẻ, điều hòa tự chủ và quyết đoán.
· Giữ linh tâm làm căn bản.
· Hiếu hạnh với Chí Tôn và Phật Mẫu.

Phương Pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh của thiên lương

· Đức tin và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá.
· Ai cố oán kẻ thù của mình thì khó giữ thanh tâm công chánh cho đặng.
· Ai chẳng oán hận mới thắng đặng kẻ thù nghịch cùng mình.
· Sự cừu hận là khối thảm khổ đệ nhứt của nhơn sanh, nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ cừu hận oán ghét.
· Thắng đặng khí nộ mình thì không chọc ai giận dữ.
· Lấy thiện mà trừ ác.
· Lấy nhơn nghĩa trừ bạo tàn.
· Lấy lòng quảng đại đặng mở tâm lý hẹp hòi.
· Lấy chánh trừ tà.
· Ấy là đường thương huệ kiếm.

Phương pháp luyện thân - luyện trí

· Ẩm thực tinh khiết.
· Tư tưởng tinh khiết.
· Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu.
· Thương yêu vô tận.
· Ấy là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy.

Tòa Thánh ngày 14-01 Đinh Hợi (1947)
Hộ Pháp
(ký tên và đóng dấu)

Một vấn đề được đặt ra là Đức Hộ Pháp cũng như các vị giáo chủ khác, sau khi hoàn thành sứ mạng thiêng liêng của mình sáng lập ra một nền Đạo truyền bá giáo lý, truyền bí pháp, các Ngài phải bỏ xác phàm.

Những vị thừa kế sự nghiệp tinh thần ấy lại không đủ sáng chói như các vị giáo chủ nên quyền năng bí pháp đương nhiên phải giảm sút đi ít nhiều. Càng qua nhiều thế hệ thừa kế, nét qui phàm càng hiện ra trong hàng ngũ những tu sĩ cao cấp của giáo hội.

Cho đến một thời kỳ lịch sử nào hành động của khối lớn tu sĩ đã biến chất rất nhiều và những mục đích cao thượng ban đầu bị lệch lạc gần hết thì nền Đạo bị thất chơn truyền.

Trên dòng lịch sử các Đạo giáo thỉnh thoảng cũng có những hình thức phục hưng chơn pháp do các Chơn Linh cao trọng giáng trần, chỉnh lại những sai lệch đang diễn ra nhưng rồi sau đó một thời gian hiện tượng qui phàm với những nguyên nhân không thể tránh được, là khối phàm tâm của tín đồ lớn hơn Thánh chất đã tác động và làm nên lịch sử Đạo theo chiều hướng ấy.

Kinh nghiệm lịch sử loài người đã đúc kết lại như thế, liệu rằng sau khi các vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài đều qui vị hết, sinh hoạt tu chơn truyền pháp có giữ được nguyên tắc tuyển chọn kỹ lưỡng như trước không ?

Đức Chí Tôn khẳng định trong Pháp Chánh Truyền, hễ Đạo còn thì Hiệp Thiên Đài vẫn còn và khối tín đồ Cao Đài tin tưởng như thế, nhưng trong khi chờ đợi một Hiệp Thiên Đài thứ hai với đầy đủ huyền linh đáng tin cậy thì vấn đề truyền pháp trong khoảng trống Hiệp Thiên Đài ấy sẽ diễn ra dưới hình thức nào ?

Phân tích vấn đề tu chơn đến đây chúng ta thấy có hai phần rõ rệt :

- Phần thứ nhứt là sống với tánh đức và hành động như thế nào mới gọi là tu chơn ?

Câu trả lời đã có. Đó là : "Phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo".

- Phần thứ hai là những bí quyết trong khoa tịnh luyện, thiền định được truyền lại từ Đức Hộ Pháp hay vài vị Thời Quân có tính cách bí truyền mà nay các Ngài đều qui vị hết phải tìm nơi đâu mới có ?

Câu trả lời : Đương nhiên phải do những người hữu hình khác thực hiện.

Trong trường hợp nầy kinh nghiệm của người đi trước sẽ chỉ lại cho người đi sau cùng với sự ám trợ tư tưởng của quyền Thiêng Liêng. Vấn đề nầy đòi hỏi người tu phải có một đức tin mạnh mẽ và biết lừa lọc những kiến thức tiếp thu được cho phù hợp với trạng thái Tinh Khí Thần của mình, bởi lý do thiếu quyền năng cân thần của Đức Hộ Pháp như khi Ngài còn tại thế.

Luôn luôn trong cửa Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy vẫn có những bậc tu chơn ẩn dạng, có đủ sự sáng suốt tâm linh để giúp đỡ cho người đi sau những chỉ dẫn cần thiết và đúng lúc khi người tín đồ có đủ công đức và xứng đáng được truyền bí pháp.

Họ không phải là Hộ Pháp hay Thời Quân chi cả, họ là những tín đồ tu chơn có đức độ thể hiện được Thánh ý của Bát Quái Đài để trợ thần cho người tu luyện.

Nhưng cái khó không phải ở chỗ tìm đâu ra bí quyết tu luyện, tìm đâu ra người có thể chỉ dẫn lại cho mình, mà khó ở chỗ có sống được với tâm đức và hành động chí Thánh hay chưa.

Một khi đã sống được một đời sống thánh thiện thật sự, dầu chưa vội tìm thì bí pháp cũng sẽ đến dưới hình thức nầy hay hình thức khác do sự điều động tự nhiên của quyền Thiêng Liêng khiến cho những việc hữu hình xảy ra đúng lúc.

Thật vậy, nếu công đức chưa đầy đủ dù có đến trước mặt Đức Hộ Pháp khi Ngài còn tại thế và yêu cầu Ngài truyền bí pháp, Ngài vẫn không thể làm việc ấy bởi những lý do đã phân tích ở những đoạn trước, và ngược lại khi tinh thần của người tu xứng đáng được truyền bí pháp dù Đức Hộ Pháp không còn tại thế, quyền năng thiêng liêng của Đức Ngài cũng sẽ tác động trợ thần cho người tu luyện có ấn chứng và khiến cho ở cõi hữu hình nầy có những dịp may gặp người có khả năng chỉ dẫn thêm cho mình được.

Đức Chí Tôn dạy : "- Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn Thần cho các con đắc Đạo".

Lời hứa của Đại Từ Phụ chẳng khi nào sai sót và Thầy thì huyền diệu vô cùng thiên biến vạn hóa. Đạo pháp lại vô biên nên trong "Phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo" Đức Hộ Pháp dặn :

Phải có đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn và Phật Mẫu mới có thể đến chỗ mà Ngài gọi là "Mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy".

Để kết luận vấn đề nầy có thể tóm tắt như sau :

Tùy theo công đức của người tu có được tới đâu bí pháp huyền linh Đức Chí Tôn sẽ cho ứng hiện đến đó bằng nhiều hình thức linh diệu và đó là nguyên tắc thăng tiến trên con đường tu học, từ xưa đến nay vẫn vậy. <@@@>