III. Linh Hồn theo Huyền Bí Học
ID027769 - Phần : III. Linh Hồn theo Huyền Bí Học 🖶 Print this Phần
Sách : 54 Câu Hỏi Đáp Về Linh Hồn và Con Nguời
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

III. Linh Hồn theo Huyền Bí Học

 

9. Những thể hư hoại của con người?

Có ba thế giới mà con người luân chuyển trong vòng sanh tử để tấn hóa là:

. Hạ giới (cõi trần)
. Trung giới (dục giới)
. Thượng giới (Thiên đàng).

Chính là tại cõi Thượng giới hay là Thiên đường mà con người trải qua một thời gian rất quan trọng, sau khi chết, thời gian nầy kéo dài ra lần lượt khi con người tấn hóa.

Ba thể mà con người dùng để hoạt động trong ba cõi nầy đều hư hoại. Ba thể hư hoại là xác thân, vía và trí, chúng nó liên lạc với ba cõi: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

Tóm lại:

1. Xác thân ở trong cõi Hạ giới (cõi trần)
2. Vía - Trung giới (dục giới)
3. Trí - Thượng giới (Thiên đàng)

 

10. Phàm thể hay thể vật lý là gì?

Thuật ngữ thể vật lý (physical body) bao gồm cả hai nguyên khí thấp của con người, bởi vì cả hai đều gồm có chất vật lý, được tạo thành trong thời kỳ một kiếp sống trên cõi vật lý.

Cả hai đều bị con người vứt bỏ vào lúc chết để rồi cùng nhau tan rã trên cõi vật lý khi con người chuyển sang cõi trung giới. Chúng đều thuộc về cõi vật lý do cấu tạo vật liệu của cõi này và không thể thoát ra khỏi nó.

Tâm thức hoạt động bên trong chúng bị hạn chế trong sự gò bó của cõi vật lý và phải tuân theo những định luật thông thường về không gian và thời gian.

Xét theo vật liệu cấu tạo nên chúng thì ta có thể phân biệt chúng ra thành xác phàm (the gross body) và thể phách (the etheric double).

Thể phách là bản sao chính xác từng hạt một của thể hữu hình và là môi trường thông qua đó có tác dụng mọi dòng điện và dòng sinh khí mà hoạt động của xác phàm tùy thuộc vào đó.

Nó được gọi là “thể phách” vì nó được cấu tạo bằng “chất dĩ thái” (ether); nó được gọi là “nhị trùng thể” (double) vì nó là bản sao chính xác của xác phàm, có thể nói là cái bóng của xác phàm.

Vật chất của cõi trần được chia ra bảy lớp là:

. Chất đặc
. Chất lỏng
. Chất khí
. Chất dĩ thái.

Chất dĩ thái có bốn tình huống phân biệt với nhau.

Đây là bảy trạng thái của vật chất thuộc cõi trần, và bất cứ bộ phận nào thuộc vật chất đó cũng đều có thể chuyển thành bất kỳ một trong các trạng thái này.

Thể vật lý của con người bao gồm vật chất ở bảy trạng thái này:

. Xác phàm gồm vật chất ở thể đặc, thể lỏng và thể khí.
. Thể phách bao gồm bốn lớp chất dĩ thái mà ta lần lượt biết tên là Dĩ thái I, Dĩ thái II, Dĩ thái III và Dĩ thái IV.

 

11. Cấu tạo của con người theo Khoa Học?

Cơ thể người là toàn bộ cấu trúc vật lý, bao gồm đầu, thân và tứ chi (hai tay và hai chân). Khi con người đạt đến tuổi trưởng thành, cơ thể có khoảng 100 ngàn tỉ tế bào. Mỗi tế bào là một phần của một cơ quan được thiết kế để thực hiện các chức năng sống thiết yếu.

Các hệ cơ quan của cơ thể bao gồm: hệ vận động, các hệ mạch (hệ tuần hoàn, hệ bạch huyết), hệ miễn dịch, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết và hệ sinh dục nam hoặc nữ.

 

A. Túi bao bọc bằng da

Cơ thể người được bao bọc bởi một lớp da. Da bảo vệ các cơ quan trong cơ thể tránh được những ảnh hưởng có hại của môi trường ngoài, góp phần giữ nhiệt độ cơ thể không đổi.

Dưới da là lớp mỡ, dưới lớp mỡ là cơ và xương. Cơ tạo nên hình dạng ngoài cơ thể, xương làm thành cái khung bảo vệ cơ thể và các nội quan.

 

B. Các khoang cơ thể

Là những khoảng không gian trong cơ thể chứa đựng và bảo vệ các cơ quan và hệ cơ quan, bao gồm:

1. Khoang sọ và ống xương sống:

Là các khoang xương chứa bộ não và tủy sống, nhờ đó mà các bộ phận quan trọng này của hệ thần kinh được bảo vệ chặt chẽ.

2. Khoang ngực:

Là khoang được giới hạn trong lồng ngực, ở phía trên cơ hoành ngăn cách với khoang bụng. Trong khoang này chứa các bộ phận chủ yếu của hệ hô hấp và hệ tuần hoàn như tim, hai lá phổi (ngoài ra còn có một bộ phận của hệ tiêu hóa đi qua khoang này là thực quản).

3. Khoang bụng:

Nằm bên dưới cơ hoành, là khoang cơ thể lớn nhất, khoang này chứa gan, ruột, dạ dày, thận, tử cung (ở nữ),... là các cơ quan của hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ sinh dục.

 

C. Các hệ cơ quan

Các cơ quan khác nhau có cùng một chức năng tạo thành một hệ cơ quan. Trong cơ thể có nhiều hệ cơ quan, nhưng chủ yếu là: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết và hệ sinh dục.

1. Hệ vận động:

Gồm bộ xương và hệ cơ. Cơ thường bám vào hai xương khác nhau nên khi cơ co làm cho xương cử động, giúp cho cơ thể di chuyển được trong không gian, thực hiện được các động tác lao động.

2. Hệ tuần hoàn:

Gồm có tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch), có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng, ô-xi và các hooc-môn đến từng tế bào và mang đi các chất thải để thải ra ngoài.

3. Hệ hô hấp:

Gồm có mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi, có nhiệm vụ đưa ô-xi trong không khí vào phổi và thải khí cac-bô-nic ra môi trường ngoài.

4. Hệ tiêu hóa:

Gồm có miệng, thực quản, dạ dày, gan, ruột non, ruột già, hậu môn và các tuyến tiêu hóa. Hoạt động của hệ tiêu hóa làm thức ăn biến đổi thành các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể và thải chất bã ra ngoài.

5. Hệ bài tiết:

Nước tiểu gồm 2 quả thận, ống dẫn nước tiểu và bóng đái. Thận là cơ quan lọc từ máu những chất thừa và có hại cho cơ thể để thải ra ngoài. Trong da có các tuyến mồ hôi cũng làm nhiệm vụ bài tiết.

6. Hệ thần kinh:

Gồm não bộ, tủy sống và các dây thần kinh, có nhiệm vụ điều khiển sự hoạt động của tất cả các cơ quan, làm cho cơ thể thích nghi với những sự thay đổi của môi trường ngoài và môi trường trong. Đặc biệt ở người, bộ não hoàn thiện và phát triển phức tạp là cơ sở của mọi hoạt động tư duy.

7. Hệ nội tiết:

Gồm các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận và các tuyến sinh dục, có nhiệm vụ tiết ra các hooc-môn đi theo đường máu để cân bằng các hoạt động sinh lí của môi trường trong cơ thể nên có vai trò chỉ đạo như hệ thần kinh.

8. Hệ sinh dục:

Là hệ cơ quan có chức năng sinh sản, duy trì nòi giống ở người. Người phân tính nên cơ quan sinh dục có phân hóa thành tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ. Thông qua hoạt động tình dục mà sản phẩm của tinh hoàn và buồng trứng gặp nhau để tạo hợp tử rồi đến thai nhi, bắt đầu thời kì mang thai ở người mẹ.

 

D. Sự phối hợp hoạt động của các Hệ Cơ Quan

Cơ thể là một khối thống nhất. Sự hoạt động của các cơ quan trong một hệ cũng như sự hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể đều luôn luôn thống nhất với nhau.

Ví dụ: khi chạy, hệ vận động làm việc với cường độ lớn, lúc đó, các hệ cơ quan khác cũng tăng cường hoạt động, tim đập nhanh và mạnh hơn, mạch máu dãn (hệ tuần hoàn), thở nhanh và sâu (hệ hô hấp), mồ hôi tiết nhiều (hệ bài tiết), ...

Điều đó chứng tỏ các hệ cơ quan trong cơ thể có sự phối hợp hoạt động, các cơ quan trong cơ thể có một sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng, đảm bảo tính thống nhất.

Sự thống nhất đó được thực hiện nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng máu chảy trong hệ tuần hoàn mang theo các hooc-môn do các tuyến nội tiết tiết ra (cơ chế thể dịch).

 

E. Cấu tạo và hoạt động sống của tế bào

Tất cả các cơ quan ở người đều cấu tạo bằng tế bào, cơ thể người có số lượng tế bào rất lớn khoảng 75 nghìn tỉ (75 × 10¹²).

Có nhiều loại tế bào khác nhau về hình dạng, kích thước và chức năng. Có tế bào dài, ngắn, có tế bào lớn, bé khác nhau và chức năng của các tế bào ở các cơ quan cũng khác nhau, ngay cả ở trong cùng một cơ quan cũng khác nhau.

Mặc dù khác nhau về nhiều mặt nhưng loại tế bào nào cũng có 3 phần cơ bản: màng sinh chất, chất tế bào và nhân.

Tế bào gồm một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất hữu cơ và các chất vô cơ. Các chất hữu cơ chính là protein, glucid, lipid.

· Protein, hay còn gọi chất đạm, là một chất phức tạp gồm có carbon (C), hidro (H), oxy (O), ni-tơ (N), lưu huỳnh (S) và một số nguyên tố khác. .

· Glucid hay còn gọi là chất đường bột, là những hợp chất loại đường và bột. Nó gồm có C, H và O trong đó tỉ lệ giữa H và O luôn là 2H ÷ 1O, trong cơ thể, glu-xit ở dưới dạng đường glucoz (có ở máu) và glicogen (có ở gan và cơ).

· Lipid hay còn gọi là chất béo, có ở mặt dưới da và ở nhiều cơ quan. Nó cũng gồm 3 nguyên tố chính là C, H, O nhưng tỉ lệ của các nguyên tố đó không giống như glucid. Tỉ lệ H ÷ O thay đổi tùy loại lipid. nó là chất dự trữ của cơ thể.

· Acid nucleic (ADN hay ARN) chủ yếu có trong nhân tế bào, cả 2 loại này đều là các đại phân tử, đóng vai trò quan trọng trong di truyền.

Ngoài các chất hữu cơ nói trên, trong tế bào còn có các chất vô cơmuối khoáng.

Hoạt động sống của tế bào biểu hiện ở quá trình đồng hóa và dị hóa, sinh sản và cảm ứng, sinh trưởng và phát triển.

Mỗi tế bào sống trên cơ thể luôn luôn được cung cấp các chất dinh dưỡng do dòng máu mang đến và luôn luôn xảy ra quá trình tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những chất đơn giản được thấm vào trong tế bào.

Đồng thời trong tế bào cũng luôn xẩy ra quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành những chất đơn giản và phóng giải năng lượng cần thiết cho cơ thể.

Tế bào có khả năng sinh sản và cảm ứng, sự sinh sản của tế bào là khả năng phân chia trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo nên những tế bào mới. Sự cảm ứng là khả năng thu nhận và phản ứng trước những kích thích lí, hóa học của môi trường quanh tế bào.

Trong quá trình sống nhiều tế bào chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới.

 

12. Cấu tạo hoạt động của xác phàm theo Huyền Bí Học?

Xác phàm mà ta có thể đại khái gọi là phần hữu hình của thể vật lý mặc dù mắt phàm không được rèn luyện không thấy các thành phần cấu tạo bằng thể khí. Đây là lớp áo ngoài, là biểu lộ thấp nhất của Chơn nhơn.

Người ta chia thể xác ra làm hai phần: một là xác thịt, hai là cái phách.

Xác thịt gồm những cơ quan để thụ lãnh và hoạt động.

Cái phách làm trung gian để đem sanh lực truyền qua xác thịt.

 

A. Hệ thần kinh của xác phàm

Xác phàm có các hoạt động chịu sự kiểm soát của ý chí và những hoạt động nằm ngoài tầm kiểm soát của ý chí, cả hai loại hoạt động này đều vận hành nhờ vào các hệ thần kinh, nhưng đó là các loại thần kinh hệ khác nhau.

Một hệ thống xúc tiến mọi hoạt động của cơ thể để duy trì sinh hoạt bình thường của nó, nhờ vậy phổi mới co bóp, tim mới thoi thóp và hệ tiêu hóa mới được điều động, hệ thần kinh này bao gồm các dây thần kinh không cố ý mà ta thường gọi là “hệ giao cảm”.

Ngoài hệ thần kinh này ra chúng ta còn có hệ thần kinh cố ý vốn quan trọng hơn nhiều cho các mục đích tâm trí của ta. Đây là hệ thần kinh lớn vốn là công cụ để cho ta tư duy, nhờ đó chúng ta có cảm giác và vận động được trên cõi trần.

Nó bao gồm trục não tủy – bộ óc và tủy sống – từ đó chạy ra khắp cơ thể các sợi dây bằng chất thần kinh tức là các dây thần kinh cảm giác và vận động: dây thần kinh giúp chúng ta có cảm giác chạy từ ngoại vi vô trục, còn dây thần kinh giúp chúng ta vận động chạy từ trục ra ngoại vi.

Các sợi dây thần kinh đó xuyên suốt mọi bộ phận của cơ thể, liên kết với nhau lại thành từng bó, các bó thần kinh lại nối vào tủy sống để tạo thành chất sợi ở bên ngoài rồi lại chuyển lên trên lan tỏa ra và chia nhánh nhóc trong bộ óc, vốn là trung tâm của mọi cảm xúc và mọi sự vận động cố ý do ý chí kiểm soát.

Đây là hệ thần kinh giúp con người biểu hiện ý chí và ý thức của mình, ta có thể nói rằng ý chí và ý thức đóng đô nơi bộ óc.

Nếu không thông qua bộ óc và thần kinh hệ thì con người không làm gì được trên cõi trần; nếu bộ óc và thần kinh hệ bị xáo trộn thì con người không còn có thể biểu hiện một cách trật tự được nữa.

Nếu bộ óc bị ảnh hưởng của thuốc men, của bệnh tật hoặc bị tổn thương thì tư tưởng của con người có bộ óc đó không còn có thể biểu hiện thỏa đáng trên cõi trần được nữa.

 

B. Cấu tạo của tế bào và nguyên tử trong xác phàm

Các thần kinh hệ được cấu tạo từ tế bào vốn là các vật thể nhất định nho nhỏ có bức vách bao xung quanh, bên trong có chứa một số chất mà ta thấy được dưới kính hiển vi, các tế bào đó thay đổi theo các chức năng khác nhau.

Đến lượt các tế bào này được cấu tạo từ những phân tử nho nhỏ và những phân tử này lại được cấu tạo từ những nguyên tử - nguyên tử của nhà hóa học là một hạt tối hậu không thể phân chia được của một nguyên tố hóa học. Những nguyên tử hóa học này tổ hợp với nhau theo vô số cách để tạo ra các chất khí, chất lỏng và chất đặc của xác phàm.

Đối với nhà Huyền bí học thì mỗi nguyên tử hóa học cũng là một sự vật sống động có thể sống cuộc đời độc lập và mỗi tổ hợp của các nguyên tử đó thành ra một thực thể phức tạp hơn cũng lại là một sự vật sống động.

Mỗi tế bào cũng có sự sống của riêng mình và tất cả các nguyên tử hóa học, phân tử và tế bào này tổ hợp lại với nhau thành ra một tổng thể có tổ chức tức là một cơ thể được dùng làm hiện thể có một dạng tâm thức cao siêu hơn so với bất kỳ tâm thức nào mà các tế bào, phân tử và nguyên tử biết tới trong sinh hoạt riêng rẽ của mình. Các hạt hợp thành những cơ thể này đều thường xuyên xuất nhập.

Nếu ta nhỏ một chút máu rồi quan sát nó dưới kính hiển vi thì chúng ta thấy trong đó có vận động một số vật thể sống động như là bạch huyết cầu và hồng huyết cầu. vậy là những lớp áo của chúng ta thường xuyên thay đổi vật liệu, chúng đến và tạm trú trong một lúc rồi lại đi ra để tạo thành bộ phận của các cơ thể khác – một sự thay đổi và tương tác liên tục.

 

13. Tìm hiểu về thế Phách (Thể Sinh Lực) theo Huyền Bí Học?

Khoa học gia cho rằng ngoài ba trạng thái quen thuộc của vật chất, còn một trạng thái thứ tư gọi là ether. Người có thông nhãn quan sát thấy nó là cầu nối liền giữa cơ thể vật chất và tâm thức thuộc trạng thái này.

Cầu nối ấy ta gọi là thể sinh lực (vital body) hay thể phách (etheric body).

Thể sinh lực bao quanh và thấu nhập vào trọn cơ cấu thể xác (tự nó thì thể phách là một thể riêng biệt lớn hơn, bao quanh bên ngoài thể xác). Thể xác giống như một nhân gồm chất liệu đậm đặc hơn nằm bên trong khối ether.

So với thể xác gồm những cơ quan và bộ phận có hình dạng, giới hạn rõ rệt; thể phách lại có những luồng năng lực tuôn chảy không ngừng. Bởi thể sinh lực lồng vào và thấu nhập thể xác, ta có thể ví cơ cấu tổng hợp này với bộ máy có dòng điện chạy qua làm máy hoạt động.

Chuyện khác biệt giữa bộ máy và cơ cấu hai thể phách - xác là có vẻ như thể sinh lực có trước rồi thể xác đậm đặc dần vào bên trong thể sinh lực, và tùy thuộc vào thể này để tồn tại.

Sự tùy thuộc này thấy rõ khi ta ngủ ban tối, thể phách rút ra khỏi thể xác và thể xác bất động; nó chỉ linh hoạt trở lại khi thể phách quay về nhập vào thể xác lúc ta ngủ đủ; thí dụ khác là khi giải phẫu dùng thuốc mê, thể phách tạm thời bị đẩy ra khỏi thể xác và con người mất tri thức một thời gian.

Sự hiện diện của màng lưới ether khiến cho thể xác có sự sống, và cái chết xẩy ra khi màng lưới rút về; do vậy màng lưới còn có tên là thể sinh lực.

Trên thực tế thể phách chỉ là năng lực, nó gồm vô số những dòng năng lực mỏng manh, hòa hợp với các thể khác, những dòng năng lực này tác động lên thể xác và tới phiên nó khiến thể xác có sinh hoạt.

Thể sinh lực tạm thời rút ra khỏi thể xác khi có chụp thuốc mê, mất tri thức, sự trao đổi bình thường giữa thể xác và thể sinh lực ngưng lại trong một khoảng thời gian cho đến khi có tri thức trở lại.

Trong lúc đó thể xác giữ được sự sống nhờ đường nối giữa hai thể gọi là sợi dây bạc (the silver cord), với luồng sinh lực vẫn còn chẩy trong đó nhưng với lượng giảm đi rất nhiều so với bình thường, tựa như dòng nước nhỏ trong ống nước bị nghẹt, cái chết xẩy ra khi sợi dây kết nối bị đứt lìa hoàn toàn.

Giống như thể xác có dòng máu mang chất bổ dưỡng đến tế bào để nuôi cơ thể và tín hiệu điện từ tế bào thần kinh truyền đi điều khiển cử động hay ghi nhận cảm giác; năng lực trong thể phách cũng có hai loại:

- Năng lực nuôi dưỡng được kinh sách Ấn gọi là PRANA; Phách đem sanh lực phân phát khắp thân-thể.
- Năng lực thứ hai gồm hai phần là cử động - cảm giác và hoạt động siêu hình.

Phách làm một cái cầu ở chính giữa cái xác và cái vía; nó truyền qua cái vía những sự tiếp xúc của giác quan xác thịt và đem xuống cái óc xác thịt và bộ thần kinh mạng lịnh của tâm hồn và sự hiểu biết của mấy cảnh trên.

Tóm lai, cái Phách là bộ máy để phát sanh lực, không có nó, con người sẽ chết, cái xác sẽ rã ra các nguyên tử. Bởi nó có hình dáng giống xác thịt và làm bằng chất tinh-khí (dĩ-thái: éther), nên người ta còn gọi nó là double éthérique.

Cái phách tùy theo xác thịt mà biến đổi thể chất, nếu xác thịt tinh tấn, nhẹ nhàng thì nó cũng tinh tấn nhẹ nhàng, còn xác thị ô trược, nặng nề thì nó cũng hóa ra ô trược nặng nề.

Thể phách chỉ bao gồm các chất dĩ thái thuộc cõi hồng trần thôi và nếu nó có xuất ra khỏi xác phàm thì nó cũng không thể rời được cõi trần và không thể rời xa đối thể thô trược của nó; hơn nữa nó được kiến tạo theo cái khuôn mà các Đấng Nghiệp Quả Tinh Quân đã áp đặt và phải chờ cho Chơn ngã cùng với xác phàm được kiến tạo trong cái khuôn đó.

Ta nên lưu ý rằng thể phách đặc biệt mẫn cảm với các thành phần cấu tạo dễ bay hơi của rượu, vì thế các tôn giáo thường cấm uống rượu, nhất là các rượu mạnh.

 

14. Tìm hiểu về thế Vía (Thể Dục Vọng) theo Huyền Bí Học?

Thể Vía tức thể dục vọng chỉ bao gồm vật chất của cõi trung giới, khi thoát ra khỏi thể vật lý, nó có thể vân du trên cõi trung giới, nó được Chơn ngã mang theo khi Chơn ngã tái sinh luân hồi.

Trước hết ta nên hiểu rõ cụm từ cõi trung giới tức cõi tinh tú. Cõi trung giới là một cõi xác định trong vũ trụ, bao xung quanh và lồng vào cõi trần, nhưng sự quan sát bình thường của chúng ta không nhận thức được nó vì nó bao gồm một cấp vật chất khác.

Nếu ta lấy cực vi tử hồng trần rồi phân rã nó ra thì nó sẽ bị biến mất xét theo quan điểm của cõi trần; nhưng ta lại thấy nó bao gồm nhiều hạt thuộc loại thô trược nhất của vật chất trung giới tức là chất đặc của cõi tinh tú (the astral world).

[Thuật ngữ “tinh tú” biểu thị loại vật chất siêu vật lý. Có lẽ thoạt tiên các quan sát viên đã chọn dùng cụm từ này do vật chất cõi trung giới vì nó có vẻ chiếu sáng so với vật chất cõi trần].

Mọi nguyên tử của cõi trần đều có những vỏ bọc bằng chất trung giới, vậy là chất trung giới tạo thành cái mà ta có thể gọi là cái khuôn của chất hồng trần.

Nếu chúng ta tưởng tượng cõi hồng trần không còn tồn tại nữa, ngoài ra không có chuyện gì khác thay đổi thì chúng ta vẫn còn có một bản sao hoàn chỉnh của nó trong chất trung giới; và nếu chúng ta tưởng tượng thêm nữa là mọi người đều đươc phú cho năng lực hoạt động trong chất trung giới thì thoạt tiên những người nam nữ đó sẽ không có ý thức gì về sự khác nhau của môi trường xung quanh mình; những người “chết” mà thức tỉnh ở các cảnh giới thấp của cõi trung giới thường thấy mình ở trạng thái giống như thế cho nên cứ tưởng rằng mình vẫn còn sống trên cõi hồng trần.

Chúng ta thấy thể vía thấm nhuần thể xác và ló ra bao xung quanh nó ở mọi hướng giống như một đám mây có màu sắc,con người sống trên nhiều cõi khác nhau trong những lớp áo thích hợp với mỗi cõi, và tất cả các lớp áo hoặc hạ thể này đều lồng vào nhau; lớp áo thấp nhất và nhỏ nhất được gọi là “thể xác”, còn khối vật chất hỗn hợp của các lớp áo khác được gọi là hào quang khi chúng ló ra bên ngoài thể xác.

Vậy thì hào quang thể vía chẳng qua chỉ là một bộ phận của thể vía ló ra bên ngoài thể xác. Đó là vì thể vía vốn là hiện thể tâm thức của con người, là chỗ trú của mọi dục vọng và đam mê đầy thú tính.

Sự kinh nghiệm của điều vui vẻ hoặc đau khổ đều do cái Vía sanh ra. Nó hành động vì dục tình, sự ham muốn và cảm giác sai khiến. Những trung tâm điểm của các cơ quan của ngũ quan đều ở trong cái Vía.

Khi tình dục, sự ham muốn và cảm giác thấp hèn vì nhục dục và thú tánh thì chất thanh khí làm ra cái Vía phải thô kịch, cho nên những sự rung động của nó phải chậm chạp và những màu của nó (nâu, đỏ và xanh đậm) thì tối sẫm và không đẹp mắt chút nào.

Sự tấn hóa càng ngày càng lên cao thì chất thanh khí làm cái Vía càng ngày càng tinh tế, màu sắc càng ngày càng tươi, càng trong trẻo và rực rỡ, vì thế, các Đấng Thiêng liêng chỉ cần nhìn vào thể vía là biết mức độ tiến hóa của một người.

 

15. Thế còn sự hiểu biết của con người hay là thể Hạ Trí?

Con người có hai hiện thể tâm thức để cho y hoạt động trên cõi này mà ta đều có thể áp dụng thuật ngữ thể trí để gọi chúng. Tuy nhiên thể thấp hơn, thể trí là hiện thể của Hạ trí, sau khi chết vẫn sống còn rồi chuyển vào Devachan nhưng vẫn bị tan rã khi sinh hoạt trên các cảnh sắc giới cao hơn. (Devachan là cõi trời, còn gọi là Thiên đường tạm).

Vật chất cấu tạo nên thể trí thuộc một loại cực kỳ loãng và tinh vi, vật chất này thuộc về cõi thứ năm tính từ trên xuống hoặc cõi thứ ba tính từ dưới lên trong vũ trụ của ta.

Có một đặc điểm nổi bật về thể trí vì bộ phận bên ngoài của nó biểu hiện thành hào quang của con người; thể trí tăng trưởng, có kích thước và hoạt động tăng lên hết kiếp này tới kiếp khác tùy theo sự tăng trưởng và phát triển của chính con người.

Khi hoạt động liên kết với thể vía và thể xác thì nó không phải là một biểu diễn riêng biệt của con người về hình dạng và đặc điểm vì nó có đường nét hình bầu dục (giống như quả trứng), dĩ nhiên là lồng vào thể xác và thể vía rồi lại bao quanh các thể này bằng một bầu hào quang chói sáng khi nó đã phát triển.

Biết rằng chúng ta phải trải qua nhiều thế kỷ ở trong cái Trí, thì điều hợp lý là phải rán hết sức mình để cải thiện nó lúc còn ở trần gian.

Những phương pháp dùng để đạt được mục đích đó là: học tập, tư tưởng, cảm giác đẹp đẽ liên tục những ước vọng (cầu nguyện) cố gắng làm lành và điều cần thiết hơn hết là tham thiền sốt sắng luôn luôn không gián đoạn. Những sự thực hành khác nhau nầy giúp cho cái Trí tấn hóa rất mau và kiếp sống trên Thiên đường được phong phú.

Xác thân, Vía, Trí là ba thể hư hoại của con người. Con người bỏ xác thịt sau khi chết, rồi tới phiên bỏ cái Vía khi con người sắp sửa lên cõi Thiên đường, khi mãn kỳ ở cõi Thiên đường thì cái Trí cũng tan rã; bấy giờ con người ở trong những thể bất diệt.

Khi trở xuống đầu thai, con người có một cái Trí mới, một cái Vía mới; hai thể nầy phù hợp với tánh tình con người và liên kết chặt chẽ với xác thịt, con người bước vào giai đoạn luân hồi sanh tử mới khác.

Thể trí và thể xác gộp chung được gọi là cá tính (personality), chữ có ngữ căn là persona (per – son) là mặt nạ khi xưa diễn viên mang khi đóng kịch, do đó gợi ý là đằng sau mặt nạ có diễn viên thật hay cái ngã.

Ta cần hiểu điều này bằng không sẽ không nắm được ý nghĩa đích thực của những vấn đề tâm linh :

● Có một người suy tư, hay cái ngã, đằng sau tư tưởng và cảm xúc.
● Cái ngã này sử dụng một thể tâm linh thanh bai lẫn thể xác đậm đặc.
● Thể tâm linh là chỗ mà phần tâm linh và tâm lý hoạt động, giống như thể xác là vận cụ cho kinh nghiệm thể chất.
● Vì ta có thể có cảm nhận tâm linh trong lúc thức tỉnh hoàn toàn, hiển nhiên là có một sự liên kết chặt chẽ giữa thể tâm linh và thể xác, cầu nối ấy là thể phách hay thể sinh lực.

Hạ thể là một công cụ cần phải được tinh luyện, cải thiện, rèn luyện, uốn nắn thành ra một hình dạng và cấu tạo bằng những thành phần khiến cho nó có thể thích hợp nhất để làm công cụ trên cõi trần, phục vụ những mục đích cao nhất của Chơn nhơn.

Việc hạ thể có thể có những mong ước gì, có thể đã tập nhiễm những thói quen gì trong quá khứ thì chẳng có chi quan trọng. Hạ thể thuộc về chúng ta, là tôi tớ của chúng ta để chúng ta tùy ý sử dụng và đến lúc mà nó chiếm quyền kiểm soát đòi dẫn dắt con người thay vì chịu sự chỉ dạy của chơn nhơn thì lúc đó trọn cả mục đích của cuộc đời đã bị phá hoại và hoàn toàn không thể có được bất kỳ loại tiến bộ nào. Đây là điều mà bất cứ người nào tha thiết đi trên đường Đạo đều phải khởi sự từ đó.

 

16. Những thể bất diệt của con người theo Huyền Bí Học?

Đức Thượng Đế tạo con người đặng tượng trưng hình ảnh bất diệt của Ngài. Chúng ta gọi là Monade, là một đơn vị, tinh hoa của Bản ngã. Monad nhập vô vật chất để chinh phục nó và tinh thần hóa nó.

Monad lấy một nguyên tử của ba cõi cao: Niết bàn, Bồ đề, Thượng giới để làm cái nhân cho ba thể cao là Tiên thể, Kim thân và Thượng trí. Có một sợi dây làm bằng chất khí cõi Bồ đề nối liền ba thể nầy với nguyên tử của ba cõi thấp để làm hột giống của ba thể: Hạ trí, Vía và Xác thân.

Tiên Thể hay thể Tối Thiêng liêng chỉ là một nguyên tử của cõi Niết bàn, một sợi dây làm bằng chất khí tinh vi, ấy là hiện thân của Chơn linh, theo nghĩa thật đúng Chơn linh là Đức Thượng Đế lấy xác phàm, tức là Thượng Đế giam mình trong biển cả vật chất, nhưng không hề mất bản tánh thiêng liêng mặc dầu đã hóa thân.

Cái kết quả thanh lọc của biết bao nhiêu kinh nghiệm, tàng trữ trong thời gian vô tận, cứ tuần tự phải qua trong Tiên thể; hai thể bất hoại thấp hơn là Kim thân và Thượng trí lần lần hợp nhứt với nó để làm một bộ y phục vẻ vang cho một người thiêng liêng đã trọn lành.

Kim Thân thuộc về cõi thứ nhì hiện ra; cõi nầy là cõi Linh giác thuần khiết, nơi đây, sự hiểu biết và tình bác ái hiệp làm một.

Người ta cũng gọi thể nầy là thể của Đấng Christ, bởi vì nó bắt đầu hoạt động khi được điểm đạo lần thứ nhứt và cứ phát triển cho tới khi được toàn thiện như Đấng Christ trên con đường Chí Thánh.

Thể nầy phát triển là nhờ tất cả những nguyện vọng yêu thương cao thượng và không vụ lợi, lòng từ bi thuần khiết, tình thân ái và tánh thương xót muôn loài vạn vật nuôi dưỡng nó.

 

17. Tìm hiểu về Thượng Trí (Thể Nguyên Nhân)

Thượng trí còn được gọi là thể nguyên nhân vì mọi nguyên nhân đều ở nơi thể này rồi biểu lộ thành những phóng chiếu ở các cõi thấp. Nhờ Thượng trí mà con người hiểu biết chơn lý bằng trực giác chớ không phải bằng lý luận, và chỉ mượn ở Hạ trí những phương pháp luận biện đặng chứng minh ở cõi dưới những chơn lý trừu tượng mà Thượng trí không hiểu một cách trực tiếp.

Con người ở trong thể nầy gọi là Chơn nhơn (EGO), khi thể nầy hòa hợp với Kim thân thì Chơn nhơn thành ra “Linh giác Chơn nhơn” (ÉGO SPIRITUEL) và bắt đầu hiểu biết bản tánh thiêng liêng của mình.

Thể nầy được bảo tồn và phát triển là nhờ tham thiền bền lâu, dứt tuyệt dục vọng và đem trí tuệ giúp đời.

Thể Thựong trí là khía cạnh hình tướng của Chơn ngã, tức Chơn nhơn (EGO). Đó là nơi tiếp nhận, kho chứa mọi kho tàng của con người trong thời gian vĩnh hằng.

Thể nguyên nhân là thể mà mọi thứ khi được dệt vào trong đó đều trường tồn, chứa đựng mầm mống của mọi phẩm chất được truyền thừa sang kiếp tới.

Khía cạnh hình tướng của chơn nhơn giống như một lớp phim thanh bai bằng vật chất tinh vi nhất mà ta chỉ thoáng thấy được, nó đánh dấu mức độ chơn ngã bắt đầu sinh hoạt riêng biệt.

Lớp phim không màu sắc, thanh bai đó bằng vật chất tinh vi chính là cái hiện thể trường tồn qua trọn cả cơ tiến hóa của con người, là sợi chỉ xuyên suốt mọi kiếp sống, là luân hồi (Sūtrātmā) , tức hồn dây (thread self).

Đó là nơi tiếp nhận mọi thứ phù hợp với Thiên luật, tiếp nhận mọi thuộc tính cao cả và hài hòa, do vậy trường tồn. Nó là điều đánh dấu sự tăng trưởng của con người, trình độ tiến hóa mà y đã đạt được. Mọi tư tưởng thanh cao và vĩ đại, mọi xúc động cao thượng và thanh khiết đều được đưa lên trên và tôi luyện thành ra chất liệu của nó.

Tất cả chúng ta khi bắt đầu hiểu được một điều gì đó về thể nguyên nhân đều có thể đặt mục đích nhất định của đời mình là phải làm cho nó tiến hóa. Chúng ta phải phấn đấu suy nghĩ không ích kỷ để đóng góp cho sự tăng trưởng và hoạt động của nó.

Hết kiếp này sang kiếp khác, hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, hết thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác, cơ tiến hóa vẫn được xúc tiến và khi giúp cho nó tăng trưởng bằng nỗ lực hữu thức thì chúng ta đang làm việc hài hòa với ý chí của Thượng Đế và thực thi chủ đích khiến chúng ta có mặt nơi đây.

Không một điều gì tốt đẹp đã từng được dệt vào kết cấu của thể nguyên nhân này mà lại mất đi, không điều gì bị tiêu tan vì chơn ngã sống đời đời trong đó.

Như vậy, chúng ta thấy rằng theo luật tiến hóa, mọi điều ác cho dù nhất thời có thể mạnh đến đâu đi chăng nữa cũng dường như chất chứa nơi bản thân mầm mống để tự hủy diệt mình, còn mọi điều tốt đẹp đều hàm chứa nơi bản thân hạt giống bất tử.

Bí quyết của điều này vốn ở nơi sự thật là mọi điều ác đều có tính cách không hài hòa, tự nó đã chống lại định luật vũ trụ; vì vậy sớm muộn gì nó cũng bị định luật đè bẹp, xé tan ra thành từng mảnh, nghiền nát thành tro bụi.

 

18. Chơn Ngã là gì?

Con người có ba Ngôi như cha mình là Ðức Thượng Ðế.

- Ngôi thứ Nhất là MONAD, tinh thần thuần khiết, Cha trên trời (Father in heaven).

- Ngôi thứ Nhì là EGO, còn gọi là Chơn Nhơn, Chơn Ngã hay Biệt Ngã, Bản Ngã cao siêu. (Individuality, Higher-Self)

- Ngôi thứ Ba là PERSONALITY còn gọi là Phàm Nhơn, Phàm ngã, con người hồng trần. Thường thì Phàm Nhơn ở tại trái tim của xác thân và giống hình ngôi sao chiếu sáng rỡ.

 

19. Tại sao phải tìm Chơn Ngã?

Phàm Nhơn có bốn thể thường dùng:

1. Xác thân để hoạt động.
2. Cái Phách để thu hút sanh lực Prana vô mình đặng nuôi các tế bào.
3. Cái Vía để biểu hiện tình cảm và ý muốn.
4. Cái Trí (Hạ Trí) để sanh ra những tư tưởng hữu hình, học hỏi, phân biện, xét đoán, tưởng tượng, ghi nhớ.

Cái Vía thường cấu kết với cái Trí xúi giục con người làm những điều chúng nó muốn. Con người ngỡ là mình muốn nên đem ra thực hành. Con người thường làm trái với Luật Trời, gây ra muôn vàn tội lỗi, cho nên phải đầu thai đi đầu thai lại muôn kiếp đặng thanh toán những mối nợ nần.

Tuy nhiên, mỗi lầm lạc là một bài học để dạy con người trở nên khôn ngoan. Nhưng mà phải học cho thiệt thuộc, sau khỏi học lại, không thì con người cứ phạm vào một lỗi lầm cũ cả trăm cả ngàn lần.

Thế nên con người phải tìm Chơn Ngã hay là Chơn Nhơn, bởi Chơn Nhơn không lầm lạc. Phàm Nhơn nếu biết vâng lời Chơn Nhơn và sẽ tiến mau lắm.

 

20. Phương pháp tìm Chơn Ngã

Muốn tìm Chơn Ngã thì phải giữ gìn kỷ luật Bản Thân cho đúng phép. Kỷ luật này gồm việc điều khiển tư tưởng, ý muốn, tình cảm, lời nói và việc làm đúng với Thiên Ý, nói theo Huyền bí học là:

. Làm chủ Xác thân.
. Làm chủ cái Vía.
. Làm chủ cái Trí.

Giáo lý của chư Phật tóm tắt trong ba câu:

. Làm lành.
. Lánh dữ.
. Rửa lòng trong sạch.

Lánh dữ và rửa lòng trong sạch là trau dồi hạnh kiểm, còn làm lành là phụng sự vô tư lợi.

Có bảy điểm sau đây chúng ta cần nhớ:

1. Chúng ta là một Điểm Linh Quang của Đức Thượng Đế, chúng ta trường sinh bất tử chứ không phải xác thân hữu hình, hữu hoại này đâu.

2. Chúng ta sinh ra cõi Trần đặng học hỏi Cơ Trời. Tới một ngày kia, mỗi người đều thành một vị Siêu Phàm gọi là Chơn Tiên. Vị Chơn Tiên phải tiến hóa nhiều cấp bực cao hơn nữa. Thành một vị Siêu Phàm là mục đích đã định sẵn cho nhơn loại trong Thái Dương Hệ này.

3. Dầu muốn dầu không, con người và vạn vật đều bị Luật Tiến Hóa thúc đẩy đi tới mãi chớ không hề thụt lùi lại được. Luật Tiến Hóa rất chậm chạp song điều hòa.

4. Chung cuộc ai cũng tới mục đích song chỉ có khác một điều là: Kẻ đi mau, tới trước, người đi chậm đến sau.

5. Chúng ta nên đi mau, chúng ta có quyền đó. Chúng ta phải học hỏi cho rộng sâu những Luật Trời đang hành động chung quanh chúng ta rồi đem áp dụng vào đời sống hằng ngày đặng tiến mau.

Nếu chúng ta tham luyến Hồng Trần, cứ đi chậm rãi thì phải trải qua muôn kiếp Luân Hồi, mỗi kiếp đều phải chịu qua bốn cái khổ Sanh, Lão, Bệnh, Tử và phải chịu áp lực của hai luật Nhân quả, Luân hồi, chạy trốn đường nào cũng không khỏi vì những điều quấy quá của chúng ta đã làm.

6. Chúng ta cầm số mạng mình trong tay. Chúng ta tự ban thưởng mình hay là tự hành phạt lấy mình tùy theo những sự hành động của chúng ta thuận hay nghịch với Thiên Ý. Đó là tuân theo Luật NHÂN QUẢ, Nhân nào Quả.

7. Vòng hoa chiến thắng sẽ ban thưởng cho ai đã tự chiến thắng lấy mình và đã qua tới Bờ Giác.