Tiếp Đạo CAO ĐỨC TRỌNG (1897-1958)
ID004162 - Tác Giả : Tiếp Đạo CAO ĐỨC TRỌNG (1897-1958)

Ngài Cao đức Trọng, sanh ngày 20-4-Đinh Dậu (dl 21-5-1897) tại làng Ích Thạnh quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

(Ngài là bào huynh của Đức Thượng Sanh Cao hoài Sang, nên phần gia thế, xin độc giả xem nơi Tiểu sử của Đức Thượng Sanh Cao hoài Sang ở phía trước).

Năm 1927, lúc Đức Phạm Hộ Pháp qua Nam Vang, thủ đô nước Cao Miên để mở đạo thì Đức Phạm Hộ Pháp ngụ tại nhà Ngài Cao đức Trọng. Ngài Cao đức Trọng lúc đó đang làm công chức nơi Sở Chưởng Khế tại Nam Vang.

Tại đây, Đức Chí Tôn giáng cơ thâu Ngài Cao đức Trọng và nhiều vị khác vào hàng môn đệ.

Đàn cơ ngày 27-7-1927 (âl 29-6-Đinh Mão), Đức Chí Tôn ân phong Ngài Cao đức Trọng vào chức Tiếp Đạo HTĐ. Ngài là vị Thời Quân được Đức Chí Tôn phong sau cùng trong số Thập nhị Thời Quân HTĐ.

Cũng trong Đàn cơ nầy, Đức Chí Tôn phong nhiều vị khác vào hàng Chức sắc CTĐ, và nhờ số Chức sắc đầu tiên nầy, Đức Phạm Hộ Pháp thành lập được Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại, giao cho Ngài Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh (Lê văn Bảy) làm Chủ Trưởng, để rồi sau nầy trở thành Hội Thánh Ngoại Giáo, đặt dưới quyền điều khiển thiêng liêng của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo), với chức vụ Chưởng Đạo.

Từ năm 1938 đến năm 1942, Ngài Tiếp Đạo Cao đức Trọng được Đức Phạm Hộ Pháp bổ nhiệm làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo ở Kim Biên, Nam Vang.

Năm 1942, Đạo Cao Đài bị nhà cầm quyền Pháp khủng bố nặng nề, Tòa Thánh Tây Ninh bị quân đội Pháp chiếm đóng. Còn tại Nam Vang, Thánh Thất Kim Biên bị chiếm đọat, quân Pháp phá quả Càn khôn thờ Đức Chí Tôn, đập phá các Long vị thờ chư Thần Thánh Tiên Phật. Ngài Cao Tiếp Đạo phải lánh nạn sang Thái Lan vào ngày 17-9-Nhâm Ngọ (26-10-1942).

Nhân dịp ở Thái Lan, Ngài Cao Tiếp Đạo phổ độ được một số ít người Thái Lan theo Đạo, gieo được một ít hột Thánh cốc nơi đất nước nầy.

Năm 1944, Ngài trở về VN, ngụ tại Sài gòn, hiệp cùng chư Chức sắc Thiên phong lo cơ phục hưng nền Đạo.

Ngày 4-8-Bính Tuất (dl 30-8-1946), chánh quyền Pháp đưa Đức Phạm Hộ Pháp từ hải đảo Madagascar trở về Tòa Thánh, sau 5 năm 2 tháng lưu đày, và liền sau đó, Đức Phạm Hộ Pháp tái thủ quyền hành, lo củng cố nền Đạo.

Ngài Cao Tiếp Đạo cũng trở về hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh, được Đức Phạm Hộ Pháp cử giữ chức vụ Đổng Lý Văn phòng Hộ Pháp.

Sau đó, Ngài được Hội Thánh tạm cử vào chức vụ Quyền Thượng Chánh Phối Sư CTĐ để triệu tập Đại Hội Nhơn Sanh, tuyển chọn chư Chức sắc và Chức việc hữu công cùng Đạo xin cầu thăng và cầu phong, cho có đủ người hành đạo, mau gầy dựng trở lại cơ nghiệp Đạo.

Năm Quí Tỵ (1953), Thánh Lịnh số 281/TL cử Ngài Tiếp Đạo làm Cố Vấn Hành Chánh Đạo kiêm Nghị Trưởng Hội Đồng Kinh tế Châu Thành Thánh Địa (Thánh Lịnh số 150), và Ngài điều khiển Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại.

Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài Cao Tiếp Đạo cầm quyền Thống Quản CQPT.

Năm Bính Thân (1956), sau khi Đức Phạm Hộ Pháp lưu vong qua Nam Vang (thủ đô nước Cao Miên), Ngài Cao Tiếp Đạo được Hội Thánh cử làm Đại diện Hội Thánh giao tiếp với Chánh phủ Ngô đình Diệm, xếp đặt ổn định việc Đạo. Ngài cùng với Ngài Bảo Thế Lê thiện Phước thảo luận với Ông Nguyễn ngọc Thơ, đại diện Chánh phủ Diệm, lập ra Thỏa Ước Bính Thân, qui định các điều khoản hành đạo của Đạo Cao Đài. (Xem chi tiết nơi Tiểu Sử Ngài Bảo Thế Lê thiện Phước)

Ngài Cao Tiếp Đạo được Chánh phủ Ngô đình Diệm ủng hộ và thúc đẩy việc vận động với Hội Thánh rước Đức Thượng Sanh Cao hoài Sang (đang Ở Sài gòn) về Tòa Thánh Tây Ninh cầm giềng mối Đạo, thay thế Đức Phạm Hộ Pháp đang lưu vong nơi nước Cao Miên.

Với sự ủng hộ của Chánh quyền Ngô đình Diệm, vả lại Đức Thượng Sanh Cao hoài Sang là bào đệ của Ngài Cao Tiếp Đạo, nên việc vận động nầy thành công dễ dàng.

Tháng 5 năm 1957 (Đinh Dậu), Ngài Cao Tiếp Đạo hiệp cùng Đức Thượng Sanh và một số vị Thời Quân, từ Sài gòn về Tòa Thánh Tây Ninh cầm quyền điều khiển nền Đạo.

Mấy lúc sau nầy, Ngài Cao Tiếp Đạo lâm bịnh nặng, không ăn uống chi được, nên đến ngày 23-5-Mậu Tuất (dl 9-7-1958), Ngài qui vị hưởng thọ 62 tuổi.

Tang lễ được cử hành rất trọng thể tại Tòa Thánh Tây Ninh, theo hàng Thời Quân HTĐ, và liên đài kỵ long mã nhập Bửu tháp ở vùng đất Ao Hồ.

Sau khi qui vị, Ngài Cao Tiếp Đạo giáng cơ cho Bài thài Hiến lễ Ngài :

THI :
Cổi xác phàm vui lại cảnh Tiên,
Độ sanh phỉ hiệp tạo nên giềng.
Trường đời dầu chẳng tròn ân nghĩa,
Nợ đạo rồi xong gác bút nghiên.
Cõi Thánh nhàn xem tranh đảnh Túy,
Chơn mây ngẩn chạnh bạn rừng thiền.
Từ đây dạo khắp trời non nước,
Nâng giúp quần sanh hưởng huệ duyên.

Thuở sinh tiền, Ngài Cao Tiếp Đạo là một nhà thơ lỗi lạc với bút hiệu là Huyền Quang. Năm 1950, Ngài lập Đạo Đức Văn Đàn, qui tụ các Chức sắc và tín đồ yêu mến thơ văn của Đạo, gây được một phong trào thi văn nổi tiếng tại Tòa Thánh Tây Ninh. Phong trào này kéo dài được 2 năm thì có phần chựng lại vì Ngài Cao đức Trọng bận lo việc Đạo. Đến năm 1957, Ngài Bảo Pháp Nguyễn trung Hậu phục hồi sinh hoạt của Đạo Đức Văn Đàn.

Lúc sau nầy, Ngài Cao Tiếp Đạo lấy bút hiệu là Chánh Đức, do Đức Tiêu Diêu Đạo sĩ giáng cơ ban cho, với 2 câu đối nói lên ý nghĩa của bút hiệu nầy :

CHÁNH khí tà gian khủng,
ĐỨC trọng quỉ thần kinh.

Sau đây, xin chép lại một số bài thi của Ngài Cao Tiếp Đạo :

Họa vận bài thi "CẢM TÁC" của Đức Cao Thượng Sanh khi Ngài đến thăm Đức Phạm Hộ Pháp, sau ngày Đức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh sau 5 năm bị đồ lưu nơi hải ngoại :

Màu sen Tây vức ngắm thêm tươi,
Hỏi khách Hỗn Ngươn đặng mấy người?
Ly hận ngày qua non ngó khóc,
Trùng hưng buổi hiện gió reo cười.
Cơ huyền trí định tan rồi hiệp,
Phép tạo tay cầm ngược cũng xuôi.
Tỏ đặng nỗi mừng chia hạnh phúc,
Đá kia cũng gật để nên lời.
CAO TIẾP ĐẠO

Họa vận bài thi của Bát Nương giáng cơ đêm 15-8-Bính Tuất (1946) :

(Thuận Nghịch đọc)
Qua thu bước khổ cảnh thay lần,
Trị quốc điềm đem thấy hiện lân.
Hòa ái chạm gương nêu trước tử,
Nghĩa nhân bia dấu tạc kiều Ngân.
Ca hoàn Việt, lập an ngôi Thánh
Định đảnh Nam, vang tiếng hạc Thần,
Nhà nước Đạo xong gầy hậu phúc,
Hoa tiên bức chép rạng đài vân.

Họa vận bài thi "Tức Sự" của Đức Thượng Sanh :

Đường trần mừng tránh lối nghiêng xe,
Quán tục thanh tâm chẳng rượu chè.
Lướt thế trẻ dong đường dặm liễu,
Xem đời già núp cội cây hòe.
Noi gương Đỗ Phủ vài hàng mực,
Giỏi chí Nghiêm Lăng ít mảnh tre.
Đợi gió xây chiều về động Thánh,
Buồm nhân trở lái cánh loan sè.

SỐNG VỀ ĐẠO
Thuyền từ đưa khách lướt ngàn voi,
Đuốc huệ tay trau đã thấy mòi.
Tỉnh thế cung Trời đưa giọng khánh,
Độ nhân non Thánh trổi hơi còi.
Huyền châu động báu nguồn Tiên chỉ,
Xá lợi đài sen gốc Phật roi.
Lấy mắt vô hình xem vũ trụ,
Máy linh bao khắp ngoại vòng thoi.

Xủ áo phồn hoa tránh ngựa voi,
Riêng vui động Túy đã ra mòi.
Non nhân ngắm lại cành tươi tốt,
Rừng tục xem qua lá cọc còi.
Lục Tổ thọ truyền gương vẫn tạc,
Quan Âm đắc đạo tiếng còn roi.
Nhiệm mầu diệu pháp Ba-la-mật,
Hơn cả muôn vàng ức triệu thoi.
CHÁNH ĐỨC