IV. Quan niệm Linh Hồn theo Cao Đài Giáo?
ID027789 - Phần : IV. Quan niệm Linh Hồn theo Cao Đài Giáo? 🖶 Print this Phần
Sách : 54 Câu Hỏi Đáp Về Linh Hồn và Con Nguời
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

IV. Quan niệm Linh Hồn theo Cao Đài Giáo?

 

21. Có mấy loại Hồn?

Một cách tổng quát, có ba loại hồn:

1. Sinh Hồn:

Khi Kim thạch tiến hóa lên Thảo mộc, bắt đầu có sự sống rõ rệt thì Đức Chí Tôn ban cho Thảo mộc một điểm Nguyên hồn, gọi là Sanh Hồn để tạo sự sống cho Thảo mộc.

2. Giác Hồn:

Thảo mộc tiến hóa lên Thú cầm, bắt đầu có tri giác thì Đức Chí Tôn ban thêm cho một điểm Nguyên hồn gọi là Giác Hồn để tạo cho Thú cầm sự hiểu biết.

3. Nhơn Hồn, Linh Hồn:

Thú cầm có hiểu biết nhưng chưa có sự suy nghĩ và trí thông minh, nó phải tiến hóa lên phẩm Người thì Đức Chí Tôn mới ban thêm cho một điểm Nguyên hồn nữa gọi là Linh hồn, để con người có tánh linh hơn vạn vật, có trí thông minh sang suốt để phân biệt các lẽ phải trái, nên hư và nhứt là nhờ điểm Linh hồn nầy mà con người có thể tu luyện để đắc thành Tiên, Phật.

 

22. Con người thật sự có mấy thể?

Con người thật sự có ba thể:

. Thể thứ nhứt là xác thân do cha mẹ sanh ra, có ngũ quan, biết cảm giác xúc động, do nơi khí bẫm của cha mẹ mà biến tướng ra, nó cũng như con vật.

. Thể thứ nhì gọi là Đệ Nhị xác thân của Đức Phật-Mẫu ban cho, tức là Chơn Thần của con người, người ta gọi là cái vía hay là hào quang đó, nó do theo cái thể thứ nhứt mà biến hình.

(CHƠN THẦN = VÍA = HÀO QUANG = LỤC DỤC THẤT TÌNH)

. Còn thể thứ ba là Linh hồn, do Đức Chí Tôn ban cho, tức là một điểm linh-quang của Chí Tôn chiết xuống, để cho con người biết hiểu, và khôn ngoan hơn loài vật, vậy thể thứ ba như người cầm cương con vật, còn gọi là Đệ tam xác thân.

Trong ba thể ấy phải hiệp lại mới thành con người, nhưng bản chất nó khác nhau.

 

23. Sở dụng Thiêng Liêng của tam thể con người?

 

A. Đệ Nhứt xác thân

Cũng như con vật, do khí bẫm của cha mẹ mà biến thành, nó thuộc về hữu-hình, luôn chịu ảnh-hưởng của ngoại vật hơn là ảnh-hưởng của tinh-thần.

Trong Đệ Nhứt xác thân đã có ngũ quan là xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và các tế bào để cho Đệ Nhứt xác thân cử động, đi đứng, làm cho con người có cái sống theo con mắt thấy của loài người đó.

Đệ Nhứt xác thân phải bị luật thay đổi, chớ không phải chết đâu, cái xác nào cũng phải biến thành đất cả. Đã nói rằng ở mặt thế nầy không chi là bền, vì nó do vật chất biến sanh, thì phải chịu luật tiêu diệt hay là luật thay đổi của Tạo-Đoan.

Nên luận về Bí Pháp, thì không có gì là mất hay chết cả, bởi trong cái chết nó có ảnh hưởng cho cái sống và trong cái mất, nó có ảnh-hưởng cho cái còn, vậy cho nên Đệ Nhứt xác thân phải chịu luật thay đổi mà người ta gọi là chết đó.

 

B. Đệ Nhị xác thân

Chúng ta thường gọi cái vía, tức là bản năng của chúng ta, bản năng ấy là Chơn Thần. Chơn Thần là một thể vô hình bất tiêu, bất diệt, tiến-hóa hay ngưng trệ là do mỗi lần tái kiếp được dày công hay đắc tội.

Vậy Đệ Nhị xác thân là hình bóng đi lập công, bồi đức, thoảng như nó trọn nghe lời của Đệ Tam xác thân thì được trọn lành mà về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, chúng ta gọi là đắc-quả, còn nương theo thú chất hình vật là Đệ Nhứt xác thân, thì phải luân hồi chuyển kiếp mãi mãi, chúng ta thường nói là bị đọa.

 

C. Đệ Tam xác thân

Là linh hồn do Đức Chí Tôn ban cho, để điều khiển Đệ Nhứt và Đệ Nhị xác thân, tức nhiên là người cầm cương. Trong Tam-Thể chỉ có Đệ Tam xác thân là có phận-sự quan trọng hơn cả, vì nó phải chịu trách-nhiệm đối với Chí Tôn khi trở về ngôi vị của mình.

Sứ mạng đặc-biệt của Đệ Tam xác thân là phải chế ngự Đệ Nhứt và Đệ Nhị xác thân theo luật Thiên-nhiên của Đức Chí Tôn, nếu nó chẳng kềm thúc được tánh dục vọng phàm phu của Đệ Nhứt xác thân thì nó phải bị thiên khiển và thất phận nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Đã nói rằng Đệ Tam xác thân là nền tảng cho sự tiến-hóa của nhơn-loại, thì lẽ dĩ nhiên nó phải chịu sự khảo thí trong trường thi của Đức Chí Tôn lập nơi mặt thế nầy.

Nếu một Chơn Linh thắng được cái thể thứ nhứt và chế ngự được những dục vọng của nó, thì mới được thăng vị, còn như thắng thể thứ nhứt không đặng thì phải chịu hình phạt. Đó là luật công-bình của Đức Chí Tôn, có công thì thưởng, có tội thì trừng.

Thoảng như, Đức Chí Tôn không dùng phương pháp ấy, để lọc lừa các hành động của chơn linh, thì làm sao mà phân biệt được hàng phẩm cao hay thấp tùy theo công nghiệp của Đệ Tam xác thân cho đặng.

Khi Đệ Nhị xác thân bị ngũ lôi tru diệt thì Đệ Tam xác thân phải bị đọa mãi mãi cho đến khi có cuộc ân xá của Đức Chí Tôn thì mới được tái kiếp lại mà lập công chuộc tội.

Lúc khai Thiên lập Địa thì các đẵng Chơn Hồn ấy phải đi từ vật chất lên thảo mộc, thú cầm, rồi mới chuyển kiếp làm người được. Tính ra, mỗi phẩm đi từ đầu chí cuối mà không bị lầm lạc, thì phải đủ chín chục ngàn kiếp (90.000) mới trở về Thiêng Liêng vị được.

Vì cớ mà các đẵng Chơn hồn lúc bị lầm lạc, sa đọa, phải luân hồi chuyển kiếp mãi mãi, chưa về đặng nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

 

24. Sự cấu tạo của tam thể?

Nói về Đệ Nhứt xác thân, hay là thể xác, thì sự cấu-hợp của nó do những tế bào, trong đó có điển tử dương và điển tử âm mà tạo thành.

Nói về Đệ Nhị xác thân, Chơn khí là sự tiết khí của Chơn-tinh hoặc trong sạch, hoặc ô trược mà đổi nên hình sắc, những hào quang ấy bao phủ lấy thể xác đặng tiếp-điển cùng Chơn linh hay Chơn thần.

Đệ-nhứt xác thân là vật thể hữu-hình nó nuôi dưỡng Chơn-tinh, do đó, có bốc ra chất hơi gọi là Chơn khí. Ví dụ, một nồi nước để lên hơi vậy.

Chơn khí ấy có một ánh sáng riêng của nó, gọi là hào quang mà tiếng Pháp gọi là Aura. Nhờ hào quang biến đổi hình sắc, mà nơi cõi hư-linh thấu triệt hành-tàng, tâm ý của mỗi người.

Chơn khí là một điển-quang của thể xác bốc ra, nên nó dung-hợp với điển âm dương trong thể xác. Bỡi cớ, nó là trung gian tiếp-điển của Chơn Thần, và Chơn Linh.

Chơn Thần là một điểm linh của Phật-Mẫu sanh ra. Chơn Thần đến với xác thân, đặng khai trí cho con người, theo bên Phật-Giáo gọi là Giác-Hồn.

Cả Chơn khí và Chơn Thần thì gọi là cái Phách; còn riêng về Chơn Thần thì gọi là Vía đó vậy. Tóm lại:

CHƠN THẦN = VÍA

ĐỆ NHỊ XÁC THÂN = PHÁCH = CHƠN THẦN + CHƠN KHÍ

 

25. Sao gọi là 7 dây oan nghiệt?

     
. THẤT PHÁCH = 7 DÂY OAN NGHIỆT (Seven bonds of Karma)
. Thất tình 七 情: Bẩy thứ tình cảm của con người, ấy là: Hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục.
. Oan nghiệt 冤 孽: Oan trái và ác nghiệt.
                                                     

Bảy dây oan nghiệt: Theo Đầu Sư Thượng Sáng Thanh trong quyển Bí Truyền Chơn Pháp, sự sống của con người do nơi khí Sanh quang nuôi nấng, khí sanh quang nơi mình chúng ta tụ tại 7 khiếu làm nên điển lực, gọi là Thất khiếu sanh quang, phàm gọi là bảy dây oan nghiệt (hay bảy sợi từ khí). Khi con người còn sống nơi cõi trần, chơn thần liên lạc với thể xác qua bảy dòng điện từ mà mắt phàm không thấy được.

Do bảy dòng điện từ nầy, thể xác đòi hỏi chơn thần phải làm cho nó thoả mãn những ý muốn về vật chất của nó. Nếu chơn thần xuôi theo những ý muốn nầy của thể xác thì thể xác sẽ gây ra nhiều mối oan nghiệt trong kiếp sống.

Do đó, Ðạo Cao Ðài gọi bảy dòng điện từ nầy là Bảy dây oan nghiệt, nhưng cũng nhờ Bảy dòng điện từ nầy mà chơn thần ra lịnh cho thể xác không được làm điều sái quấy.

Khi ta ngủ, nằm chiêm bao, chơn thần xuất ra khỏi thể xác đi đó đi đây, nhưng vẫn luôn luôn nối với thể xác bằng Bảy sợi dây nầy. Lúc đó, Bảy sợi dây nhập lại thành một sợi lớn, nếu có huệ nhãn thì thấy nó có màu bạc (SILVER CORD). Khi có tiếng động mạnh, Bảy sợi dây nầy kéo chơn thần trở về nhập vào xác và liền đó ta giựt mình thức dậy.

Bảy dây oan nghiệt là 7 dòng điển lực nối liền giữa Chơn thần và thể xác, hễ điển lực còn thì thi hài còn vận chuyển, sanh hoạt, điển lực dứt thì thi hài phải chết. Khi sắp sửa chết thì thi hài phải chịu một phen khổ sở, đau đớn, vì bảy dây oan nghiệt này vẫn còn ràng buộc thể xác và Chơn thần.

Chính vì lòng Đại từ bi, Chí Tôn mới ân xá, ban cho Đạo Cao Đài bí tích Cắt Dây Oan Nghiệt, tức là dùng diệu pháp cắt bảy cái mối năng lực đặng cho Chơn thần xa lìa xác tục, rồi cũng dùng diệu pháp mà đưa vào cõi Hư linh.

Trong mọi người đều có thất tình lục dục, những tình dục ấy phát sanh ra, do nơi lục phủ ngũ tạng, nhưng chủ của nó là Chơn Thần đó vậy.

Khi Chơn Thần kềm thúc không nỗi, thì lục dục thất tình dấy động, làm cho Chơn khí tiết ra một chất ô trược, khiến cho Chơn Thần không đến đặng, mà chế ngự được nữa.

Lấy ví dụ là một kẻ có manh tâm làm điều gian ác, khi họ khởi thi hành công việc ấy, họ được nghe một tiếng nói vô hình mà người ta thường gọi là lương tâm cắn rứt. Tiếng nói ấy là của Chơn Thần đó vậy.

Song kẻ ấy cố tâm làm công làm công việc đã suy tính, và từ đó, không còn được nghe tiếng nói của Thiêng Liêng kia nữa. Lúc đó là Chơn Thần không còn đến được, bởi Chơn khí ô trược ngăn cản.

Còn luận về tội-lỗi, thì Chơn Thần phải luôn luôn theo thể xác, bỡi cớ khi thể xác chuyển kiếp đến đâu, Chơn Thần phải theo đến đó.

Chơn khí tiết ra bỡi bảy dây oan nghiệt, mà người ta gọi là thất phách. Phách cực âm là nơi xương cụt, phách cực dương là nơi Nê hườn cung, còn phách trung ương là thận.

 

26. Ai được hưởng phép xác, cắt 7 dây oan nghiệt?

“Người Tín-hữu Cao-Đài nào giữ được 10 ngày chay trong mỗi tháng đổ lên được thọ truyền bửu pháp tức là hưởng được phép xác, cắt hết bảy dây oan-nghiệt. Linh hồn không còn bị ràng buộc với thi hài bởi bảy dây oan nghiệt nữa nên được xuất ra nhẹ nhàng về cõi Thiêng liêng hằng sống.”

 

27. Vị trí để cắt 7 dây oan nghiệt?

Bảy dây từ khí hay thất phách ở vào bảy nơi trên thân thể:

1. Trên đầu Mỏ ác hay nê huờn cung
2. Ngay trán Thượng đình, giữa hai chân mày
3. Dưới xương khu Xương cụt
4. Ngay tim
5. Ngay hông trái Thận
6. Dưới dạ dưới Hạ đình, rún, hạ đơn điền
7. Ngay cổ Trung đình, đầu cuống họng và cuống phổi

Khi người hành pháp đoạn căn, phải định Thần thấy được xác mới cắt đúng vị trí mà bảy lằn khí còn vướng với xác thân. Nghĩa là đi từ phải qua trái giáp vòng quan tài về vị trí giữa như bạn đứng ban đầu.

Đức Hộ Pháp cho biết bảy vị trí Phách ấy trên châu thân con người là biểu tượng của chùm sao Đại-Hùng-Tinh tức là sao bánh lái hướng Bắc Đẩu. Đó là Trời và người đều giống nhau.

Chúng sanh may duyên gặp thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn và Phật Mẫu khai nền Đại Đạo hầu mở cơ tận độ, nên giao cho “Bí tích hành phép Đoạn căn” để giải thoát Chơn thần ra khỏi những sợi dây oan nghiệt đó.

 

28. Chơn linh là ánh sáng hay luồng điện?

Chơn Linh là Tiểu hồn, là Tiểu linh quang do nơi Đại hồn, Đại linh quang của Thái-Cực chiết ra. Vì đó, sự sáng suốt của Đệ Tam xác thân là sự sáng suốt của Chí Tôn.

Nguyên hình của Đệ Tam xác thân là một luồng điện cấu-tạo do tế bào mà điển tử chỉ một âm và một dương. Luồng điện ấy vẫn hằng ở nơi Tam Thập Lục Thiên, và đến hiệp với Chơn Thần đặng giúp cho Đệ Nhị xác thân vi chủ lấy Đệ Nhứt xác thân của nó. Nói rõ hơn nữa là Linh hồn điều khiển Giác hồn, đặng chế ngự Sanh hồn đó vậy.

Khi Đệ Nhứt xác thân tinh khiết, Đệ Nhị xác thân an tịnh, thì Đệ Tam xác thân mới đến được Nê hườn cung mà khai huyền quang khiếu, thường gọi là đắc Đạo tại thế. Mỗi khi tham thiền nhập định được rõ thấu lý mầu, ấy là lúc Đệ Tam xác thân đã đến.

Vì lẽ đó mà các nguyên nhân từ ngày xuống thế, bị Đệ Nhứt xác thân lôi cuốn, Đệ Nhị xác thân phải chuyển kiếp, làm cho Đệ Tam xác thân bận theo giáo hóa mà ngôi vị phải để trống.

Mỗi khi lập đủ công, tạo đủ đức rồi thì Đệ Tam xác thân sẽ tùy theo công nghiệp mà thăng vị. Khi được trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, cả Chơn Linh và Chơn Thần được hiệp một mà ngự trên đài sen. Lúc ấy gọi là hiệp nhứt qui bổn hay là đắc vị đó vậy.

 

29. Những linh hồn bị ngũ lôi tru diệt thì thế nào?

Còn như bị ngũ lôi tru diệt thì luồng điện của Chơn Linh bị đánh tản, không hiệp được với Chơn Thần nữa. Chơn thần người đó bị đánh tiêu tan, làm cho Chơn linh không còn nơi nương tựa.

Chơn linh phải chịu vất vơ như thế một thời gian rất dài, chờ đến khi nào Đức Chí Tôn mở ra một cuộc Đại Ân Xá thì điểm chơn linh ấy mới được Đức Phật Mẫu tái tạo cho một chơn thần để đầu kiếp xuống trần mà lập công trả quả và tiến hóa.

 

30. Phạm lỗi gì mới bị ngũ lôi tru diệt?

Một người muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài, phải lập Minh thệ trước Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn và các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Lập Minh thệ là cách để tỏ bày lòng chơn thành giác ngộ, mong muốn tu hành của mình.

Ở đây, có một điều rất quí báu là Lời Minh thệ do Đức Chí Tôn đặt ra, chớ không phải do Hội Thánh hay một Đấng nào khác đặt ra, cho nên Lời Minh thệ nầy có hiệu quả thiêng liêng rất quan trọng.

Đức Chí Tôn đặt ra Lời Minh Thệ cho các tín đồ gồm 36 chữ như sau: (in rõ trong TNHT)

Tên gì? . . . . . . . . . Họ gì? . . . . . . . .

"Thề rằng: Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
đổi dạ đổi lòng hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ
13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
Cao Ðài, như sau lòng hai thì Thiên tru Ðịa lục"
25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36

Hình phạt Thiên tru Địa lục: Trời giết chết, Đất giết chết giống như hình phạt Ngũ Lôi tru diệt, đây là hình phạt rất nặng nề dành cho những người nào phạm Thiên điều một cách rất nặng nề hay phạm thệ.

 

31. Còn hình phạt tận đọa tam bồ bất năng thoát tục?

Thoảng như, bị tận đọa tam đồ bất năng thoát tục, thì Chơn Linh phải bị ngăn cản, không hiệp được với Chơn Thần, làm cho Đệ Nhị xác thân phải trở lại chuyển kiếp từ bực kim thạch cho đến làm người, và phải chuyển trở lại đủ ba vòng mới được khởi lập công lại.

Hình phạt "Ngũ Lôi tru diệt" nặng hơn hình phạt "Tận đọa tam đồ bất năng thoát tục", bởi vì hình phạt sau không bị giết chết, nên vẫn còn giữ được Chơn thần mà chịu hình phạt, khi xong thì tiếp tục tiến hóa.

Trong khi bị đọa tam đồ, nếu gặp thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn thì được tha thứ và cho đi đầu kiếp trả quả.

 

32. Trong tôn giáo, sao đưa ra hình phạt nặng như thế?

Việc Lập Minh thệ rất quan trọng, bởi vì khi đã được Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật nhìn nhận là môn đệ của Đức Chí Tôn thì mới hưởng được những đặc ân trong kỳ Đại Ân Xá nầy.

Điều thứ nhứt: Biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế.

Là trọn nhìn một Đạo Cao Đài của Chí Tôn, ngoài ra không đặng xu hướng theo ngoại giáo, tà quyền, lập nên phe đảng, chia rẽ tâm lý, gây nên sự rắc rối chia ly làm mất đức tin trong cửa Đạo.

Điều thứ nhì: Hiệp đồng chư môn đệ gìn luật lệ Cao Đài.

Tín đồ nhập môn rồi phải tuân hành luật pháp chơn truyền của Đại Đạo là: Tân Luật, Đạo Luật, Pháp Chánh Truyền và thi hành các qui điều giáo huấn của Hội Thánh để làm tròn phận sự mình. Ấy là phương hiệp đồng nhứt trí của toàn đạo, tín đồ, Chức việc, Chức sắc Hội Thánh để nhặt gìn Luật lệ Cao Đài của Đấng Chí Tôn.

Điều thứ ba: Như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.

Ăn ở hai lòng, bất trung bất chánh, dối Thầy phản bạn, và làm những việc trái với luật lệ của Đại Đạo cùng hành động vô nhân vô nghĩa, mất sự thương yêu, mất điều tín nhiệm, gieo rắc những điều ngờ vực, hiềm khích giữa tình đồng đạo và manh tâm bội nghịch cùng Hội Thánh, sẽ chịu luật công bình của Trời Đất tru diệt (giết phạt).

Minh thệ đối với luật vô vi tức là Thiên điều của Chí Tôn và các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần cầm quyền trị thế, là một ân huệ được chọn làm môn đệ của Đấng Chí Tôn. Khi giữ tròn lời Minh thệ sẽ được các Đấng hộ trì ban ân lành, đạo tâm sáng suốt, trọn vẹn đức tin, đến ngày thành công đắc đạo, được ghi tên vào Tiên tịch (Bộ Tiên), vậy, toàn đạo nam nữ nên trân trọng gìn theo lời Minh thệ.

Về phần thiêng liêng: Người có lập Minh thệ thì các Đấng thiêng liêng mới nhìn nhận là môn đệ của Đức Chí Tôn, tức là tín đồ của Đại Đạo, khi được làm môn đệ của Đức Chí Tôn thì mới hưởng được hưởng những hồng ân của Đức Chí Tôn ban cho như sau:

• Tín đồ được Chức sắc hành Pháp Giải Oan . Giải oan là cởi bỏ tất cả oán thù đã gây ra trong nhiều kiếp trước, tức là cởi bỏ những oan nghiệt tiền khiên..

Dầu trọn kiếp sống không nên đạo,
Dầu oan gia tội báo buộc ràng.
Chí Tôn xá tội Giải Oan,
Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ vong.
(KCHKHH)

Phép Giải Oan độ hồn khỏi tội.
(KHH)

• Môn đệ nào giữ tròn luật đạo và ăn chay được 10 ngày trong một tháng thì vào hàng Đạo hữu, đối phẩm Địa Thần trong Cửu phẩm Thần Tiên.

• Môn đệ nào giữ tròn luật đạo và ăn chay 10 ngày mỗi tháng thì khi qui liễu mới được làm Phép Xác, Phép Đoạn Căn, làm Tuần Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường, để đưa chơn hồn đi lên qua 12 từng Trời, bái kiến các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, bái kiến Đức Phật Mẫu và Đức Chí Tôn, sau đó mới được Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung định phận.

Đức Chí Tôn chưa hề bắt buộc người nào theo Đạo cả. Ngài chỉ vạch ra cho nhơn sanh thấy con đường nào chánh, con đường nào tà, con đường nào chơn thật đưa đến giải thoát khỏi luân hồi, con đường nào quanh co đưa đến tội tình sa đọa. Nhơn sanh hiểu biết rõ như thế để giác ngộ, và tự nhơn sanh lựa chọn con đường đi.

TNHT: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống của nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để chúng nó theo Tà quái.

TNHT: Đạo là quí, của quí chẳng bán nài, các con đừng thối chí.

Đức Chí Tôn không bắt buộc ai theo Đạo, nhưng khi đã theo Đạo thì buộc phải theo trọn đời bằng việc lập Minh thệ, để tiến mãi trên con đường Đạo. Tại sao khi ở ngoài vòng thì không buộc, mà khi đã vào cửa Đạo rồi thì lại buộc?

Bởi vì thời kỳ nầy là mạt kiếp của Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển lập đời Thánh đức, nhơn loại phải trải qua một cuộc Đại Phán Xét cuối cùng, để chấm dứt một chu kỳ tiến hóa cũ, bắt đầu một chu trình tiến hóa mới.

Do đó, Đức Chí Tôn đại khai ân xá cho các đẳng chơn hồn, nếu ngộ kiếp một đời tu đủ trở về ngôi vị cũ. Bởi vậy Đức Chí Tôn buộc Minh thệ là thể lòng thương yêu vô lượng của Đấng Cha Lành, buộc con cái phải gấp rút tu hành để kịp trở về cùng Ngài.

Địa cầu nầy phải chịu một lần đổi thay nữa. Số nhơn loại sống sót là những người đủ đức tin, đủ bác ái công bình, để các Đấng lập đời Thánh đức, tạo lập một xã hội Đại đồng.

Đương nhiên luật công bình thiêng liêng mở ra có thưởng ắt có phạt. Nếu thực thi đúng theo lời Minh thệ thì chắc chắn sẽ được thiêng liêng ân thưởng như đã trình bày bên trên, còn nếu không giữ đúng lời Minh thệ hay làm ngược lại lời Minh thệ thì ắt bị phạt nặng.

 

33. Người tín đồ thất thệ thì sao?

Thất thệ là mất lời thề, tức là không giữ được lời thề, không thực thi đúng lời thề, vi phạm lời thề.

Thất Nương Diêu Trì Cung giảng giải về cõi Âm Quang cho biết như sau:

"- Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tránh khỏi Âm Quang. Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng tránh xa cõi Âm Quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.

Ôi ! Tuy vân, hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng tin cậy nơi Thầy. Đó là mấy Đạo hữu, Tín đồ bị thất thệ. ..” (TNHT)

 

34. Lương tâm là chơn linh hay là chơn thần?

Theo lời dạy của Đức Cao Thượng Phẩm trong LUẬT TAM THỂ:

- Chơn Linh đâu có lương tâm, chỉ Chơn Thần mới có.
- Vậy Chơn Linh lấy gì mà chế ngự thể xác? Chơn Linh chế ngự đặng gìn giữ Chơn Thần, do đó, mới có các đấng ám trợ.

"Chơn Thần tinh khiết mới độ rỗi được xác thân và mới hiệp Chơn Linh đặng".

 

35. Bát hồn là gì?

Trong Càn Khôn vũ-trụ, có tám đẳng Chơn hồn là:

. Kim thạch hồn
. Thảo mộc hồn
. Thú cầm hồn
. Nhơn hồn
. Thần hồn
. Thánh hồn
. Tiên hồn
. Phật hồn.

Từ lúc hổn độn sơ khai, sau tiếng nổ (Big bang), âm dương phân tách: khí Dương quang là khí nhẹ nhàng bay lên trên; còn khí âm là khí chất chứa các tế bào lóng xuống dưới. Sau một chuyển thì các khí chất trên liên đới với tế bào mà tựu lại thành chất khí và biến thành vạn vật.

Khi chưa thành hình thể hữu vi thì chất khí vẫn là một cục lửa do khí Dương quang đốt cháy, sau đó, nơi Diêu Trì Cung thâu Thập Nhị Địa Chi mà biến khí Dương quang và chất khí làm ngũ hành.

- Đất, nước, sắt, đá và lửa được nảy sanh trước hết. Đó là Kim thạch hồn.

- Sau một chuyển nữa, nước, đất, đá, lửa và sắt mới tiết ra một chất khí, và liên đới với các tế bào lại mà tạo nên cây cỏ. Đó là Thảo mộc hồn.

- Sau một chuyển nữa, các cây cỏ chia tế bào mà liên đới với ngũ hành tạo nên bách thú. Đó là Thú cầm hồn.

Trong thú-cầm, Chơn hồn đã bước vào cơ tấn hóa, do đó, tạo nên thủy tổ loài người là la hầu tức là người khỉ đó. Những tế bào tạo nên loài thú là do những hột nguyên-tử, một điển tử dương và 36 hột điển tử âm.

- La-hầu lần lần sanh hóa, và nhờ điểm Linh quang của Chí Tôn mà lần đến loài người như hiện giờ. Đó là Nhơn hồn.

- Nhơn hồn tiến lên Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, và Phật hồn.

 

36. Phân biệt Đại Linh Quang và Tiểu Linh Quang; Đại Hồn và Tiểu Hồn?

The Macro-Divine light – the Universal Soul, Oversoul.

The Micro-Divine light – the individual soul

Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Linh: thiêng liêng. Quang: ánh sáng. Hồn: linh hồn

Đại Hồn là Thái Cực, Đại Linh quang của Thượng Đế, là trung tâm ban phát sự sống và sự sáng tạo của toàn thể Càn Khôn Vũ Trụ.

Tiểu Hồn là Tiểu Linh quang, hay là điểm Linh quang được Đấng Thượng Đế chiết ra từ Đại Linh quang của Ngài để ban cho mỗi người làm linh hồn, chủ nhơn ông của thể xác.

Thượng Đế là Đại hồn, cũng gọi là Thiên hồn; con người là Tiểu hồn. Như vậy, con người chính là một Tiểu Thượng Đế, hay nói nôm na là một "Ông Trời Con".

Thượng Đế cho các Tiểu hồn đầu kiếp xuống cõi trần, vì thể theo Luật Tiến hóa của Càn khôn, để Tiểu hồn học hỏi và tiến hóa, dần dần lên các phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật, và cuối cùng sẽ tiến hoá lên hiệp nhứt vào Thượng Đế, tức là Tiểu hồn đi giáp một chu kỳ tiến hóa, và sau cùng thì trở về nguồn cội ban đầu.

 

37. Chơn Thần là gì?

Chơn Thần (the perisprit) là xác thân Thiêng Liêng của mỗi người, do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí nơi Diêu Trì Cung để tạo thành:

"- Nơi Ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang. Ðài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn Thần cho Vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho. Ðức Phật Mẫu thâu điểm Linh quang nầy làm linh hồn, rồi dùng Âm quang phối hợp Dương quang để tạo Chơn Thần (tức là xác thân thiêng liêng) bao bọc điểm Linh quang ấy, tạo thành một con người nơi cõi thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thượng đế".

“- Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một Thiêng Liêng gọi là Spirituel. Mà cái Thiêng Liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng, mà cũng có thể không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh Khí Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc Đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà Hằng sống đặng. Còn có Thần mà không có Tinh Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân.

Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng, nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang, cái Chơn Thần ấy buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ nhàng hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. (TNHT)

Cửa xuất nhập của Chơn Thần đối với thể xác là Nê Hoàn Cung, tức là nơi mỏ ác, các Ðấng Thiêng liêng chỉ cần nhìn màu sắc của Chơn Thần thì biết tâm ý của người đó như thế nào.

Chơn Thần ẩn trong xác phàm và có hình ảnh giống hệt xác thân phàm, chơn thần làm trung gian giữa Chơn linh và xác phàm.

 

38. Vai trò của Chơn Linh và Chơn Thần?

Phàm con người có ba món báu:

. Tinh là xác thân của cha mẹ sanh ra.
. Khí là hơi (chơn khí), liên quan với xác thân (corps astral ), sự sống là nuôi nấng lấy hình hài chúng ta bằng sanh quang do nơi Phật Mẫu tạo mà có.
. Thần là linh hồn ta là của Chí Tôn ban cho.

Mà có ba thành một, một thành ba gọi là Tam Bửu : Tinh, Khí, Thần.

Ðệ nhị xác thân ta khi còn sống ở quanh mình ta, bảo hộ về sanh quang tiếp với đệ tam xác thân là linh hồn. Khi lìa khỏi xác thúi hôi hữu hoại thì nó trực tiếp ngay với linh hồn nếu nó được thanh khiết; bằng nó nghiệt ác thì nó phải dính líu với cái xác thúi hôi nầy mà phải chịu lìa xa cái linh hồn mà phải đọa.

Bởi cớ Chí Tôn ban cho ta cái Bí Pháp (phép xác) cắt đứt dây oan nghiệt cho nó rời hẳn với đệ nhứt xác thân được khinh phù nhập một với linh hồn tức là hằng sống vậy.

Chơn linh mới thiệt là ta còn chơn thần là do tinh ba của vật khí biến hình. Chơn linh ta mượn cơ quan hữu hình để thân mật cùng cả tạo đoan vũ trụ.

Ba cơ quan tạo nên hình thể con người. Chơn linh ta do nguyên khí mà có, nguyên khí là Tiên Thiên Khí. Chơn Thần do Hậu Thiên Khí kết thành, còn xác thịt thì do vật chất mà nên. Hỏi vậy ta muốn sống đây do cơ quan nào?

Ấy là nhờ chơn linh mới có sự sống, chơn linh có một quyền năng vô đoán, chưa có khoa học nào tra cứu rõ thấu được. Cái quyền năng của nó là do Ðức Chí Tôn ban cho. Quyền năng của chơn linh không giới hạn, nó là quyền năng bảo trọng đường sống của vạn loại, của xác hình. Chơn thần là Hậu Thiên Khí, nó bảo trọng vật chất khí.

Trong ba khí chất ấy tạo ra hình hài chúng ta, chơn linh là nhứt điểm linh quang do Chí Tôn mà có để bảo trọng cái sinh mạng, cái sống của thi hài.

Ðến ngày giờ nào niên kỷ đã định hết khối sanh quang rồi thì cái quyền năng ấy ra khỏi xác thì xác phải hoại, chúng ta gọi là tử. Chơn thần chúng ta, thiên hạ kêu là phách, vía cả thảy đều có. (Thuyết Đạo 15. 2. Ðinh Hợi - 1947)

 

39. Cấu tạo của Chơn Thần?

Khi Đức Phật Mẫu muốn tạo hóa một nguyên nhân nơi cõi thiêng liêng, Đức Phật Mẫu thu nhận một điểm linh quang của Đức Chí Tôn ở ngôi Thái Cực để làm linh hồn, rồi Đức Phật Mẫu dùng hai nguyên khí Âm Dương nơi Diêu Trì Cung tạo ra chơn thần bao bọc linh hồn ấy.

Như vậy là Đức Phật Mẫu đã tạo hóa ra một nguyên nhân nơi cõi Lưỡng Nghi. Nguyên nhân nầy muốn xuống ở cõi Tứ Tượng thì phải dùng tinh khí của cõi Tứ Tượng bao bọc một lớp bên ngoài chơn thần thì nguyên nhân mới có thể ở cõi Tứ Tượng được. Tương tự, đễ xuống tới cõi hạ giới này, Chơn thần phải khoác thêm 6 lớp nữa vì phải xuống 7 cõi.

“- Chơn Thần tạo hình bằng nguơn khí của bảy từng thiên, bảy từng có liên quan lạ lùng với thất tình".

Thánh ngôn dạy ngày 22.7.1926 (âl 13.6.Bính Dần):

".. . Các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài, ấy là Ðạo. Bởi vậy, một Chơn Thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới, nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.”

 

40. Thờ Chơn Thần của Chí Linh là sao?

Đức Hộ-Pháp giảng: “- Từ khi các Tôn giáo bị bế: Âm thạnh Dương suy, nên Thần chẳng hiệp cùng Tinh Khí được, vì vậy nên người tu hữu công mà không đắc quả.

Nay Đức Chí Tôn khai ĐẠI-ĐẠO đem chơn Thần huờn nguyên cùng Tinh Khí là cơ mầu-nhiệm cho chúng sanh đắc Đạo. Ai biết noi theo chơn truyền luật pháp giữ trai kỳ 10 ngày trở lên đến ngày công viên quả mãn đặng thọ truyền bửu pháp, Chơn Thần siêu thăng.

Trong buổi Hạ-nguơn chuyển thế Đức Chí Tôn khai Đạo dạy thờ Thiên-Nhãn là thờ Chơn thần của Chí linh cho hiệp cùng Vạn-linh, tức là thờ ngôi Thái Cực, là thờ Thầy vậy”

 

41. Các Chơn Thần ô trược phải ở âm phủ bao lâu?

Chơn Thần là trung gian cho Chơn linh và Xác thân, nếu xác thân còn ăn mặn (thực nhục) thì nhiều Âm điển sẽ nặng trì, khi xác thân chết thì Chơn Thần bị lôi kéo theo lằn Âm điển ấy mà không theo với Chơn linh được. Sự ô trược của Chơn Thần là vậy.

Thế nên khi thoát xác thì Chơn thần phải qua cái ải khổ sở là Âm quang, cũng là nơi ngày xưa đặt tên Địa ngục. Bát Nương Diêu Trì Cung giải thích về Âm quang như sau:

“- Lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa.

Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí (một cõi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).

Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các Chơn hồn, nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm.

Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.

Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho Chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng.

Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng. Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các Chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ.” [Thánh ngôn 21.2 Bính Tuất (dl 24.3.1946)]

 

42. Sao gọi là tam hồn thất phách?

A: Three souls - Seven envelopes of the divine body

Tam: Ba, số 3, thứ ba. Hồn: điểm linh quang do Đức Chí Tôn ban cho.

Thất: 7. Phách: có nhiều nghĩa, ở đây Phách có nghĩa là những lớp tinh chất bao bọc chơn thần để chơn thần thích ứng với môi trường chung quanh.

 

A. Tam hồn

Là ba điểm linh quang mà Đức Chí Tôn ban cho mỗi Hóa nhân, khi tiến hóa từ Thảo mộc lên Thú cầm và thành Nhơn loại. Tam hồn gồm: Sanh hồn, Giác hồn, Linh hồn.

Quan trọng nhất là linh hồn, vì nhờ có linh hồn mà con người đứng trên loài thú cầm, có tánh linh hơn vạn vật, và cũng chính nhờ điểm linh hồn nầy mà con người có thể tu hành đắc đạo thành Tiên, Phật.

Sau đây là bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói về sự tiến hóa của con người (trong Đại Thừa Chơn Giáo):

"- Người là gốc của muôn vật, muôn vật là ngọn của loài người, mà Trời Đất là gốc của loài người, người là ngọn của Trời Đất. Luật Tấn hóa của thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, nó từ từ tăng tiến mãi, nhưng cũng có thối hóa vậy.

Các con nghe: Như loài thảo mộc cũng có thọ nơi Thầy một điểm nguyên hồn. Nó cũng sống, nhưng trí hóa khờ ngây. Các con coi đó, từ thảo mộc bắt đầu lên cho chí loài người, có 3 cái phép:

. Như thảo mộc thì cái gốc trở xuống, ngọn day lên. (gốc là đầu, ngọn là chơn).
. Rồi nó tấn hóa đến bực thú cầm, thì cái đầu với cái đuôi ngang nhau.
. Thú cầm qua nhơn loại thì cái đầu trở lên trên, cái chơn xuống dưới.

Vậy, từ thảo mộc có một phần hồn. Thảo mộc tấn hóa mãi, muôn vàn kiếp mới bước sang qua thú cầm thì từ thú cầm đã đặng hai phần hồn. Thú cầm mới dần dần tấn hóa mãi, trăm ngàn muôn kiếp, lên đặng làm người thiệt là trăm đắng ngàn cay, muôn thảm vạn sầu, biết bao nhiêu là công phu khổ hạnh, xả thân giúp đời một cách khó khăn cực nhọc, nhưng cũng vui lòng, mãn kiếp nọ sang kiếp kia, cứ lập công quả mãi. Vàn vàn muôn lần đầu thai mới qua đặng phẩm bực loài người.

Khi tấn hóa đến loài người thì đã đủ trọn Tam hồn Thất phách. Người muốn tấn hóa đến phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật thì phải tu tâm dưỡng tánh, tích đức thi ân.

Vậy con người có được ba điểm Nguyên hồn: Sanh hồn, Giác hồn, và Linh hồn, gọi chung là Tam hồn.

 

B. Thất phách

Chữ Phách trong Thất phách có nghĩa là những lớp tinh chất bao bọc chơn thần để cho chơn thần thích ứng được với môi trường chung quanh. Khi chơn thần đến một cõi giới nào, chơn thần phải lấy tinh chất của cõi giới đó làm một lớp bao bọc bên ngoài, để chơn thần ở được cõi giới đó và làm việc nơi cõi giới đó.

Theo vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, địa cầu của nhơn loại đang ở thuộc cõi Hạ giới, là cõi thấp nhất. Còn cõi cao nhất là cõi Thái Cực, ở tại trung tâm của Càn Khôn Vũ Trụ.

Từ cõi Hạ giới đến cõi Thái Cực, nếu xét về phương diện chất tinh khí cấu tạo mỗi cõi, thì có thể phân ra làm 7 cõi, có tên từ cao xuống thấp là:

7. Cõi Thái Cực Cõi Thượng Đế
6. Cõi Lưỡng Nghi Cõi Thượng Đế
5. Cõi Tứ Tượng Cõi Phật
4. Cõi Bồ Đề Cõi Phật
3. Cõi Thượng giới Cõi Tiên
2. Cõi Trung giới Cõi Thánh và Thần
1. Cõi Hạ giới Cõi nhơn loại

Bảy cõi nầy không phải là 7 từng Trời, mà là 7 khoảng không gian có chất tinh khí cấu tạo nặng nhẹ khác nhau. Cõi Hạ giới có nguyên tử tinh khí cấu tạo nặng nhất; cõi Thái Cực có nguyên tử tinh khí cấu tạo nhẹ nhất.

Con người nơi cõi thiêng liêng có hai thể: linh hồn và chơn thần. Linh hồn là điểm Linh quang do Đức Chí Tôn ban cho, chơn thần do Đức Phật Mẫu dùng nguơn khí nơi Diêu Trì Cung tạo ra, để làm xác thân thiêng liêng cho linh hồn.

Linh hồn và xác thân thiêng liêng (chơn thần) muốn đến ở cõi nào thì phải lấy chất tinh khí của cõi đó làm thành một lớp bao bọc bên ngoài chơn thần, để chơn thần thích hợp với sự nhẹ nhàng hay nặng nề của cõi đó thì mới ở cõi đó được.

 

43. Bảy thể của Linh Hồn?

Đức Chí Tôn dạy về Bảy thể của linh hồn: (theo trong Đại Thừa Chơn Giáo)

“- Đây Thầy giải qua Bảy thể của linh hồn cho các con rõ: Trước hết, linh hồn muốn nhập vào thế giới hữu hình nầy, tất phải mượn 7 cái thể chất của 7 cõi trên kia mới đặng. Bảy cái thể là:

Aura and human body
. Tiên thể
. Kim thân
. Thượng trí
. Hạ trí
. Viá
. Phách
. Xác

Các con nếu không có 7 thể ấy thì không bao giờ nhập vào thế giới hữu hình đây đặng. Vì ở trên hết là Thượng tằng không khí, khí ấy nhẹ nhàng trong sạch hơn trăm ngàn lần cái không khí ở trần gian nầy.

Vậy nên, nếu điểm linh hồn của các con ở đặng cõi Hư Vô là nhờ nó đã thanh nhẹ hơn thượng tằng không khí kia nữa, mà nếu nó đã nhẹ hơn thượng tằng không khí thì tự nhiên khi muốn giáng trần, nó phải mượn 7 thể của 7 cõi mà bao bọc bên ngoài cho thêm nặng nề thì mới trì kéo nó giáng xuống được.

Như linh hồn ở cõi Thái Cực, muốn xuống cõi Lưỡng Nghi thì phải lấy tinh khí cõi đó mà bao bọc bên ngoài đặng làm một cái Kim thân cho hạp với khí chất cõi ấy.

Chừng ở cõi Lưỡng Nghi mà muốn xuống cõi Tứ Tượng thì cũng phải dùng tinh khí cõi Tứ Tượng mà bao bọc ra ngoài cái vóc Kim thân một lớp nữa đặng làm cái Thượng trí.

Lúc ở cõi Tứ Tượng mà muốn xuống cõi Bồ Đề thì cũng phải dùng tinh khí cõi Bồ Đề mà bao bọc ra ngoài cái vóc Thượng trí một lớp nữa đặng làm cái Hạ trí.

Cứ xuống cõi nào là phải mượn tinh khí cõi đó mà bao bọc thêm ra ngoài, nên phải mượn đủ 7 thể chất mới xuống hết 7 cõi đặng vào ở trong không khí trần gian (các khí chất lần lần càng xuống thấp là càng ô trược nặng nề thêm nữa).

Người nào hữu căn hữu kiếp, biết tỉnh ngộ tầm ra nguồn cội của loài người, thì phải mượn cơ pháp bí truyền mà tu luyện đặng mở 7 thể ấy rớt ra thì linh hồn mới đặng trở về ngôi vị. Bảy thể ấy muốn mở ra cũng như cởi 7 lớp áo vậy.

 

44. Hồn làm sao lên đặng cõi Hư Linh?

Aura and human body

“- Ngày nào các con bỏ xác phàm nầy là ngày các con cổi bỏ bớt một cái áo của các con, rồi các con:

. Đến Thượng giới thì bỏ cái Vía.
. Đến Bồ Đề thì bỏ cái Hạ trí.
. Đến Tứ Tượng thì bỏ cái Thượng trí.
. Đến Lưỡng Nghi thì bỏ cái Kim thân.
. Đến Thái Cực thì linh hồn hiệp cùng Tạo Hóa."

Tóm tắt:

BẢY CÕI tương ứng BẢY THỂ
7. Cõi Thái Cực Tiên thể
6. Cõi Lưỡng Nghi Kim thân
5. Cõi Tứ Tượng Thượng trí
4. Cõi Bồ Đề Hạ trí
3. Cõi Thượng giới Vía
2. Cõi Trung giới Phách
1. Cõi Hạ giới
(cõi phàm trần, thế gian)
Xác phàm

 

45. Sao gọi là nhứt bổn tán vạn thù?

Đức Chí Tôn ban cho một điểm linh hồn, Đức Phật Mẫu dùng nguyên khí trong Kim Bồn nơi Diêu Trì Cung tạo hóa ra một chơn thần làm xác thân thiêng liêng bao bọc linh hồn.

6. Khi xuống tới cõi Lưỡng Nghi, chơn thần phải lấy tinh khí nơi cõi Lưỡng Nghi bao bọc bên ngoài, và được gọi là Kim thân.

5. Đi xuống tới cõi Tứ Tượng, chơn thần lấy tinh khí nơi cõi Tứ Tượng để bao bọc bên ngoài Kim thân một lớp, và được gọi là Thượng trí.

4. Tiếp tục đi xuống cõi Bồ Đề, chơn thần phải lấy tinh khí cõi Bồ Đề bao bọc bên ngoài cái Thượng trí để làm thành cái Hạ trí.

3. Tới cõi Thượng giới, chơn thần phải lấy tinh khí cõi Thượng giới để tạo cho mình một lớp áo bao bọc bên ngoài, gọi là cái Vía.

2. Tiếp tục đi xuống cõi Trung giới, chơn thần phải lấy tinh khí của cõi Trung giới làm thành cái Phách bao bọc bên ngoài cái Vía.

1. Nếu muốn nhập vào cõi phàm trần, tức là đầu thai hay đầu kiếp nơi cõi trần, phải tìm đến một bà mẹ phàm trần đang bắt đầu thọ thai, chờ đợi nơi đó cho đến khi đứa hài nhi vừa thoát ra khỏi lòng mẹ, Linh hồn và 6 thể của chơn thần liền nhập vào thể xác của hài nhi, làm thành một con người mới nơi cõi trần.

 

46. Thế nào là phản bổn hườn nguyên?

Ở cõi phàm trần, con người mang xác phàm rất nặng nề, nhưng nhờ có xác thân phàm nầy, con người mới làm được công quả, tạo được nhiều công đức, để đem về trình với Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

Ngoài ra, nhờ có xác thân phàm, con người mới có được TINH, có TINH mới luyện TINH hóa KHÍ, luyện KHÍ hiệp THẦN, luyện THẦN huờn HƯ mà đắc đạo thành Tiên, Phật.

2. Khi đã tới thời kỳ xác phàm không còn hữu dụng được nữa, linh hồn và chơn thần rời bỏ xác phàm, thoát ra khỏi cõi trần, bay lên cõi Trung giới.

3. Ở cõi Trung giới, lớp bao bọc bên ngoài của chơn thần là Phách, linh hồn muốn bay lên cõi Thượng giới thì chơn thần phải cổi bỏ cái Phách để lại cõi Trung giới thì mới bay lên được. Lúc đó cái Vía lộ ra ngoài, mà cái Vía trước đây được tạo bởi tinh khí của cõi Thượng giới, nên thích hợp với cõi Thượng giới và nó bay lên nhập vào cõi Thượng giới.

4. Tại cõi Thượng giới, nguyên nhân muốn bay lên cõi Bồ Đề thì chơn thần phải cổi bỏ cái Vía để lại cõi Thượng giới, cái Hạ trí lộ ra, đưa chơn thần đi lên cõi Bồ Đề.

5. Tại cõi Bồ Đề, chơn thần muốn lên cõi Tứ Tượng thì phải cổi cái Hạ trí để lại cõi Bồ Đề, cái Thượng trí lộ ra, đưa chơn thần lên cõi Tứ Tượng.

6. Tại cõi Tứ Tượng, chơn thần muốn lên cõi Lưỡng Nghi, thì phải cổi cái Thượng trí để lại cõi Tứ Tượng, Kim thân lộ ra, đưa chơn thần lên cõi Lưỡng Nghi.

7. Tại cõi Lưỡng Nghi, chơn thần muốn lên cõi Thái Cực thì phải cổi bỏ cái Kim thân để lại cõi Lưỡng Nghi, cái Tiên thể lộ ra, đưa chơn thần và linh hồn lên cõi Thái Cực.

 

47. Tiên Thiên Khí, Hậu Thiên Khí và Vật Chất Khí là gì?

Chúng ta sẽ thấy bất kỳ vật hữu hình nào cũng có ba thể chất: Vật chất thì mắt ta thấy; mùi vị là Hậu Thiên Khí; năng lực là Tiên Thiên Khí.

Ba khí chất nầy tạo ra hình hài của con người. Vật chất mùi vị, năng lực thế nào thì loài người thế ấy, vì chúng ta thấy một hột gạo, nấu ra cơm, ăn vào để lấy cái tinh ba của nó là Hậu Thiên Khí phục nguyên khối sanh quang của ta được tồn tại.

Tinh ba của vật chất nó vào mình làm cho xác hài có năng lực tráng kiện, ta thấy khi bủn rủn tay chơn là do thiếu sanh khí đó vậy.

Chơn Thần là hậu thiên khí, ta không thấy mà chớ nên tưởng rằng không có, ta ăn hột cơm vào bụng, lọc lấy cái tinh ba là huyết khí để nuôi lấy khối sanh vật nầy. Ta biết có mà không thấy được. Chơn thần chúng ta, thiên hạ kêu là phách, vía cả thảy đều có.

Chúng ta có một tôn giáo mà tôn giáo ấy là chúa tể các nền tôn giáo khác vì bởi nó là nguyên căn của tôn giáo và chính nó là một tôn giáo tự hữu, từ buổi Trời đất biến sanh đã có, cái khối nhơn linh ấy là Cha của chơn linh, Cha của nhứt điểm linh quang.

Làm sao chúng ta hiểu linh quang ấy ? Vì ta xét từ trước Ðức Chí Tôn dùng cái thanh khí ấy mà tạo ra loài người, với đất do thanh khí ấy mà biến thành vạn vật. Loài người đến nay nhờ tấn hóa mà khôn, cũng như vạn vật nhờ tấn hóa mà được toàn năng toàn tri vậy.

Các nhà triết học luận bàn đã nhiều nhưng xét ra cũng chưa hiểu rõ cái nguyên căn ấy. Phật Giáo nói : Cái khối linh ấy phân tánh của mình ban bố ra cả vạn vật, khối linh ấy trước khi phân tánh thì gọi là Brama là Phật, đến khi phân tánh rồi thì Ðấng thứ nhì Civa chủ về Pháp, Ðức Chí Linh cầm quyền năng biến chuyển chớ không cầm quyền năng tạo đoan.

 

48. Dâng tam bửu có ý nghĩa gì?

Ðức Chí Tôn đến, Ngài biểu chúng ta dâng cho Ngài ba món gọi là Tam Bửu : Tinh, Khí, Thần. Ngài thế nó là Bông, là Rượu là Trà.

 

A. Tinh (Bông)

Là Ngài biểu dâng hình thể của ta tức nhiên dâng xác thịt ta nghĩa là dâng cái sống của ta nơi mặt thế gian nầy đặng cho Ngài làm khí cụ đặng Ngài phụng sự cho con cái của ngài, nó thuộc về Tinh tức nhiên Bông đó vậy.

Phải dâng cho Ngài cái hình xác của chúng ta cho đẹp đẽ, cho trong sạch, cho thơm tho, cho quí hóa như Bông kia mới được, tưởng tượng Ngài muốn cho chúng ta trong sạch như vậy là vì Ngài mong con cái của Ngài biết thương yêu lẫn nhau rồi lại tự mình tu tâm dưỡng tánh thế nào cho đẹp đẽ mỹ miều như bông kia đặng xứng đáng làm Thánh Thể của Ngài, đặng phụng sự cho con cái của Ngài.

 

B. Khí (Rượu)

Ngài thế cái Chơn Thần của ta, tức nhiên thế cái trí thức khôn ngoan của ta về Chơn Thần, tượng ảnh trí thức khôn ngoan tức nhiên Ngài biểu cả trí não con cái của Ngài phải dâng trọn cho Ngài đặng làm khí cụ.

Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài có trí óc khôn ngoan đặng phụng sự cho nhơn loại thay thế cho Ðại Từ Phụ mà nói rằng : Chúng tôi không biết làm gì ngoài phận sự Thiêng Liêng của Ðức Chí Tôn giao phó.

Ngày giờ nào toàn thể con cái của Ngài biết nói như thế đó, thì ôi ! Hiến cho Ðức Chí Tôn một vật quí hóa không thể gì nói được.

 

C. Thần (Trà)

Ngài thế Trà là tâm hồn, tức nhiên Ngài biểu cả tâm hồn của ta hiệp lại làm một khối với nhau. Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài hiệp cả tâm hồn làm một, cái tâm hồn nầy sẽ làm tâm hồn của mặt địa cầu nầy, cho trái đất nầy, nó sẽ làm tâm hồn của toàn thể nhơn loại.

Ngày giờ nào cả toàn thể con cái của Ngài tương ảnh tâm hồn cho toàn thể nhơn loại được thì ngày giờ ấy có thể Thánh Thể của Ngài mới phụng sự cho vạn linh tức nhiên con cái của Ngài hạnh phúc được.

Chỉ ngày giờ ấy mới có thể nói rằng : Nhơn loại hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài mà hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài thì ngày ấy mới mong hưởng được hòa bình và đại đồng thế giới. (Thuyết Ðạo Q.V trang 17)

 

49. Tu là gì?

Chữ Tu tiếng Phạn gọi là Dyana, người Miên tức nhiên người Tần Nhơn, nói trại lại chút Xaxona.

Tiếng Pháp hay tiếng Âu Châu Se perfectionner nghĩa là Rendre parfait ou plus parfait có nghĩa là làm thế nào cho mình đặng tận thiện tận mỹ.

Tiếng Tu nó bao quát như thế, Thiên Kinh vạn điển tiếng của các tôn giáo đã để lại duy chỉ một chữ đấy mà thôi...

Khuôn luật thiên nhiên của Tạo Hóa buộc cho các đấng linh hồn dầu vật loại, phải trau mình thế nào đặng đoạt cho đến nhơn phẩm của mình, rồi khi đã đứng địa vị làm người, mình phải giồi mài, sửa cải thế nào đặng đi từ từ đặng đoạt cho đến Phật vị.

Chúng ta sanh nơi đây rồi chết, rồi tái sanh lại đặng mỗi kiếp sanh chúng ta tu. Tu đặng từ từ bước lên Thiêng Liêng vị của mình, tu nhơn phẩm đoạt đến địa vị tối cao tối trọng là Phật vị đó vậy. [Thuyết Đạo 14-5 Nhâm Thìn (6-6-1952)].

 

50. Thế nào là tu thân, tu trí, tu tâm?

 

A. Tu thân

Cái Tu từ khi mới thơ sinh lọt lòng mẹ đặng làm người, nó Tu về Nhơn Ðạo, tức là Tu thân. Tu thân là chi?

Là nó phải biết cái Tu thân ấy mới có phương thế lập công cùng xã hội nhơn quần. Nó lập công là làm thế nào cho toàn cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy đặng hạnh phúc, nếu như nó có phương thế làm nên cái công nghiệp vĩ đại ấy là Tu thân của nó đấy.

 

B. Tu trí

Từ khi loài người đã có mặt nơi thế gian nầy đều muốn thoát ly cái thú tánh của họ. Hễ thoát ly đặng cái thú tánh ấy tức nhiên họ sẽ định tâm sáng suốt thành ra một vị Thánh tại thế gian nầy.

Chúng ta đã thấy biết bao nhiêu vị Thánh sống xuất hiện trong loài người từ thử đến giờ, huyền bí vô biên của tạo đoan là do đó, nơi đó.

Ấy vậy, cái khuôn luật thiên nhiên kia bảo ta phải Tu trí , nếu chúng ta ngu xuẩn, mê muội thì bao giờ cũng phải chịu làm tôi đòi nô lệ trong kiếp sống của ta, chúng ta vẫn thấy một đứa con nít mà nó vẫn kiếm phương thế đặng hiểu mọi điều thiên hạ đã biết, nó không biết nó hỏi, vấn nạn cho biết, ấy cái luật thiên nhiên biểu nó Tu trí.

Tu trí đặng chi ? Ðặng đủ khôn ngoan, Tu hạnh đức hay hạnh kiểm của mình, rồi mới Tu ngôn ngữ của mình, Tu trí đặng lập ngôi tại thế gian nầy, tức nhiên Tu về khí đó vậy.

 

C. Tu tâm

Hễ khi nào chúng ta đầy đủ trí thức, tâm ta mới sáng suốt, khi tâm đã sáng suốt thì biết rằng: Cảnh tượng kiếm sống của chúng ta đây cả thảy đều là mộng ảo, dầu cho cái ý sống hay cái thân của ta đây cũng là mộng ảo, con vật thân thể đã thế nào thì thân thể ta cũng thế ấy. Con vật chết như thế nào thì chúng ta cũng chết tương tợ như thế đó, không khác.

Ðã biết kiếp sống chúng ta là mộng ảo thì chúng ta cần phải tìm gì mà chớ ? Tìm cái chi cho bền vững chắc chắn hơn, tức nhiên cái thiên lương của chúng ta, là căn bản là linh hồn của chúng ta.

Ta đã hiểu được cái Chơn Linh của chúng ta nó bất di bất dịch, nó tồn tại mãi mãi nơi cõi Hằng Sống, biết được cái sống ấy là Hằng Sống thì ta phải tô điểm nó, gìn giữ nó cho được trường tồn đẹp đẽ.

Tới giai đoạn Tu tâm, thì Tu tâm ấy nó buộc chúng ta phải xem xét quan sát cả hành tàng kiếp sống của các bậc Thánh Nhơn, Hiền Triết, lời nói và việc làm của các vị Phật hay các vị Tiên đã lưu lại tại thế nầy, chúng ta mới lấy nó làm căn bản, đặng kiếm một khuôn khổ, một phương pháp đặc biệt của mình để làm phương tu của mình.

Các bạn cả thảy đều biết sự Tu Tâm nó chẳng phải để một cái tình cảm đối với vạn vật hay nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy, mà nó còn dắt ta đi, đi mãi con đường đi của nó vô biên, vô tận, bởi nó lấy Càn Khôn Vũ Trụ làm phương tu của nó.

Nó lấy càn khôn vũ trụ làm nhà, làm căn bản của nó, cho nên trí của ta đối lại tâm ta, nó lại không vừa, vì danh của tâm nó còn cao vọng hơn nữa, nó còn vô tận vô biên hơn nữa. Nơi cảnh vô hình thế nào thì chữ tâm cũng thế ấy, không ai biết rõ.

Do chữ tâm mà Ðức Chí Tôn để cái tình yêu ái, cái Thương với cái Công Chánh, hai cái đó là hình trạng thay thế chữ tâm mới thiệt tướng của nó mà thôi.

Còn ngoài ra nữa nó liên hệ và liên quan với cả Phật tánh, Thiên tánh nữa kìa. Muốn đến con đường liên hệ với Thiên tánh, Phật tánh, nó có một cái cửa là cửa tịch mịch, cái cửa ấy ở thế gian nầy thiên hạ muốn lắm, mà phần nhiều đi chưa tới là cửa Hư Vô Tịch Diệt trong cảnh Thiêng Liêng đó vậy.

Nếu Tu Tâm mà thật hiện đặng là 'Ái truất thương sanh', hành vi của Thánh Thể của Ngài, phụng sự cho Vạn Linh là Tu Tâm đó.

Nhưng cái tâm mà diễn ra bao nhiêu đấy không phải đủ, nó còn nữa, còn vô ngàn vô tận, cả kiếp sanh nầy chúng ta không có cái năng lực để tạo nó.

Ta chỉ nhờ hồng phúc mới tạo nó đặng, nên ta cần nó lắm. Nếu chưa đặng chúng ta không thể nói rằng: Con đường của chúng ta thật hiện còn đi xa vời hơn nữa, bởi vì phụng sự vạn linh Ðức Chí Tôn đã để là cốt yếu Ngài nói rằng:

"- Nếu biết phụng sự vạn linh các con mới bước vô con đường Tu tâm của các con, mà nói các con chưa Tu tâm, bởi cả hình trạng vô biên các con chưa theo dõi, dầu cho các con đặng chữ Từ Bi, Bác Ái và Công Chánh thì cũng chưa đủ gì hết."

Tu tâm ấy mới gọi là Tu tâm, hễ có tâm mới có phương thế lập Ðức, Ðức Chí Tôn dạy chúng ta phụng sự vạn linh cốt yếu biểu chúng ta rán Tu tâm, Tu tâm chúng ta mới đối lại cái quyền năng tinh thần của tâm lý đặng lập Ðức là Tam Lập đó vậy, vì nó liên hệ với nhau như thế đấy. (Thuyết Ðạo Q.V trang 38)

 

51. Tu làm chi?

Chúng ta có hai cái sống :

1. Sống về vật chất, mà nói rõ ra sống về phương pháp thú chất.
2. Sống về tinh thần, tức nhiên sống về phương pháp hiển hách, anh linh của nó

Chúng ta thấy có hai cái quyền năng ấy, nó tương tranh với nhau mãi mà thôi. Vì cớ cho nên mới nảy sanh ra thuyết duy tâm và duy vật.

Ðại Từ Phụ là Cha cả vạn linh, chúng ta là con cái của Ngài, không phải chỉ hưởng phần hữu hình tại thế mà thôi. Ngài lại còn dành một phần quí trọng hơn là nhứt điểm linh quang, nhờ đó mà từ vật chất tiến đến thú cầm nhơn loại, mới tiến đến Phật vị mà ngang phẩm cùng Ngài.

Ðức Từ Phụ là Phật, Ngài muốn cho con cái của Ngài cũng thành Phật, đặng đạt quyền năng bí mật như Ngài, rồi lập ra một càn khôn thế giới khác. Luật thiên nhiên của một ông Cha tạo nghiệp, thì con theo nghiệp Cha mà tạo ra sự nghiệp khác nữa.

 

52 .Lẽ sống của chúng ta nơi cõi trần là gì?

Mỗi người chúng ta có một cái thắc mắc, từ thử đến giờ con người bao giờ cũng tìm hiểu. Chúng ta thấy ta có nơi cõi trần nầy không phải chúng ta muốn, có nhiều lý do làm cho chúng ta phải tìm hiểu là cái định mệnh của chúng ta.

Chúng ta không có làm chủ, dầu cho bực trí thức cao siêu thế nào chưa chắc mình làm chủ định mệnh của mình đặng. Chúng ta tự hỏi tại sao chúng ta phải sống? Sống nơi cõi trần để làm gì? Có hai lẽ:

. Hoặc ta đến cõi thế gian nầy để trả nợ. Ta đến đây trả nợ sống đặng đạt hạnh phúc nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, cái lý do đầu tiên hết. Hễ chiếu theo lý do ấy, chúng ta ở trong thế gian nầy do tại quả kiếp.

. Lý do thứ nhì nữa là chúng ta đến đây đặng chia khổ cùng các bạn chúng ta đã chịu khổ nơi cõi thế gian nầy, chúng ta đến đặng tìm bạn. Ấy vậy, chúng ta phải trả, đến đặng trả, tức nhiên ta đến đặng phụng sự cho vạn linh...

Nếu các bạn thấy mình đặng mạnh mẽ hơn người em, người bạn của mình, tức nhiên Ðức Chí Tôn định cho cái mạnh của ta, để đặng gánh vác sự nặng nề cho em cho bạn.

Nếu chúng ta thấy trong đầu óc của chúng ta có khôn hơn em ta, cái khôn của chúng ta ấy là Ðức Chí Tôn ban cho để binh vực sự dại dột của nó, nếu chúng ta thấy chúng ta sống trong vinh hiển thì chúng ta nói rằng Ðức Chí Tôn ban cho sự vinh hiển không phải để dành riêng cho ta hưởng, mà ta có phận sự đem cái sang trọng vinh hiển ấy chia cho cả toàn thể em, bạn của ta ; lẽ sống của chúng ta là lẽ sống của toàn thể , lẽ sống của chúng ta là để lau giọt nước mắt cho kẻ khổ não, lẽ sống của chúng ta là nắm cho chắt Bình Cam Lồ Thủy của Ngài chan rưới cho đồng đều đặng hưởng.. .

Toàn thể con cái của Ngài xin mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều để tâm thực hiện cho được 'Thùy từ mẫn khổ' là điều mong mỏi của ông Cha vô hình chúng ta, đem tất cả sự yêu ái vô tận vô biên và đại tạo đại từ bi của Ngài mà rưới chan nơi thế gian nầy.

Giờ phút nào trong tay của chúng ta phân phát cho đồng đều đó là lẽ sống của chúng ta hoàn toàn đó vậy. Nếu chúng ta không biết phân phát để hao bớt đi thì cũng uổng một kiếp sanh vô lối . (Thuyết Ðạo Q.IV trang 46)

Cái sống của chúng ta không khác cái sống của bạn đồng sanh với chúng ta. Bần Ðạo nói, bạn đồng sanh của chúng ta không phải là nhơn loại mà thôi mà cả vạn vật hết, bởi chúng ta thấy hiển nhiên trước mắt nơi cõi trần nầy, chúng ta đã sống chung cùng họ và họ đã giúp cho ta sống.

Từ thử đến giờ các nhà triết học, các đạo giáo tìm lý thuyết đạo đức tinh thần dầu cho Nho, Thích, Ðạo hay là các Tôn Giáo khác chỉ có tìm mực thước bày ra phương pháp để tạo cho nhơn loại biết kính trọng cái sống cho nhau tại mặt địa cầu nầy, làm một cái định luật đặng họ biết cung kính, biết nhường nhịn, tức nhiên có hòa bình an tịnh, được an ủi, được thỏa mãn, được hạnh phúc.

Còn trái lại nếu như cái sống của chúng ta đã khó khăn bởi chúng ta sống trong thuyết Tứ Diệu Ðế của nhà Phật là SANH, LÃO, BỊNH , Tử, chúng ta đã thấy trường đời chẳng buổi nào tìm đặng chơn hạnh phúc. ..

Muốn cho đặng có tâm đức ấy ít ra phải có đạo đức và lấy tinh thần làm căn bản, nếu bỏ tinh thần làm căn bản là xu hướng về duy vật, chỉ chạy theo thuyết tranh sống với nhau mà thôi, tranh sống thì cơ tận diệt lẫn nhau vẫn tiếp tục mãi mãi, chẳng hề buổi nào nhơn loại trên địa cầu nầy trọn hưởng hạnh phúc hòa bình đặng.

Ấy nhượng sống cho nhau thì tồn tại, mà tranh sống với nhau là tự diệt đó vậy. (Thuyết Ðạo Q.IV trang 49)

 

53. Thể chất và tánh đức các hạng khách trần?

Chúng sanh nhứt là nhơn loại, mỗi mỗi đều có đẳng cấp Thiêng Liêng tùy theo sự tiến hóa của chơn linh của họ, dầu tánh chất hay hình thể cũng tùy theo tiến hóa của chơn linh mà có riêng đặc tánh, riêng về hình thể của họ chúng ta thấy phương pháp của cổ nhân xem tướng người đoán tánh chất, số mạng, cũng là nương theo đó.

Chúng ta có thể chia khách trần ra làm nhiều hạng :

1. Hạng trái chủ: Nghĩa là hạng thiếu nợ, hạng thiếu nợ là gì ? Là những người gây ra nhơn quả đã nhiều, luật nhơn quả để họ vô hàng cùng khổ của các chơn linh.

2. Hạng tác trái: Nghĩa là người đã cho vay.

3. Hạng du học: Là các chơn linh đến mặt địa cầu tìm phương pháp đặng học hỏi, vì họ thiếu thốn, đến đặng thâu hoạch cái phần thiếu kia cho hay biết nhiều thêm đặng tấn hóa về chơn linh.

4. Hạng ta bà: Du hí, du thực đến chơi rồi về mà cái hạng ấy ít lắm, nếu có đi nữa thì phần nhiều chết yểu hết.

5. Hạng Thiên Mạng: Hạng chơn linh cao cấp tức nhiên đã đạt phẩm vị cao trọng, vâng mạng đến thi hành lịnh của Ngọc Hư Cung hay của Lôi Âm Tự.

 

A. Hạng Trái Chủ là Hạng Thiếu Nợ

Nếu thấy họ ta đoán được ngay, cái thói nghèo hèn cùng khổ dầu đến đâu cũng ra nghèo hèn, rán làm sang bao nhiêu cũng lộ cái nghèo hèn ấy, vì tánh đức họ hiện ra hình trạng xấu xa cho đến cách ăn mặc cũng vậy; họ sợ thiếu nợ nhưng hại thay họ đã lo đêm lo ngày, chạy tảo chạy tần lo sống đủ mọi phương diện, nhưng chẳng phút nào họ được an hưởng tinh thần và tưởng tượng rằng mình có hạnh phúc.

Có khi người trái chủ ấy đầu kiếp một lượt thì họ có phương thế làm đặng trả là may duyên cho họ lắm; nếu rủi người chủ trái không đến thì họ phải đầu kiếp mãi tìm cho đặng người chủ nợ ấy, làm tôi mọi cho họ đặng trả nợ, ấy là một phương pháp mà các chơn linh hãi hùng sợ sệt hơn hết.

Tánh đức của họ là thường lo cho mình được lợi mà thôi, nhưng không biết chừng nào đủ, đến đỗi trong ý muốn làm có của cho lung, cho nhiều để dành ngừa đó cho có phương thế trả nợ, sợ một điều là buổi muốn trả mà không trả nỗi.

Tâm linh họ giục thúc như vậy, họ hà tiện lắm, nhiều khi gặp được tình liên hữu với chơn linh nào mà họ gọi là chủ trái đến, lạ lùng thay, đối với cả toàn thiên hạ không thương yêu ai, mà nếu họ gặp người chủ trái ấy giục họ thương yêu, kính mến, chiều chuộng, bao nhiêu của cũng đem dưng hết cho người ấy.

Có nhiều khi không có của họ đem cả thân sanh họ đặng đền trả nữa. Hạng thiếu nợ đặc biệt có tánh đức nhỏ nhen, chắt mót, không tưởng đến ai khác hơn mình duy người chủ trái đến thì toàn cả cơ nghiệp đều để lại cho người đó, dầu muốn dầu không, hay là không hay biết cũng do tay người đó phá hoại hết sự nghiệp.

Họ phát hiện ra có tánh chất buồn bực quạu quọ, không yên tâm, cứ lo lắng bậy bạ nhứt là hình ảnh của họ cùng khổ, bịnh hoạn luôn và thường chịu phận đê hèn. Ðó là hạng có quả kiếp.

 

B. Hạng Chủ Nợ

Có tánh cách đặc biệt không biết lo gì hết, lơ lơ lửng lửng, ngày chí tối không biết đợi ai trả nợ mà chắc mình có món nợ chúng sẽ trả, không lo gì cho họ cả, thả lình bình du hí du thực, không biết gì ráo cứ ngơ ngơ ngửng ngửng, không động tới ai mà cũng không làm nên gì cho ai ; mà khi nào chúng ta thuyết đạo với họ thì họ biết xu hướng, chịu nghe tưởng cái huyền linh nầy sẽ giúp mình đắc lợi gì.

Họ đi chùa, đi miễu cốt cầu danh, nghe nơi nào linh hiển, đem nhang đèn tới cầu tài cầu lợi cho mình. Hình ảnh của họ, gương mặt bơ bơ mà lúc nào cũng tự tôn tự đại, mình là chủ nợ dầu nợ nhiều hay nợ ít cũng là nhà giàu rồi và đặc sắc điều nầy là không sợ hao tài.

Tánh chất sợ tội, sợ quả báo mà không biết trọng mình, thoạt nghe đó, tin tưởng đó nhưng không phải tin tưởng đạo đức mà chỉ tin nơi huyền linh đặng cầu khẩn mà thôi, lại có tánh chất ngớ ngẩn, trong mình không có tiền thì thôi, nếu có tiền mà ai nói vừa bụng thì móc ra đưa hết, có khi đưa rồi lại mắng người ta, đưa chẳng phải vì thiệt tâm mà đưa. Tánh chất của người chủ trái là vậy đó.

 

C. Hạng du học

Hạng du học bình thường cái gì cũng muốn biết, ham đọc sách vở kinh luật nhưng chỉ đọc qua loa rồi bỏ, ưa kiếm hiểu, ưa tọc mạch hơn ai hết, cái gì cũng muốn hiểu, cái gì cũng muốn biết, có khi nào họ mơ màng thì họ cũng muốn bỏ.

Hạng du học thì nhiều mà lạ lùng thay, phần nhiều không tín ngưỡng, học cao đến đâu nếu đem đạo đức tinh thần mà nói, họ không biết gì hết, cứ cái chơn lý họ tìm mãi mà thôi, chính mình họ, họ cũng chẳng biết họ là ai nhưng cũng là hạng tự tôn tự đại lắm, họ quyết đoán trong óc họ rằng không ai hơn họ được, cho là mình khôn hơn thiên hạ nên làm cao cách hơn ai.

Gương mặt lúc nào đi cũng ngước lên người ta gọi là mấy cậu 'trịch bồ lương' mà thứ đó lại nhiều hơn hết.

 

D. Hạng Ta bà

Không động tới ai, không nói tới ai, cái sống cái chết của họ cũng không cần biết, họ thường ở theo các chùa hoặc lên núi, một cõi một mình chịu thanh tịnh mà thôi, còn đi chơi tìm lên non núi.

Ta thấy trong các chùa chiền, họ bơ vơ dộng chuông, gõ mõ rồi nam mô lên nam mô xuống, hạng ta bà du hí nầy sống trên cõi trần nếu không vừa bụng thì thối lui về tức là chết.

 

E. Hạng Thiên Mạng

Là hạng người không biết tầm lấy cho mình, chỉ lấy của mình lo cho thiên hạ, không biết tôn trọng hình hài của mình, chỉ tôn trọng thiên hạ bởi vì hạng thiên mạng cốt yếu tìm cả năng lực chỉ đạo cho thiên hạ làm môi giới tinh thần, ấy là một phương pháp giải cứu cho đời và bảo trọng nuôi nấng thiên hạ đó.

Tánh chất như Lục Tổ bất động, bất trần, bất cấu, bất nhiễm. Có nhiều khi họ đến mà chưa có phận sự thì họ ngơ ngơ ngửng ngửng như khùng như điên. Ấy là khi chưa đắc thế, thiên hạ kêu là ba trợn ba nháng đó ; một khi mà họ đắc thế rồi, quyết cứu độ thiên hạ thay thế cho Thiêng Liêng, vâng mạng lịnh Ðức Chí Tôn đến làm bạn với người đặng truyền Ðạo, thâu con cái của Chí Tôn về một mối. (Thuyết Ðạo Q.II trang 32)

 

54. Có cách gì chối tôi không?

Nếu chúng ta tưởng-tượng nền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ, kể sanh mạng mỗi người không sót, chẳng phải để chúng ta nghĩ lại coi, họ lấy quyền năng nào mà cầm quyền chánh trị vĩ đại ấy đặng? Chúng ta nên tìm hiểu với huyền vi bí mật ấy ở đâu? Chúng ta nên kiếm coi ở chỗ nào? Cơ-quan trị thế phải thế nào?

Cái án, cái tội vô hình, chính nó đã có nơi pháp thân của loài người, tức nhiên nó ở trong tay của Chơn Thần chúng ta ghi chép, nếu chúng ta muốn chối tội thì chối sao đặng, chính Chơn Thần ta định cho ta.

Các tội-tình đều đưa ra trước mặt, từ Tiểu Hồi tức nhiên là giác hồn, sanh tử biết bao nhiêu kiếp sanh, mới đoạt đến Đại-Hồi.

Cả cái sanh-hoạt, cả cái liên quan, cả cái căn bản, cả cái quả kiếp bất kỳ cái gì thì trong quyển Vô Tự Kinh đều có ghi ghép. Chính ta định cho ta, mà chối sao được, dầu muốn chối cũng không chối đặng. Chính Chơn Thần ta định án cho ta chớ không phải ai định án cho ta, sợ hay chăng là điều đó vậy.

Ông Tòa ở thế gian này khi định án còn có Trạng Sư để bào chữa, còn nơi đó không có Trạng Sư để bào chữa cho ta, chính ta định án cho ta, cái bí mật vô đối cầm quyền cả Càn Khôn Vũ Trụ là như vậy.

Người ta để cho mình làm tòa xử lấy mình thì còn ai binh cho mình nữa. Không thể gì mình chối cãi tội, cãi án của mình đặng, vì chính mình định cho mình, nếu cãi đặng là qua Chơn Thần sao? Không chối cãi gì được hết cả.

Ấy vậy trong các chơn hồn có chia ra hai phần, hai hạng:

1. Hạng vì quả kiếp, đến trả tội cho mình, chúng ta nên đặt tên cho các đẳng Linh Hồn ấy là kẻ tội nhơn đến để trả tội.
2. Hạng nữa là hạng du-học, đến để lập vị cho mình.

Chúng ta ngó thấy một tấn tuồng quan lại, chúng ta nghĩ lấy làm ngộ-nghĩnh, nếu chúng ta chịu tội tình một mình ta, thì không lấy làm đau đớn gì mấy.

Ngặt một nỗi, phép huyền vi vô đối của Càn Khôn Vũ Trụ, buộc cả Tông Đường, Tổ-Tông từ trước phải chịu cho ta, làm chứng cho ta, có đau đớn chăng là vậy đó.

Một linh hồn chịu quả kiếp nơi cảnh trần lúc trở về Ngọc Hư Cung, thì cả thảy Tông Đường họ đều có mặt tại Ngọc Hư Cung để đón tiếp, quan-sát coi con đường mình đã đi qua, quả kiếp đã đi qua, quả kiếp có điều chi sửa đổi hay chăng? Có làm chi tội tình nữa hay chăng? Thay vì quả kiếp mình đi trong con đường Chí Thiện, đoạt được Bí Pháp Chí Linh.

Còn một vài chơn linh đi ngược lụng lại thú hình gây thêm tội ác, mình thấy vì mình mà cả Tông Đường đều chịu tội nên đau đớn vô cùng.

Tông Đường Thiêng Liêng thường ở tại Ngọc Hư Cung như:

. Tông Đường cao trọng hơn hết là của Quan Âm Bồ Tát tức nhiên Từ Hàng Bồ Tát.
. Tông Đường cao trọng thứ nhì là Tông Đường của Địa Tạng Vương Bồ Tát.
. Tông Đường thứ ba là Đức Di Lạc.

Ba Tông Đường cao trọng hơn hết, còn nhiều Tông Đường khác nữa.

Mỗi người đều có Tông Đường đặng ngồi ở đấy mà chờ ta. [Thuyết Đạo 30-01 Kỷ Sửu (27-02-1949)]

 

Sách tham khảo

1. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I & II Hội Thánh
2. Thuyết đạo Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
3. Luật Tam Thể Đức Cao Thượng Phẩm
4. Chơn Nhơn và các Hạ Thể Annie Besant
5. Đi tìm Chơn Ngã Bạch Liên
6. Bí ẩn tiền kiếp và hậu kiếp Đoàn Văn Thông

Xin chân thành cảm ơn các tác giả.