Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
ID026422 - Sách : Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) 🖶 Print this Sách
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

  • I. Các Định nghĩa
    • 1). Cao Đài

      1). Cao Đài

      1). Cao Đài : là một cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện, trong Ngọc Hư Cung, ở cõi Thiêng liêng, là nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi khi đại hội triều đình của Ngài.

      Vào năm 1927, trong một đàn cầu cơ tổ chức tại Cần Thơ (miền Nam Việt Nam), Đức Chí Tôn giáng cho 4 câu thi giải thích 2 chữ CAO ĐÀI :

      Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài,
      Đại hội quần Tiên thử ngọc giai,
      Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,
      Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

      Nghĩa là :

      Nơi Linh Tiệu Điện có một cái tháp gọi là Cao Đài,
      Đại hội các vị Tiên nhóm tại bệ ngọc ấy.
      Muôn trượng hào quang từ nơi đó chiếu ra,
      Tên xưa, cảnh quí báu đó là Lạc Thiên Thai.

      Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở đạo, lấy đài ngự của Ngài là CAO ĐÀI làm danh hiệu.

      Do đó, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng Cao Đài, nên cũng gọi là Cao Đài Thượng Đế, và nền Đại Đạo do Ngài mở ra vào thời Tam Kỳ Phổ Độ được gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cũng gọi là Cao Đài Đại Đạo, hay vắn tắt là Đạo Cao Đài.

      Danh xưng Cao Đài cũng được Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giải thích trong 4 câu Thánh ngôn sau đây:

      Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã,
      Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
      Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
      Kim viết Cao Đài

      Nghĩa là :

      Nhiên Đăng Cổ Phật là Ta,
      Thích Ca Mâu Ni là Ta,
      Thái Thượng Nguơn Thỉ là Ta,
      Nay gọi là Cao Đài.

      Do đó, từ ngữ Cao Đài còn có ý nghĩa là Đấng đã sản xuất ra các vị Phật, Tiên : Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Thái Thượng Lão Quân và Đức Nguơn Thỉ Thiên Tôn. Cho nên, Đấng Cao Đài chính là Đại Từ Phụ của toàn cả chư Thần Thánh Tiên Phật trong Càn khôn Vũ trụ.

    • 2). Cao Đài Đại Đạo

      2). Cao Đài Đại Đạo

      2). Cao Đài Đại Đạo : là một con đường rộng lớn (Đại Đạo) hướng dẫn chúng sanh tiến hóa, tiến hóa mãi cho đạt đến các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, và sau đó tiến hóa tiếp tục lên phẩm vị cao nhất cuối cùng là Thượng Đế để hiệp nhất vào Thượng Đế.

      Cao Đài Đại Đạo là một nền tôn giáo lớn, có một Giáo lý và một Triết lý rất đầy đủ, bao quát và dung hợp được tất cả các nền Tôn giáo và Triết lý của loài người đã có từ trước tới nay, do một Đấng Tối Cao, Chúa tể Càn khôn Vũ trụ là Đấng Cao Đài lập nên. (Đây không phải là lời nói ngoa có tánh cách phô trương quá đáng, mà là sự thật, khi chúng ta nghiên cứu kỹ lưỡng và sâu xa Giáo lý và Triết lý của Đạo Cao Đài, chúng ta sẽ thấy rõ).

      Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài cho nhơn sanh tu hành vào thời Hạ nguơn. Do đó, Đức Chí Tôn khai đạo vào ngày Rằm Hạ nguơn (15-10 âl) năm Bính Dần, vì khởi đầu một Nguơn là năm Giáp Tý, kế đó là năm Ất Sửu, tiếp theo là năm Bính Dần, hợp với Thiên cơ : Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần.

      Đạo Cao Đài sẽ truyền bá phổ độ nhơn sanh trong 700.000 năm (thất ức niên) thì mới chấm dứt, chuyển qua một Nguơn Hội khác với một nền tôn giáo khác.

      Bài thi của Đức Chí Tôn về Tịch đạo Nam phái nói rõ điều đó :

      Thanh đạo tam khai thất ức niên,
      Thọ như Địa quyển, thạnh hòa Thiên.
      Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
      Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

      Nghĩa là :

      Đạo Cao Đài mở ra lần thứ 3 kéo dài 700 ngàn năm,
      Lâu dài như Trái đất, thạnh vượng cùng Trời.
      Đem trở lại cõi Hư Vô các chơn linh của nhơn sanh,
      Tạo ra từ muôn xưa đàn cúng để soi sáng những người có duyên với Phật.

      Thuở mới Khai đạo, năm Bính Dần, các vị Tiền bối mở Đạo đã báo cáo với nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ, Đạo Cao Đài là Thần Linh Học Việt Nam (Spiritisme Viêtnamien) cũng gọi là Phật Giáo Chấn Hưng (Bouddhisme Renové) có thờ Đức Phật Thích Ca và Đức Quan Âm Bồ Tát, để cho người Pháp tạm hiểu đây là một tôn giáo mới mở ra trong nước Việt Nam đang là thuộc địa của Pháp và yêu cầu cho tôn giáo nầy được tự do truyền bá.

      Nhưng thật sự Đạo Cao Đài được mở ra do Đấng Thượng Đế dùng hiện tượng Thần Linh Học để giáng cơ dạy đạo, có mục đích không những chấn hưng Phật giáo, mà còn chấn hưng cả Khổng giáo, Lão giáo, và cả Ngũ Chi Đại Đạo.

      Do đó, có nhiều người lầm tưởng Đạo Cao Đài là tôn giáo tổng hợp, hay nói nặng hơn là một tôn giáo hỗn tạp, vì họ thấy Đạo Cao Đài thờ các Đấng Giáo chủ của các tôn giáo khác như : Đức Phật Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jésus, lại thờ cả Quan Âm, Quan Thánh, nhà thơ Lý Bạch và cả Ông Khương Thượng nữa; còn Giáo luật thì lấy một ít của Phật giáo (như Ngũ Giới Cấm, luật Ăn chay), lấy một ít của Lão giáo (như Tam bửu Tinh Khí Thần), lấy một ít của Khổng giáo (như Tam cang, Ngũ thường, Tam tùng, Tứ đức), lấy một ít của Thiên Chúa giáo (như tôn thờ Thượng Đế).

      Nhưng nếu nghiên cứu sâu xa thì người ta sẽ thấy rằng : Các Giáo lý và Triết lý của Tam giáo và Ngũ Chi chỉ là một phiến diện, một khía cạnh của Đạo Cao Đài, bởi vì Đạo Cao Đài là nguyên căn của tất cả các nền tôn giáo, và Đấng Giáo chủ của Đạo Cao Đài là nguyên căn của tất cả các Đấng Giáo chủ khác.

      Do đó, Giáo lý và Triết lý của Đạo Cao Đài rất hoàn chỉnh, giải quyết một cách đầy đủ, thông suốt, hợp lý tất cả các vấn đề mà các tôn giáo khác còn mắc mứu.

      - Phật giáo thì còn vướng mắc về vấn đề Linh hồn, Vũ trụ, Thượng Đế, có lối tu hoàn toàn xuất thế, và các tăng ni Phật giáo sống nhờ sự bố thí của nhơn sanh.

      - Lão giáo thì có lối tu vô vi, yếm thế, độc thiện kỳ thân.

      - Nho giáo hay Khổng giáo thì nhập thế giúp đời, nhưng lại thiếu phần tâm pháp thượng thừa, tu giải thoát.

      Để hiểu về sự dung hợp của Đạo Cao Đài với các tôn giáo khác, chúng ta lấy thí dụ sau đây :

      Việc xây nhà : Phật giáo ví như sắt thép, Lão giáo ví như cát đá, Nho giáo ví như gạch ngói, Thánh giáo Gia Tô ví như gỗ ván. Nếu đem 4 thứ ấy chất thành đống chung lại thì nó không thể thành một cái nhà, và nó chỉ là một thứ hỗn tạp không có giá trị gì cả. Ông chủ nhà còn phải lo mua xi măng, rồi tự phát họa ra đồ án kiến trúc, dùng một số thợ chuyên nghiệp đến phụ với ổng để xây cất nhà, đúc bê tông, xây tô vách tường, lót gạch, làm cửa, sơn phết trang trí, vv . . .

      Rốt cuộc cái nhà đẹp đẽ mới được hoàn thành.

      * Hỏi vậy cái nhà nầy có phải là sắt thép không ?

      Đáp : Nhà nầy không phải là sắt thép, nhưng trong nhà ấy có sắt thép làm sườn.

      * Hỏi vậy cái nhà nầy có phải là gạch ngói không ? Đáp : Nhà nầy không phải là gạch ngói, nhưng trong nhà ấy có dùng gạch để làm vách và dùng ngói để làm mái che.

      vv . . . . . . . . . . . . . . .

      Nhìn vào ngôi nhà, chúng ta không thấy sắt thép, đá cát, . . . vì chúng đã được xếp đặt vào nhau một cách thích hợp, tạo thành một vật thể hoàn toàn mới do các bàn tay khéo léo của ông thợ lành nghề.

      Ngôi nhà đó là Đạo Cao Đài, và ông chủ nhà ấy là Đấng Tạo Hóa, Đấng Thượng Đế.

      Cho nên, Đạo Cao Đài không phải là Phật giáo, nhưng Phật giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như những cây sắt thép nằm trong cột và đà của ngôi nhà.

      Đạo Cao Đài không phải là Lão giáo hay Tiên giáo, nhưng Lão giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như cát đá trong các vách và cột của ngôi nhà.

      Đạo Cao Đài không phải là Nho giáo hay Khổng giáo, nhưng Nho giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như các thứ gạch ngói có trong ngôi nhà. vv . . . .

      Nói như thế để chúng ta nhận định rằng : Nếu Tam giáo và Ngũ Chi Đại Đạo (trong đó có Thánh giáo Gia Tô) có kết hợp lại cũng chưa thể tạo thành Đạo Cao Đài, nó chỉ là một mớ hỗn tạp hổ lốn mà thôi, phải cần có một số vật liệu phụ khác và nhứt là bàn tay tài giỏi của người thợ tạo thì mới tạo thành ngôi nhà Cao Đài được.

      Một số vật liệu phụ khác, đó là những cái mới mà chúng ta tìm thấy không có trong Tam giáo và trong Ngũ Chi. Khi khảo sát kỹ, chúng ta sẽ thấy đó là sự thực.

    • 3). Đạo Cao Đài có phải là Chơn lý không ?

      3). Đạo Cao Đài có phải là Chơn lý không ?

      Đáp : Đạo Cao Đài không phải là Chơn lý, mà Đạo Cao Đài chỉ là một con đường tốt đẹp rộng rãi dẫn dắt con người đi thẳng đến Chơn lý. Cái Chơn lý ấy thì tuyệt đối và tối thượng, gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.

      Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế lập ra và làm Giáo chủ.

      Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài mà Ngài không cần giáng sanh xuống cõi trần để mang lấy xác phàm như các vị Giáo chủ khác, Ngài vẫn ở cõi Hư Linh vô hình, dùng hiện tượng Thần Linh Học, với cây bút của chiếc Ngọc Cơ, viết ra những lời dạy bảo, tạo ra một mối Đạo hoàn hảo, cao thượng, vĩ đại về hình thức, vĩ đại về nội dung, để tận độ nhơn sanh.

    • 4). Nhiệm vụ quan trọng của Đạo Cao Đài.

      4). Nhiệm vụ quan trọng của Đạo Cao Đài.

      -Qui nguyên Tam giáo, Phục nhứt Ngũ Chi :

      Đem 3 nền tôn giáo lớn ở Á Đông (Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo) và đem 5 nhánh đạo (Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo) trên toàn thế giới qui về một mối duy nhất do Đức Chí Tôn Thượng Đế chưởng quản, để nhơn loại không còn có sự khác biệt nhau về tôn giáo và tín ngưỡng mà chia rẽ nhau, tiến đến thống nhứt tư tưởng và xây dựng một xã hội đại đồng.

      -Cứu độ 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị :

      Hai kỳ Phổ Độ trước chỉ cứu độ được 8 ức nguyên nhân trở về ngôi vị cũ nơi cõi Thiêng liêng, còn lại 92 ức nguyên nhân đang trầm luân nơi cõi trần. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nhiệm vụ cứu độ cho hết 92 ức nguyên nhân nầy.

      - Tận độ chúng sanh trong thời Mạt kiếp của Hạ Nguơn Tam Chuyển để lập đời Thánh đức của Thượng Nguơn Tứ Chuyển.

      Trước khi lập đời Thánh đức, nhơn loại phải trải qua một cuộc Đại Phán Xét để tuyển chọn người đạo đức tham dự Đại Hội Long Hoa. Đây là một kỳ thi chung kết mà đề tài khảo thí là “Công quả Phụng sự chúng sanh”. Đức Chí Tôn giao cho Đức Di-Lạc Vương Phật làm Chánh Chủ Khảo Hội thi chung kết nầy.

      Các nhiệm vụ kể trên thật vô cùng trọng đại, nhưng chắc chắn Đạo Cao Đài hoàn thành được, vì Đấng Giáo chủ Đạo Cao Đài là Đức Chí Tôn Thượng Đế. Đấng ấy là vua của Nhựt Nguyệt Tinh, là chủ của chư Thần Thánh Tiên Phật, và là Đại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh, nên quyền pháp của Ngài tuyệt đối bao trùm lên khắp cả Càn Khôn Vũ Trụ.

      Vì những nhiệm vụ trọng đại nầy, Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài rất đặc biệt, đặc biệt về Giáo lý, Triết lý, cũng như đặc biệt về tổ chức Giáo hội.

    • 5). Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

      5). Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

      5). Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : là một nền đạo lớn mở ra kỳ thứ 3 để cứu giúp toàn cả chúng sanh nơi cõi trần thoát khỏi khổ cảnh luân hồi mà trở về cõi T.L. Hằng sống.

      Gọi là Đại Đạo, một nền Đạo lớn, bởi vì nền Đạo nầy có qui mô rất lớn, được Đức Thượng Đế khai mở và làm Giáo chủ, với tôn chỉ : Qui nguyên Tam giáo, Phục nhứt Ngũ Chi. Đức Chí Tôn làm một cuộc Tổng Pháp Tông, gom tất cả tôn giáo đã có từ trước đến nay do các Đấng Thần Thánh Tiên Phật mở ra, thống nhứt lại thành một mối, dưới sự chưởng quản của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

      Gọi là Tam Kỳ Phổ Độ bởi vì trước đây đã mở ra 2 kỳ Phổ Độ : Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ.

      - Nhứt Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thái cổ của nhơn loại, gồm các tôn giáo : Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo, Đức Brahma Phật mở Đạo Bà-La-Môn, Đức Thái Thượng mở Tiên giáo, Đức Phục Hy mở Nho giáo, Thánh Môi-se (Moise) mở Thánh giáo Do Thái.

      - Nhị Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời Thượng cổ của nhơn loại, gồm các tôn giáo : Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ, Đức Lão Tử mở Lão giáo và Đức Khổng Tử mở Nho giáo ở Trung hoa, Đức Chúa Jésus mở Thánh giáo ở Do Thái, Đức Khương Thượng cầm Bảng Phong Thần đứng đầu Thần đạo Trung hoa.

      - Tam Kỳ Phổ Độ là thời đại hiện nay, ứng với cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển. Đức Chí Tôn Thượng Đế không cho mở ra nhiều tôn giáo như 2 thời kỳ trước, vì ngày nay nhơn loại đã văn minh, Càn khôn dĩ tận thức, năm Châu chung chợ, bốn biển chung nhà, nên chỉ cần mở ra một nền Đại Đạo, bao gồm cả Tam giáo và Ngũ Chi, thống nhứt thành một mối, để nhơn loại không còn bị chia rẽ nhau vì khác tôn giáo, vì khác tín ngưỡng, để tiến đến một xã hội đại đồng.

      Đức Chí Tôn xác định rằng, đây là kỳ Phổ Độ chót, trước khi mở Đại Hội Long Hoa, ấy là một cuộc Phán Xét cuối cùng, để tận độ nhơn sanh, cứu giúp tất cả, không để sót một ai. Đức Chí Tôn Khẳng định : “ Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.”

      Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chánh thức khai đạo vào ngày Rằm Hạ nguơn (15 tháng 10 âm lịch) năm Bính Dần (1926), và Đức Chí Tôn chọn dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam để khai đạo, lấy Tây Ninh làm Thánh Địa, để từ đó truyền bá ra khắp hoàn cầu.

    • 6). Tại sao có Tam giáo rồi mà Đức Chí Tôn còn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?

      6). Tại sao có Tam giáo rồi mà Đức Chí Tôn còn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?

      Vấn đề 1 : Tại sao có Tam giáo rồi mà Đức Chí Tôn còn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?

      Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 22-6-Mậu Dần (1938) giảng giải như sau :

      “Do Tam giáo thất Chơn truyền, Nho, Thích, Đạo hiện nay đã trở nên Phàm giáo. Chư đệ tử trong 3 nhà đạo không giữ y luật lệ qui điều, canh cải Chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc, làm cho Tam giáo biến thành dị đoan.

      Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng Pháp giáo của Đức Thái Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà dị đoan mê tín.

      Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

      Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.

      Tóm lại, 2 chữ DỊ ĐOAN nghĩa là đồ theo không trúng kiểu cái qui giới thể lệ Chơn truyền của Tam giáo.

      Tiên giáo (Đạo giáo), Đức Thái Thượng dạy Tam Bửu Ngũ Hành, tu tâm luyện tánh, thủ cảm ứng công bình.

      Phật giáo, Đức Thích Ca dạy Tam Qui Ngũ Giới, minh tâm kiến tánh, thực hành Bác ái, Từ bi.

      Nho giáo, Đức Khổng Tử dạy Tam cang Ngũ thường, tồn tâm dưỡng tánh, giữ theo 2 chữ Trung Hiếu mà làm tiêu chuẩn cho mọi hành vi.

      Cả luật pháp khuôn viên điều mục của 3 nhà tôn giáo từ buổi sơ khai có đủ phương diện quyền năng dìu đời thống khổ, nhơn sanh trong thời kỳ Thượng cổ, còn tánh đức biết giữ Chơn truyền, chuẩn thằng qui củ của 3 nhà Nho Thích Đạo, làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, nên mới chung hưởng đời thái bình, an cư lạc nghiệp.

      Nay đến thời kỳ Hạ Nguơn cuối cùng, thế đạo suy vi, nhơn tâm bất cổ, đạo đức đổi dời, luật Tam cang chẳng giữ, phép Ngũ thường không noi, Tam giáo thất Chơn truyền, bỏ phép công bình, tranh danh trục lợi, cướp giựt hiếp đáp, giết hại lẫn nhau, không tưởng cốt nhục, chẳng tưởng đồng bào, thù nghịch lẫn nhau, thành ra một trường náo nhiệt, luân lý suy đồi, nên gọi là đời Mạt Kiếp.

      Các vì Giáo chủ đời xưa tiên tri rằng : Buổi sau nầy, Tam giáo qui phàm, nên có để lời bí tích trong Sấm Truyền :

      - Như Phật Tông Nguyên Lý, Đức Phật có nói : Lục vạn dư niên Thiên khai Huỳnh Đạo.

      - Còn Nho giáo, Đức Thánh có nói : Mạt hậu Tam Kỳ Thiên khai Huỳnh đạo.

      - Đức Chúa Jésus khi bị đóng đinh trên cây Thánh giá có nói tiên tri với các môn đồ của Ngài rằng : Trong 2000 năm Tận Thế, Ta sẽ đến phán xét cho nhơn loại một lần nữa. Và Ngài nói : Còn nhiều chuồng chiên sau Đức Chúa Cha sẽ qui về một mối.

      Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm Truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa.

      Chỉ có 2 phương diện là do nơi Tam giáo thất Chơn truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập đạo đặng qui nguyên phục nhứt, gọi là Chấn hưng Tam giáo lại cho hoàn toàn, lập luật pháp khuôn viên cho phù hạp theo dân trí buổi nầy, mới tìm phương độ rỗi nhơn sanh, hiệp cả tinh thần của các dân tộc, biết nhìn nhau một Cha chung để thuận hòa cùng nhau, thật hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền tôn giáo đại đồng, thì nhơn loại mới đặng gội nhuần ơn huệ, và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng hòa bình, phục lại đời Thượng cổ, là do nơi Thiên thơ tiền định, buổi Hạ Nguơn chuyển thế , hóa cựu duy tân.

      Tóm lại, Đức Chí Tôn khai Đạo Kỳ Ba nầy là thuận theo lẽ tuần hoàn, châu nhi phục thủy.”

    • 7). Từ ngữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đấng nào giáng cơ dạy ?

      7). Từ ngữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đấng nào giáng cơ dạy ?

      Vấn đề 2 : Từ ngữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đấng nào giáng cơ dạy cho biết lần đầu tiên vào ngày nào và ở nơi đàn cơ nào ?

      Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I, trang 14, Đức Phật Thích Ca giáng cơ dạy về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lần đầu tiên vào ngày 8-4-1926 (âl 26-2-Bính Dần) tại đàn cơ nơi Vĩnh Nguyên Tự, Cần Giuộc.

      Bài Thánh Ngôn nầy, xin chép ra sau đây :

      Thích Ca Mâu Ni Phật giáng cơ :

      THÍCH CA MÂU NI PHẬT

      Chuyển Phật đạo, Chuyển Phật pháp, Chuyển Phật tăng, qui nguyên Đại Đạo. Tri hồ chư chúng sanh ?

      Khánh hỷ ! Khánh hỷ ! Hội đắc TAM KỲ PHỔ ĐỘ.

      Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu.

      Ngã vô lự Tam đồ chi khổ.

      Khả tùng giáo Ngọc Đế, viết Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. “

      Bài Thánh ngôn Nho văn trên nghĩa là :

      Đức Phật Thích Ca nói rằng : Chuyển toàn thể Phật đạo, Phật Pháp, Phật Tăng trở về gốc là nền Đại Đạo. Chư chúng sanh biết chăng ?

      Vui mừng ! Vui mừng ! Hội được vào Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

      Chư Thần Thánh Tiên Phật quá vui mừng, phát ra tiếng cười lớn.

      Ta không còn lo lắng về Ba đường khổ. Khá tùng theo lời dạy bảo của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, nay gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

  • II. Tứ giáo thất Chơn truyền
    • 1). Tứ giáo - Thất Chơn truyền

      1). Tứ giáo - Thất Chơn truyền

      Tứ giáo là 4 Tôn giáo lớn trên Thế giới là : Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo.

      Thất Chơn truyền là mất Chơn truyền. Chơn truyền là Giáo lý chơn thật, đúng chơn lý, đó chính là Chánh pháp do vị Giáo chủ tìm ra, truyền lại cho người đời, tu hành theo đó thì chắc chắn sẽ đắc đạo, thoát khỏi luân hồi.

      Thất Chơn truyền nghĩa là cái giáo lý chơn thật của Đấng Giáo chủ truyền lại bị sửa cải cho sai lạc đi, khiến người tu lầm lạc, tu không đắc quả.

      Bất cứ tôn giáo nào, sau một thời gian dài truyền bá, thì dần dần bị thất Chơn truyền, và thời kỳ thất Chơn truyền được gọi là thời Mạt Pháp.

      Trong Tứ giáo thất Chơn truyền, chúng ta xem trước hết về Tam giáo : Phật giáo hay Thích giáo, Lão giáo hay Đạo giáo và Nho giáo hay Khổng giáo.

    • 2).Tam giáo thất Chơn truyền

      2).Tam giáo thất Chơn truyền.

      “ Tam giáo trước là : Nho, Thích, Đạo, vì hoằng khai cũng đã lâu đời nên bị biến cải mà thành thử phải thất Chơn truyền, làm cho sai lạc mất hết cả Thiên cơ mầu nhiệm, bởi đó mà nhơn sanh tuy tu nhiều mà thành thì chẳng có.

      Lại cũng bị thất Chơn truyền mà Tam giáo lần lần phải chịu lu lờ mờ mịt. Nẻo chơn không ai đến, đường chánh chẳng người đi, nên cỏ mọc bìm leo, gai rào cây lấp. Vì lẽ đó, nhơn loại phải chịu mãi trong vòng Luân hồi Tứ khổ, đày đọa mãi ở chốn trần ai.

      Nhơn sanh cũng vì vậy mà lần lần tiêu đạo đức, phế tinh thần, mới chuộng sự hữu hình, nên bày những âm thinh sắc tướng, không ai còn để chí lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạng thấy tạng nghe, rồi cứ dẫy lòng nhơn dục tham mê, mới gây tội ác nặng nề, phải mang lấy sừng lông, mà bị thối hóa lại súc sanh và luân hồi lục đạo.” (Trích trong Đại Thừa Chơn Giáo, trang 101)

      Tam giáo thất Chơn truyền tại đâu ?

      Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy rằng :

      Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 18 : “ Lại nữa, trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo, mà làm ra phàm giáo.

      Thầy lấy làm đau đớn, hằng thấy gần trót 10 ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A-Tỳ.

      Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa.”

      Theo lời dạy trên của Đức Chí Tôn thì Tam giáo thất Chơn truyền là vì nền Chánh giáo do các vị Giáo chủ mang xác phàm lập ra. Các Giáo chủ nầy vâng lịnh Đức Chí Tôn, đầu kiếp xuống trần, tu luyện, được Đức Chí Tôn bố hóa cho thấy rõ Chánh pháp, rồi đem Chánh pháp nầy lập thành nền Chánh giáo mà truyền bá để cứu độ nhơn sanh.

      Sau thời gian mở đạo và hoằng hóa, vị Giáo chủ phải rời bỏ xác phàm, trở về cõi thiêng liêng, Chánh giáo được giao lại cho đệ tử nối tiếp làm Tổ Sư truyền bá mối đạo.

      Các vị Tổ Sư, dù đã đắc đạo, nhưng vẫn còn mang xác phàm, nên cũng còn chút ít phàm tánh, lần lần sửa cải Chơn truyền, mỗi lần sửa một chút ít theo ý riêng, rồi qua nhiều đời Tổ Sư như thế, Chơn truyền mỗi đời sai lạc thêm một chút ít, sau cùng thì sai lạc hẳn, gọi là thất Chơn truyền.

    • 3).Ba nhà Tôn giáo đã thất Chơn truyền cách nào ?
      • a). Phật giáo (Thích giáo).

        a). Phật giáo (Thích giáo) :

        Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Phật Thích Ca giáng cơ dạy sau đây:

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 22 : “ Chư sơn nghe dạy : Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh pháp đã bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật, buộc mối đạo Thiền. . . . .

        Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. . . . Ôi !Thương thay ! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế, hiếm bậc Thần Thánh Tiên Phật phải đọa trần, Ta đương lo cứu vớt.

        Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Độ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo.

        Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tự như Tả đạo Bàng môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương, mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi đâu mà biết chắc vậy ?

        Ta đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau, đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền.

        Chư tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa.”

        “ Đạo Thích bày dị đoan từ đời Thần Tú, làm mê hoặc chúng sanh. Vậy cũng phổ độ, cũng giựt giành, mà chỉ đem con người vào đường u ám lạc lầm. Kinh sám truyền lại mà không khảo cứu kiếm tầm cho ra Chơn lý, chẳng định trí tham thiền, không gom Thần mà nhập định.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 101)

      • b). Đạo giáo (Lão giáo).

        b). Đạo giáo (Lão giáo) :

        “ Còn Đạo giáo là huyền bí, thậm chí ư huyền bí, nên người bực thượng trí mới thấu đáo chỗ căn nguyên; còn thường nhơn trí hạ là rất khó thông cơ mầu nhiệm vô cùng, bởi vậy mới hiểu lầm tưởng sai, mà bày ra phép tắc, phù chú làm cho mê hoặc thói đời, thêm hủ phong tục, khiến người nhiễm lấy dị đoan, nào là hô phong hoán võ, tróc quỉ trừ ma, bày binh bố trận, mới biến ra Tả đạo Bàng môn, thiệt là rất hại.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 102)

      • c). Nho giáo (Khổng giáo).

        c). Nho giáo (Khổng giáo) :

        “ Nho giáo, sau đời Mạnh Tử, càng ngày càng lạc lầm, đường Thiên lý chẳng cầu, chỗ thâm diệu không rõ,chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích kỷ, chớ không chịu học để sửa mình, tầm hiểu cho tột cùng cái lý cao siêu huyền bí, cái cơ nguồn cội của muôn loài.

        Học là để mở mang tinh thần, trí hóa, đặng trau giồi cho tận thiện tận mỹ cái cơ hữu hình, chớ học mà để cầu vinh hay là mong mỏi đến quyền cao chức cả, ấy là người tiểu nhân hạ trí, không biết cầu lấy cái cao siêu quí trọng nhứt là Thiên chức mà Trời đã nấy trao.

        Con người có 2 phận sự : Thứ nhứt là Thiên chức, thứ nhì là Nhơn tước.

        Thiên chức là cái chức vụ thiên nhiên của Trời phú cho người; còn Nhơn tước là cái tước phẩm phàm trần của người phong cho người.

        Người quân tử bao giờ cũng trau giồi tánh cách cho hoàn toàn, đào luyện tinh thần cho thuần khiết, để lo cho tròn cái Thiên chức ấy. Vả con người, hễ Thiên chức đã hoàn toàn thì Nhơn tước nào lại khó chi. Nhưng người đời lại hay có tánh ham ngọn mà bỏ gốc, nên hằng đem hết Thần hồn mà đắm say về Nhơn tước, chớ không cần nhớ đến cái Thiên chức chút nào.

        Ấy thiệt là đám hủ nho vậy.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 101)

    • 4).Thánh giáo Gia-tô thất Chơn truyền

      4). Thánh giáo Gia-tô thất Chơn truyền :

      Sau đây trích Thánh Ngôn bằng Pháp văn của Đức Chí Tôn, Hội Thánh dịch ra Việt văn :

      Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 130 : “ Chúa Cứu Thế đã đến với các con. Người đã phải chịu đổ máu Thánh để chuộc tội cho loài người. Trong 2000 năm vắng mặt Người, các con đã làm gì hữu ích ? Các con truyền bá đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả. Các con lại làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo. Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông đồ. . . . .

      Giáo lý ấy, đáng lẽ phải đem lại hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại, nó gây chia rẽ và chiến tranh.”

      Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.I.131 : “ Thánh đạo của Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối với người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới.”

      Hội Thánh La Mã chỉ lo củng cố Vương quyền, các hàng giáo phẩm lãnh đạo không thực thi đúng điều Chúa dạy và không hướng dẫn giáo dân đi theo đường lối Chúa muốn, đến nỗi trước nguy cơ chết chóc của con người bởi thảm họa chiến tranh, Đức Mẹ phải hiện ra tại Fatima vào thế chiến thứ nhứt (1914-1918) để ban ra những thông điệp quan trọng và khẩn cấp, nhằm thức tỉnh Hội Thánh La Mã và kêu gọi những tín đồ Thiên Chúa giáo phải thực thi đúng lời Chúa dạy.

      Đức Mẹ phán rằng : “Nếu loài người muốn chấm dứt chiến tranh thì phải ăn chay, hãm mình và lần chuỗi Mân côi.”

      “ Muốn cho được thấy Thiên đàng, thì phải trường chay, tuyệt dục và bố thí.”

      “ Tất cả ai cầm quyền Giáo hội nên trường chay, vì đó là cứu cánh cho nhơn loại, như ngọn đuốc soi đường cho tín đồ. Bởi chưa thực hiện được trường chay, do đó mà nhơn sanh còn khổ, dù có kêu gọi cách nào đi nữa, nhưng thâm tâm họ chưa trong sạch thì ý tưởng đẹp cũng hóa ra dơ bẩn.”

      “ Nếu Đức Giáo Hoàng đương kim là Phaolô IV chỉ thị và chính Ngài ăn chay trường thì thế giới đương nhiên hòa bình. Bởi tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nghe theo Ngài mà trường chay tất cả thì tình thương sẽ lan tràn cả thế giới .”

      Đó là hồng ân của Thiên Chúa ban rải để cứu rỗi loài người qua phép lạ Fatima.

      Nhưng từ đó đến nay, Giáo hội La Mã chẳng sửa sai một điều gì đáng kể. Nếu tình trạng nầy cứ tiếp tục như vậy, rồi đây Giáo hội La Mã sẽ hoàn toàn sụp đổ trước cuối thế kỷ nầy, thể hiện đúng lời tiên tri của Đức Mẹ Fatima. (Viết theo nội dung của Bức thơ Fatima).

      Tóm lại, các nền tôn giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ gồm Tam giáo ở Á Đông và Thiên Chúa giáo ở Âu Châu đều bị thất Chơn truyền sau mấy ngàn năm truyền đạo, và hoàn toàn suy bại trong thời kỳ Mạt pháp nầy.

      Do đó, Đức Chí Tôn Thượng Đế mới mở ra Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để chấn hưng đạo đức và thực hiện cơ qui nguyên phục nhứt Tam giáo và Ngũ Chi Đại Đạo.

  • III. Cách lập Đạo Cao Đài
    • 1). Tại sao 3 nhà tôn giáo đó phải xiêu đổ ?

      1). Tại sao 3 nhà tôn giáo đó phải xiêu đổ ?

      “Đạo lập ra cốt yếu để độ phần hồn của nhơn loại cho thoát khỏi chốn mê đồ, vòng tân khổ, nên mới gieo truyền khắp chỗ, cốt tỉnh ngộ nhơn sanh. Đã biết rằng Đạo là thanh thanh tịnh tịnh, không ứng lộ ra ngoài, nhưng muốn lập giáo, phải làm sao ?

      -Phải bày cơ Hữu Hình để chỉ cho rõ lý mới được.

      Vậy cách lập giáo của Thầy cũng không chi lạ, chỉ noi theo Tam giáo trước mà làm qui củ chuẩn thằng, rồi đem gom về một mối chánh.

      Tam giáo trước là : Nho, Thích, Đạo, vì hoằng khai cũng đã lâu đời, nên bị biến cải mà thành thử phải thất Chơn truyền, làm cho sai lạc mất hết cả Thiên cơ mầu nhiệm, bởi đó mà nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì chẳng có.

      Lại cũng bị thất truyền mà Tam giáo lần lần phải chịu lu lờ mờ mịt. Nẻo chơn không ai đến, đường chánh chẳng người đi, nên cỏ mọc bìm leo, gai rài cây lấp. Vì lẽ đó, nhơn loại phải chịu mãi trong vòng Luân hồi Tứ khổ, đày đọa mãi ở chốn trần ai. Nhơn sanh cũng vì vậy mà lần lần tiêu đạo đức, phế tinh thần, mới chuộng sự hữu hình, nên bày những âm thinh sắc tướng. Không ai còn để chí lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạng thấy tạng nghe, rồi cứ dẫy lòng nhơn dục tham mê, mới gây lắm tội ác nặng nề, phải mang lấy sừng lông mà bị thối hóa lại súc sanh và luân hồi lục đạo.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 101)

      “ Ngày nay, Thầy đến đây, đem 3 nền tôn giáo hiệp nhứt lại, tạo thành một Tòa lớn lao để đời đời kiếp kiếp cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ thảm sầu.

      Ba nhà tôn giáo ấy, tuy đổ sập mặc dầu, nhưng Thầy cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn dùng đặng thì Thầy lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra; như cột, kèo, xuyên, trính, ngói, gạch, cái nào còn nguyên thì dùng, cái nào bể nát hay hư hao, bị mối ăn sâu đục, thì bỏ ra. Cây nào cong vạy thì uốn nó lại, trừ ra uốn không nổi mới bỏ.

      Thầy lấy các vật ấy ráp lại thành một Tòa Đại Đạo cho nhơn sanh sùng bái, tu hành, là Tòa nhà ngày nay Thầy lập thành đó.

      Tại sao 3 nhà tôn giáo đó phải xiêu đổ ? Là tại cái nền tảng không đặng cứng cát, vững vàng, cất ở trên nổng cát, bảo sao gió thổi không xiêu, giông to chẳng đổ.

      Chớ còn ngày nay, Thầy đến lập một Tòa CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO thì trước hết, Thầy đã biểu các con xây nền đắp móng dưới cho chặt chịa vững vàng rồi mới cất Tòa nhà đồ sộ ấy lên, thì sẽ đặng bền vững lâu dài hơn Ba nền tôn giáo trước. “ (Đại Thừa Chơn Giáo. 103)

    • 2). Thầy lập Đạo Cao Đài như thế nào ?

      2). Thầy lập Đạo Cao Đài như thế nào ?

      Thầy thấy cuộc đời biến đổi, thời khí bất hòa, nhơn tâm xu hướng về đường vật chất, bỏ mất tinh thần, nên phạm vào đường tội lỗi, thiệt là đời lầm lũi mãi mà không định hồn tỉnh hối, xúm lấn chen lội lặn tranh giành mùi tục lụy mà thay đổi chí cao minh.

      Ba nền Chánh giáo (Nho, Thích, Đạo) đã nghiêng chinh, nhơn loại thảy chuộng hữu hình, không cần vô vi thâm viễn. Nay đã đến cuộc tuần hoàn giáp mối, nền Đạo Trời vận chuyển mà phổ hóa sanh linh.

      Tam giáo xưa kia lập đạo, lúc ban sơ, truyền bá cơ diệu lý quang minh, bắt từ chỗ VÔ VI khẩu thọ tương truyền, lần lần xuống thì trở ra HỮU HÌNH mà đạo mầu thất chánh, tâm pháp lạc sai. Ấy là Cơ đạo đến thời kỳ cuối cùng của Tam giáo, thất Chơn truyền diệu pháp.

      Còn Đạo Thầy, lại trái hẳn với Tam giáo, là bắt đầu truyền Đạo thì dụng HỮU HÌNH, lấy sắc tướng âm thinh mà độ đời một cách lẹ làng mau chóng.

      Vả lại, Đạo Thầy bắt đầu do chỗ HỮU HÌNH mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ Hữu Hình mà đi đến chỗ VÔ VI, là cơ siêu phàm nhập Thánh.

      Vậy, thà trước dụng cơ Hữu Hình để phổ hóa cho cơ đạo dễ lưu thông, rồi cứ đó mà dắt dẫn cho nó tấn hóa mãi trên đường cao thượng, riết đến chỗ không hư, tức là VÔ VI thì đạo pháp phát minh, cơ diêu lý huệ tâm ứng lộ; thế là Đạo Thầy không hư hoại đặng. Mà không hư hoại đặng là nhờ ở chỗ HỮU HÌNH đi lên riết đến tận VÔ VI.

      Còn Tam giáo xưa, lại từ VÔ VI mà lần lần sa sụt xuống HỮU HÌNH, mới thành Đạo bế, rồi sai lầm ra Ngoại giáo Bàng môn.

      Mà Thầy lập giáo kỳ nầy lại trái hẳn với nền cổ đạo. Thầy chỉ dùng cái huyền cơ bí pháp mà truyền đạo khắp dân gian. Thầy đem Chơn pháp diệu huyền trao cho người luyện thành Chánh giác thì phản bổn hoàn nguyên.

      Thầy dùng huyền diệu cơ bút để hoằng khai cơ quan Vô Vi Đại Đạo. Thầy nhứt định không giao Thánh giáo cho tay phàm nữa, vì trước kia Tam giáo thất Chơn truyền là cũng bởi Thánh giáo ở trong tay phàm, nên các con canh cải làm sái lạc pháp linh.

      Vậy Thiên Thơ Thầy định ngày nay Thầy lập giáo như vầy :

      1. Trên dùng huyền diệu thiêng liêng mà bảo tồn cơ đạo.

      2. Dưới để tự Thầy định mới có thể chuyển hóa nổi nhơn tâm, đủ sức Thần thông vận hành Chơn giáo, chớ nếu Thầy mà mượn xác phàm nặng nề thì làm sao biến hóa thiên hình vạn trạng mà phổ độ chúng sanh cho mau chóng nổi sôi, rần rộ được, chớ dùng huyền cơ bí pháp tất có thể lưu thông nháy mắt khắp mọi nơi.”

      “ Cơ bút là để nắm quyền hành đạo giáo mà phổ hóa chúng sanh, để làm ngọn đuốc quang minh mà dẫn dắt người đời đến chỗ bổn nguyên, là cùng mục đích đó thôi.

      Ấy nghĩa là Thầy dùng Cơ bút mà truyền đạo đức tinh thần và huấn luyện vạn linh cho trở nên hạng người chí đức cao siêu Tiên, Thánh, Phật vậy.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 122 -123 - 124)

      Nước Việt Nam, từ thời lập quốc đến nay, chưa có một nền tôn giáo nào mở ra cho người Việt Nam trên đất nước nầy. Nhưng người Việt Nam có tinh thần thờ kỉnh Trời Phật cùng chư Thần Thánh Tiên và tôn thờ các nền tôn giáo trên thế giới du nhập vào Việt Nam như : Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Công giáo, Tin Lành, . . .

      Để ban thưởng cho dân tộc nhỏ nhoi nầy, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mở ra cho dân tộc Việt Nam một nền Đại Đạo, lấy danh hiệu là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay nói vắn tắt là Đạo Cao Đài, để làm Quốc Đạo. Nhờ nền Đại Đạo nầy, các Đấng Thần Thánh Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng sẽ giáng sanh xuống làm người Việt Nam, hoằng khai mối đạo ra khắp thế giới, tạo ra một nền văn minh mới về tinh thần cho nhơn loại.

      Người Việt Nam nhờ nền Quốc Đạo nầy mà ngày sau sẽ làm chủ tinh thần của nhơn loại đúng theo 2 câu Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn :

      Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc,
      Ngày sau làm chủ mới là kỳ.
    • 3). Đạo Cao Đài sau nầy có thất Chơn truyền không ?

      3). Đạo Cao Đài sau nầy có thất Chơn truyền không ?

      Chúng ta đều biết rằng, mọi vật trong cõi trần nầy đều có tánh cách vô thường. Hễ có sanh ắt có tử, hễ có khai ắt có lúc bế, có hưng thịnh ắt có lúc suy vong.

      Đạo Cao Đài cũng không thể khác hơn các nền tôn giáo khác mà đứng ngoài qui luật : Thành, Trụ, Hoại, Không; do đó, nhứt định sau một thời gian truyền bá nào đó thì Đạo Cao Đài cũng sẽ bị thất Chơn truyền và bế lại.

      Bất cứ nền tôn giáo nào cũng phải trải qua 3 thời kỳ : Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

      Như Phật giáo, thời kỳ Chánh pháp là 500 năm sau khi Đức Phật Thích Ca tịch diệt, thời kỳ Tượng pháp tiếp theo kéo dài được 1000 năm, và sau đó là thời kỳ Mạt pháp.

      Thời kỳ Chánh pháp được dài lâu hay ngắn ngủi là do cách tổ chức lãnh đạo nền tôn giáo.

      Theo Thánh giáo của Đức Chí Tôn, bài thi Tịch Đạo Nam phái có 2 câu đầu :

      Thanh đạo Tam khai thất ức niên,
      Thọ như Địa quyển, thạnh hòa Thiên.

      Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn lập ra sẽ kéo dài được 700 ngàn năm (thất ức niên) thì mới thất Chơn truyền. Nhiều người ngạc nhiên và không tin tưởng, cho rằng con số 700 ngàn năm là quá đáng ! Những người có đức tin và có nghiên cứu kỹ Giáo lý của Đạo Cao Đài thì khác hẳn, vì 4 lý do kể ra sau đây :

      1. Đây là mối đạo Trời (Thiên đạo) do Ông Trời lập ra thì đương nhiên phải khác hơn các nền tôn giáo trước đây do các Đấng Phật, Tiên, Thánh, giáng phàm lập ra.

      2. Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài bằng huyền diệu cơ bút, chớ không đầu thai xuống cõi trần như các vị Giáo chủ khác, điều đó có nghĩa là Đức Chí Tôn không giao Chánh giáo cho tay phàm để càng ngày càng xa Thánh giáo mà biến ra Phàm giáo. Chính mình Đức Chí Tôn đến kỳ nầy làm vị Giáo chủ thiêng liêng để độ rỗi con cái của Ngài là nhơn loại trong buổi đời Hạ Nguơn Mạt kiếp.

      3. Đức Chí Tôn lập Đạo bắt đầu từ chỗ Hữu Hình sắc tướng mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ Hữu Hình mà đi đến chỗ Vô Vi, là cơ siêu phàm nhập Thánh. Thế là Đạo của Đức Chí Tôn không hư hoại đặng, mà không hư hoại là nhờ từ chỗ Hữu Hình đi riết lên đến tận Vô Vi.

      4. Tại sao Tam giáo bị xiêu đổ ? Là tại cái nền tảng không vững chắc. Còn nay, Đức Chí Tôn đến biểu làm cái nền móng cho vững vàng rồi mới xây Tòa nhà Đại Đạo, lại xây thành đắp lũy chung quanh, thì Tòa nhà ấy phải đặng vững vàng đặng thất ức niên dư, rồi Tòa Nhà Đại Đạo ấy mới bị xiêu đổ, và bị thất Chơn truyền như các tôn giáo khác.

    • 4). Đoạn kết.

      4). Đoạn kết.

      Nho Thích Đạo Tam tông chưởng đạo,
      Đoạt Thiên cơ lấy giáo trần ai.
      Dùng phương cơ nhiệm hoằng khai,
      Lâu năm tâm pháp đổi thay thất truyền.
      Pháp Như Lai cửa Thiền chế cải,
      Dùng hữu hình cho sái Phật tông,
      Thinh âm sắc tướng tràn đồng,
      Làm cho xa mất chữ KHÔNG đâu rồi !
      Đạo Tiên giáo phục hồi tánh mạng,
      Chế Ngũ Hành tỏ rạng Tam Nguơn.
      Tâm thanh tịnh, luyện linh đơn,
      Lưu hành Thiên lý, phục huờn nhơn tâm.
      Đạo thâm viễn người tầm chẳng thấu,
      Nên càng ngày ẩn giấu nơi trong.
      Về sau hậu học bất thông,
      Đem ra họa vẽ cua còng lôi thôi !
      Nền Khổng giáo buông trôi ngàn dặm,
      Chúng hậu nho chác lắm điều hư.
      Ôm gìn Hạ học khư khư,
      Chuộng phần thi cử, lợi tư cho mình.
      Nên Tam giáo phát minh một lúc,
      Truyền tinh thần un đúc quốc dân.
      Đời sau ưa thích chuyện gần,
      Lưu thông sắp xuống lần lần thất danh.
      Nay Chí Tôn lập thành Đại Đạo,
      Hiệu CAO ĐÀI phục đáo linh căn.
      Trời hôm nhờ ngọn huệ đăng,
      Dắt dìu sanh chúng tầm phăng mối giềng.
      (Đại Thừa Chơn Giáo. 98)
  • IV. Giáo lý của Đạo Cao Đài

    Những điểm chánh trong Giáo lý của Đạo Cao Đài lược kể ra sau đây :

    • 1. Năm nấc thang tiến hóa

      1. Năm nấc thang tiến hóa

      Đạo Cao Đài mở ra một con đường Tiến hóa chia làm 5 chặng tiến hóa hay 5 nấc thang tiến hóa cho chúng sanh đắc đạo tùy theo công đức tu hành được nhiều hay ít. 5 nấc thang tiến hóa ấy là 5 phẩm bực từ thấp lên cao là :

      - Nhơn
      - Thần
      - Thánh
      - Tiên
      - Phật.

      Do 5 nấc thang tiến hóa nầy mà Đạo Cao Đài dung hợp được tất cả các nền tôn giáo đã có từ trước đến nay như : Bà-La-Môn giáo hay Ấn Độ giáo), Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Do Thái giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Thần đạo Trung Hoa và Nhựt Bổn.

    • 2. Thể Pháp và Bí Pháp

      2. Thể Pháp và Bí Pháp

      Đạo Cao Đài có đầy đủ Thể Pháp và Bí Pháp.

      - Thể Pháp dùng để độ về phần xác với tôn chỉ : Phụng sự chúng sanh tức là Phụng sự Vạn linh.

      - Bí Pháp dùng để độ phần hồn với tôn chỉ : Tận độ nhơn sanh.

      Thể Pháp là pháp luật hữu hình, là định luật định tướng định hình để dẫn dắt đời sống của nhơn loại vào nẻo thanh cao và hạnh phúc.

      Bí Pháp là pháp luật bí ẩn, là định luật vô hình chi phối sự tiến hóa của các chơn linh trong Càn khôn Vũ trụ.

      Bất cứ một nền tôn giáo nào cũng đều phải có 2 mặt : Thể pháp và Bí pháp. Trong trường hợp nầy, Thể pháp và Bí pháp được định nghĩa như sau :

      Thể pháp là tất cả những giáo lý, luật pháp, dạy dỗ và dẫn dắt nhơn sanh đi theo con đường đạo đức. Đó là những luật hữu hình ràng buộc đời sống của tín đồ vào trọn trong khuôn viên đạo đức để được sống hòa bình, thanh cao và hạnh phúc. Như thế, Thể pháp chính là cơ quan giải khổ cho chúng sanh.

      Bí pháp là các phương thức luyện đạo, mà mục đích cuối cùng là đắc đạo, đạt được phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng, thoát vòng luân hồi đau khổ, sống an nhàn tự tại miên viễn nơi cõi Cực Lạc Niết Bàn. Như thế, Bí pháp chính là cơ quan giải thoát chúng sanh khỏi luân hồi.

      Những phương pháp luyện đạo trong Bí pháp hoàn toàn không được phổ biến ra ngoài, mà chỉ được bí truyền cho những đệ tử đã được chọn lọc kỹ lưỡng có đầy đủ hạnh đức. Các phương pháp ấy được truyền trực tiếp từ Thầy sang trò bằng lời nói riêng tư, nên gọi là Bí pháp khẩu thọ tâm truyền, hay Tâm pháp bí truyền.

      Do đó, Thể pháp và Bí pháp của Đạo Cao Đài cũng rất đặc biệt, vì nó hoàn toàn mới mẻ so với tất cả các nền tôn giáo cổ, nhưng rất phù hạp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh hiện nay, lại thể hiện được thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn để tận độ nhơn sanh.

      • a). Thể pháp của Đạo Cao Đài.

        a). Thể pháp của Đạo Cao Đài.

        Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo chỉ rõ rằng : Thể pháp của Đạo Cao Đài nói gọn trong 4 chữ : PHỤNG SỰ VẠN LINH.

        Vạn linh là tất cả các chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, gồm đủ Bát Hồn :

        . Vật chất hồn,
        . Thảo mộc hồn,
        . Thú cầm hồn,
        . Nhơn hồn,
        . Thần hồn,
        . Thánh hồn,
        . Tiên hồn,
        . Phật hồn.

        Vạn linh đầu kiếp xuống cõi trần là chúng sanh. Vậy, Phụng Sự Vạn Linh tức là PHỤNG SỰ CHÚNG SANH.

        Danh từ tuy không mới mẻ nhưng ý tưởng lại rất tiến bộ tân kỳ, vì từ xưa tới nay, người tu bao giờ cũng lo cho chính mình để mình được thành Tiên Phật, mà chơn lý của Đạo Cao Đài hiện nay là : Lo cho người tức lo cho ta; giúp người tiến hóa tức là giúp ta tiến hóa.

        Do đó, đối với các tín đồ Cao Đài, Đức Chí Tôn bảo : Hãy hoàn toàn quên mình để phụng sự vạn linh.

        Phụng sự vạn linh là một quan niệm sống rất cao cả, thỏa mãn đầy đủ 3 mục đích sống của 3 hạng người tiêu biểu của nhơn loại :

        - Hạng mang quả kiếp nặng nề nên phải đầu kiếp trở lại cõi trần để trả quả.

        - Hạng muốn học hỏi thêm để tiến hóa thêm nữa.

        - Hạng muốn lập công đức để cho phẩm vị của mình thêm cao trọng nơi cõi thiêng liêng.

        Chúng ta không thể tự biết rõ mình thuộc hạng nào trong 3 hạng vừa kể trên, cho nên cứ lấy việc Phụng Sự Vạn linh làm mục đích cuộc sống, thì mình sẽ được :

        * Chúng ta không biết mình bị quả kiếp nơi nào, người nào, nhưng nhờ Phụng sự vạn linh, và nhờ hồng ân của Đức Chí Tôn, cho ta gặp được những người đó để chúng ta trả hết các quả kiếp tiền khiên.

        * Chúng ta học hỏi để biết được bộ máy huyền vi mầu nhiệm của Tạo Hóa, chúng ta nhờ Phụng sự vạn linh và do việc Phụng sự ấy mà nó chỉ cho ta những điều mà ta muốn học hỏi, cũng như nhờ đó mà ta sẽ khám phá được những điều mà ta muốn biết.

        * Chúng ta muốn cho phẩm vị của chúng ta nơi cõi thiêng liêng được thăng lên cao nữa thì chúng ta càng phải Phụng sự vạn linh nơi cõi trần nầy, dẫn dắt chúng sanh vào đường đạo đức, thì cái công quả to lớn đó mới giúp phẩm vị ta thêm cao trọng.

        Lại nữa, việc Phụng sự vạn linh là phương thức hiệu quả nhứt để mỗi chúng ta trả 3 món nợ mà bất cứ ai đã mang xác thịt nơi cõi trần nầy đều mắc phải.

        Ba món nợ đó là :

        - Món nợ đối với cha mẹ phàm trần : Cha mẹ sanh ta ra, nuôi nấng dạy dỗ cho khôn lớn, công khó nhọc biết bao nhiêu mà kể.

        - Món nợ đối với 2 Đấng Cha Mẹ thiêng liêng là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu đã sanh ra Chơn linh và Chơn thần của ta.

        - Món nợ đối với xã hội, đã cung cấp cho ta những vật thực và những tiện nghi của cuộc sống, và món nợ quốc gia, đã bảo vệ của chúng ta được an lành.

        Muốn trả dứt 3 món nợ nầy thì chỉ có cách là Phụng sự vạn linh, Phụng sự một cách triệt để và chí thành. Nếu được như vậy thì khi chúng ta thoát xác, cõi Thiêng liêng Hằng sống sẽ mở rộng cửa rước chúng ta trở về, vì không ai còn níu lưng đòi nợ chúng ta hết. Chúng ta đã phụng sự vạn linh tức là chúng ta đã trả dứt nợ.

        Muốn phụng sự vạn linh đạt được hiệu quả tối đa và hoàn toàn tốt đẹp thì phải có phương pháp và tổ chức khoa học. Do đó, Đức Chí Tôn lập ra cho chúng ta một cơ quan phụng sự vạn linh là nền Đại Đạo Cao Đài với hình thể gồm 3 Đài : Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Bát Quái Đài.

        - Cửu Trùng Đài : lo việc phổ độ và giáo hóa nhơn sanh, giúp nhơn sanh giác ngộ, cải ác tùng lương, dẫn dắt nhơn sanh vào đường đạo đức.

        - Hiệp Thiên Đài : lo gìn giữ luật pháp Chơn truyền Đại Đạo, không cho ai sửa cải.

        - Bát Quái Đài : chỉ huy 2 Đài trên để điều động toàn thể cơ quan phụng sự vạn linh cho được hiệu quả.

        Bên cạnh Cửu Trùng Đài còn có Cơ Quan Phước Thiện để cứu khổ và giải khổ cho nhơn sanh.

        Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật, Đạo Nghị Định, là những cái hàng rào dựng lên dọc theo con đường Phụng sự, và Giáo lý Đại Đạo là người dẫn đường cho mỗi người chúng ta đi trọn vẹn trong con đường đó, đúng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn.

        Việc phụng sự vạn linh và đánh giá kết quả việc phụng sự đó, Đức Chí Tôn gọi là một Trường Thi Công Quả.

        “ Vì vậy mà Thầy hằng nói cùng các con rằng : Một Trường thi Công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc Thế giới thì phải đi tại cửa nầy mà thôi.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 34)

        Tất cả những hình thức tổ chức trên : Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, Bát Quái Đài và Cơ Quan Phước Thiện đều được gọi chung là Thể pháp của Đạo Cao Đài trong mục tiêu quan trọng nhứt là Phụng sự vạn linh.

      • b). Bí pháp của Đạo Cao Đài.

        b). Bí pháp của Đạo Cao Đài.

        “ Đạo Cao Đài có đủ quyền năng hiển hách anh linh của nó, không có một nền tôn giáo nào tại thế nầy khả dĩ đối thủ được cả thảy, tức nhiên Bí pháp của Đạo Cao Đài, giờ phút nầy không có kẻ nào dám cả gan nói Bí pháp ấy do tay phàm hay do một vị Giáo chủ mang xác phàm cầm nó, mà chính trong tay Đức Chí Tôn là Đấng tạo Càn Khôn Vũ Trụ và Chúa vạn vật, cầm Bí pháp trong tay đặng độ rỗi phần hồn nhơn loại. “ (Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

        Bí pháp thì bí mật, nhưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đức Chí Tôn ban cho ân huệ là Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn không giấu giếm Bí pháp nữa, mà Đức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành. Và Đức Chí Tôn nhấn mạnh :” Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.”

        Bí pháp đó là :Đức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần) của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn lấy đó làm phương tiện để phụng sự vạn linh.

        Tại sao gọi đó là Bí pháp của Đạo Cao Đài ?

        Vì chính đó là cơ quan giải thoát chúng ta khỏi luân hồi để trở về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn, tức là đắc đạo vậy.

        Đức Phạm Hộ Pháp giải thích như sau :

        “ Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Đền Thánh kêu Đức Chí Tôn, kêu Tam giáo và các Đấng thiêng liêng mà phân chứng trước : Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến dâng cho Đức Chí Tôn, để làm tôi tớ cho vạn linh thay thế cho Đức Chí Tôn.

        Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội, mà chúng ta không làm điều gì thêm tội nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thể gì định tội được.

        Đức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy cũng không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát.”

        Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Đức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam Bửu Tinh Khí Thần, tượng trưng bằng Bông Rượu Trà, tức là dâng Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của chúng ta lên cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Đức Chí Tôn sai khiến định liệu. Chúng ta không còn gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Đức Chí Tôn giao phó.

        Bí pháp nầy, Đức Chí Tôn để hiển hiện trước mắt nhơn sanh, mà ít ai để ý suy nghĩ.

        Nhưng việc thực hiện Bí pháp nầy một cách trọn vẹn thì cũng rất khó khăn, nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Đâu có gì dễ đâu ! Nhưng cũng không phải là quá khó khăn để chúng ta không thể thực hiện được. Nếu chúng ta có một đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn, và có một tấm lòng hy sinh quên mình, thì mọi việc đều trở nên dễ dàng.

        Như thế, cái tấm thân của ta đây, cả chơn thần và linh hồn nữa, ta đều giao hết cho Đức Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay của vợ con ta.

        Như vậy cái TA (tức là cái NGÃ) không còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Đây là cách PHÁ CHẤP vô cùng hiệu quả hơn tất cả các phương pháp khác.

        Sự dâng hiến nầy, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Đức Chí Tôn, mà không cần phải làm thêm một điều chi khác nữa.

        Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy rằng : “ Trong các con, có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết , nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều là phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 101)

        Nhưng trong kỳ Đại Ân Xá nầy, đối với nhơn sanh trong thời Hạ Nguơn Mạt kiếp, và cũng do sự mơ ước của nhơn sanh nên Đức Chí Tôn cũng mở ra một con đường tu luyện gọi là con đường thứ 3 của Đại Đạo, bằng cách trao Bí pháp Luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để Ngài truyền lại cho những người nào có đủ Tam Lập (Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn) trong việc phụng sự chúng sanh. Bí pháp luyện đạo được thực hành trong Tịnh Thất mà Đức Phạm Hộ Pháp đã cho xây dựng 3 Tịnh Thất là : Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung và Vạn Pháp Cung.

        Bí pháp nầy dạy luyện Tam Bủu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tức là : Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hiệp Thần, Luyện Thần huờn Hư . Lúc đó thì Tam Huê tụ đảnh, Ngũ Khí triều nguơn, tạo thành Thánh Thai, đắc đạo thành Tiên Phật tại thế.

        Tóm lại, Bí pháp của Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ. Đức Chí Tôn mở Bí pháp theo 2 con đường tu :

        * Con đường chánh yếu là Dâng Tam Bửu cho Đức Chí Tôn để Đức Chí Tôn dùng làm phương tiện phụng sự vạn linh. Con đường nầy là lập công trong Cửu Trùng Đài hay Cơ Quan Phước Thiện.

        Chỉ cần làm trọn vẹn bao nhiêu đó trong suốt kiếp sanh gặp Đạo thì đủ để thoát khỏi luân hồi, được Đức Chí Tôn rước về hội hiệp cùng Ngài.

        * Con đường tu luyện : Đức Chí Tôn trao Bí pháp luyện đạo cho Đức Phạm Hộ Pháp để truyền lại cho những vị nào đã thực hành đủ Tam Lập, luyện Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo tại thế.

        Những môn đệ muốn đủ Tam Lập thì phải trải qua một thời gian phụng sự vạn linh tức là phải làm công quả phổ độ nhơn sanh.

        Đạo Cao Đài, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn cấm hẳn lối tu “độc thiện kỳ thân”, một lối tu ích kỷ, chỉ biết có mình và chỉ riêng lo cho mình.

    • 3). Cách thờ phượng

      3). Cách thờ phượng

      Đạo Cao Đài thờ 2 Đấng tối cao tạo dựng ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Đó là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, tức là 2 Ngôi : Ngôi Dương và Ngôi Âm.

      * Ngôi Dương là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, ngày nay tá danh là Cao Đài. Ngài là chủ tể Dương Quang. (Xem Vũ trụ quan : Thượng Đế).

      * Ngôi Âm là Diêu Trì Kim Mẫu, hay Cửu Thiên Huyền Nữ, thường gọi là Đức Phật Mẫu, chủ tể Âm Quang.

      Đền Thờ Đức Chí Tôn ở trung ương là Tòa Thánh Tây Ninh, xây cất theo kiểu vở của Thiên đình, lấy theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh nơi cõi thiêng liêng, nên Tòa Thánh Tây Ninh được xem là Bạch Ngọc Kinh tại thế. Ở các địa phương, Đền thờ Đức Chí Tôn được gọi là Thánh Thất.

      Đền thờ Đức Phật Mẫu thì gọi là Điện Thờ Phật Mẫu, hiện nay ở Trung ương được tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nôi Ô Tòa Thánh. Điện Thờ Phật Mẫu Trung ương sẽ được xây dựng tại khu đất 4 mẫu dành sẵn, cách Tòa Thánh khoảng 1000 thước về hướng bắc, trên đường đi đến núi Bà.

    • 4). Đại Ân Xá.

      4). Đại Ân Xá.

      Lần khai đạo kỳ 3 nầy, Đức Chí Tôn mở ra một cuộc Đại Ân Xá cho toàn cả chúng sanh trong Càn Khôn Vũ Trụ, nếu biết ngộ kiếp một đời tu thì đủ đắc đạo, trở về cùng Đức Chí Tôn.

      Trong chiều hướng đó, Đức Chí Tôn ra lịnh đóng cửa Địa Ngục, không cho đày đọa hành hạ các tội hồn. Các chơn hồn làm điều tội lỗi trong kiếp sanh, được đưa đến cõi Âm Quang học đạo, sau đó cho tái kiếp trở lại cõi trần để trả xong nghiệp quả, cho kịp dự kỳ thi chung kết Hội Long Hoa.

      Đức Chí Tôn cũng ra lịnh mở cửa các Từng Trời để rước người phước đức đắc đạo trở về.

      Vô Địa ngục, vô quỉ quan,
      Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.
      (Phật Mẫu Chơn Kinh)

      Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
      Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.
      (Kinh Giải Oan)
    • 5). Nho Tông Chuyển Thế.

      5). Nho Tông Chuyển Thế.

      Đối với mặt xã hội, tức là về mặt Đời, Đức Chí Tôn chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, nghĩa là dùng tinh hoa của giáo lý Nho giáo để giáo hóa người đời, làm cho cảnh đời bạo ngược, vô luân, chuyển hóa trở nên thuần lương đạo đức.

      Tại sao Đức Chí Tôn không dùng Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo làm căn bản chuyển thế ? Mà phải dùng Nho giáo?

      Bởi vì không có học thuyết nào dạy Nhơn Đạo kỹ bằng Nho giáo. Mà muốn cải tạo xã hội thì phải dạy về Nhơn Đạo, chớ không dạy Thánh đạo, Tiên đạo hay Phật đạo.

      Nhưng Đức Chí Tôn chỉ lấy những tinh hoa then chốt của Nho giáo làm căn bản cho việc giáo dục, chớ không lấy toàn bộ Giáo lý Nho giáo, bởi vì toàn cả giáo lý Nho giáo có nhiều điểm không còn thích hợp với thời đại tiến bộ hiện nay.

      Những phần tinh hoa của Nho giáo được áp dụng, có thể kể ra sau đây :

      - Về phần chung : Thiên Địa Vạn vật đồng nhứt thể.

      - Nhơn nghĩa.
      - Trung Dung.

      - Về phần riêng : Nam thì Tam Cang, Ngũ Thường. Nữ thì Tam Tùng, Tứ Đức.

      Phương pháp thực hành chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, trước tiên gồm 3 điểm :

      - Trọng Nhơn luân : Nêu cao phẩm giá và đạo đức con người.
      - Sùng Nhơn Nghĩa : Tôn trọng điều Nhơn và điều Nghĩa.
      - Hưng Lễ Nhạc : Phục hưng tinh thần của Lễ và Nhạc là Kính và Hòa.
  • V. Tổ chức Giáo Hội Đạo Cao Đài :
    • A. Hình Thể.

      A. Hình Thể.

      Về Hình thể, Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài gồm 3 Đài :

      • 1). Bát Quái Đài.

        1). Bát Quái Đài.

        1). Bát Quái Đài : thuộc phần vô hình, do Đức Chí Tôn chưởng quản, gồm : Các Đấng Giáo chủ Tam giáo và Ngũ Chi, Tam Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Tam giáo thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cùng chư Thần Thánh Tiên Phật. Đài nầy có nhiệm vụ điều khiển tất cả các hoạt động của Đạo Cao Đài qua sự thông công bằng cơ bút nơi Hiệp Thiên Đài.

      • 2). Hiệp Thiên Đài.

        2). Hiệp Thiên Đài.

        2). Hiệp Thiên Đài : là cơ quan bán hữu hình, do Đức Hộ Pháp chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 nhiệm vụ :

        - Nhiệm vụ thiêng liêng là cơ quan Cơ Bút làm trung gian thông công giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài.

        - Nhiệm vụ phàm trần là bảo hộ Luật pháp Chơn truyền của Đạo. Trong trường hợp nầy, Hiệp Thiên Đài giống như Tối Cao Pháp Viện và Bộ Pháp Chánh giống như Bộ Tư Pháp của chánh quyền Đời.

        Hiệp Thiên Đài có 3 Chi : Pháp, Đạo và Thế.

        -Chi Pháp do Đức Hộ Pháp chưởng quản.
        -Chi Đạo do Đức Thượng Phẩm chưởng quản.
        -Chi Thế do Đức Thượng Sanh chưởng quản.

        Dưới Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh là Thập nhị Thời Quân (12 vị Thời Quân), chia ra mỗi Chi 4 vị, như Chi Pháp có 4 vị Thời Quân là : Tiếp Pháp, Khai Pháp, Hiến Pháp và Bảo Pháp.

        Hệ Thống Chức sắc Hiệp Thiên Đài

        THƯỢNG PHẨM HỘ PHÁP THƯỢNG SANH
        Chi Đạo Chi Pháp Chi Thế
        BẢO ĐẠO BẢO PHÁP BẢO THẾ
        HIẾN ĐẠO HIẾN PHÁP HIẾN THẾ
        KHAI ĐẠO KHAI PHÁP KHAI THẾ
        TIẾP ĐẠO TIẾP PHÁP TIẾP THẾ


        Thánh-Thất C.Q.P.T. Bộ Pháp Chánh Ban Thế Đạo
        1.Trí 1.Phật Tử
        Huệ 2. Tiên Tử
        Cung 3. Thánh Nhơn 1. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn 1. Phu Tử
        2.Trí 4. Hiền Nhơn 2. Chưởng Ấn
        Giác 5. Chơn Nhơn 3. Cải Trạng 2. Đại Phu
        Cung 6. Đạo Nhơn 4. Giám Đạo
        3.Vạn 7. Chí Thiện 5. Thừa Sử 3. Quốc sĩ
        Pháp 6. Truyền Trạng
        Cung 8. Giáo Thiện 7. Sĩ Tải 4. Hiền Tài
        9. Hành Thiện 8. Luật Sự.
        10. Thính Thiện
        11. Tân Dân
        12. Minh Đức

        Trực thuộc Hiệp Thiên Đài, Đức Phạm Hộ Pháp có lập ra 4 cơ quan : 2 cơ quan trực thuộc Chi Đạo là Cơ Quan Phước Thiện và Tịnh Thất, 1 cơ quan trực thuộc Chi Pháp là Bộ Pháp Chánh, và 1 cơ quan trực thuộc Chi Thế là Ban Thế Đạo.

        - Cơ Quan Phước Thiện : để cứu khổ chúng sanh, và cũng mở ra một con đường tu theo Thập nhị Đẳng cấp thiêng liêng cho chúng sanh lập công lập đức mà đắc đạo, cho nên Cơ Quan Phước Thiện có 12 phẩm cấp Chức sắc từ Minh đức đến Phật Tử.

        - Cơ quan Tịnh Thất : gồm 3 Cung 3 Động là : Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động, Trí Giác Cung Địa Linh Động, Vạn Pháp Cung Nhơn Hòa Động, dành cho những người có đủ Tam Lập vào đó có Minh sư truyền Tâm pháp luyện đạo.

        - Bộ Pháp Chánh : gồm 8 phẩm Chức sắc từ phẩm Luật Sự đến phẩm cao nhất là Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, để giúp cho chư vị Thời Quân thi hành quyền Tư Pháp của Hiệp Thiên Đài.

        - Ban Thế Đạo : gồm 4 phẩm Chức sắc từ Hiền Tài lên phẩm Phu Tử, dành cho những người trí thức và quan lại của quyền Đời có chỗ lập công với Đạo, chuẩn bị cho bước đường xả thân hành đạo sau nầy.

      • 3). Cửu Trùng Đài.

        3). Cửu Trùng Đài.

        Cửu Trùng Đài là cơ quan Phổ Độ và Giáo Hóa nhơn sanh vào cửa Đạo tu hành.

        Cửu Trùng Đài có 9 phẩm Chức sắc, dưới quyền của Đức Giáo Tông chưởng quản. 9 phẩm Chức sắc nầy đối phẩm với Cửu phẩm Thần Tiên nơi Bát Quái Đài :

        1. Giáo Tông đối phẩm với Thiên Tiên (Phật vị).
        2. Chưởng Pháp đối phẩm với Nhơn Tiên.
        3. Đầu Sư đối phẩm với Địa Tiên.
        4. Chánh Phối Sư và Phối Sư đối phẩm Thiên Thánh.
        5. Giáo Sư đối phẩm với Nhơn Thánh.
        6. Giáo Hữu đối phẩm với Địa Thánh.
        7. Lễ Sanh đối phẩm với Thiên Thần.
        8. Ban Trị Sự đối phẩm với Nhơn Thần.
        9. Đạo Hữu đối phẩm với Địa Thần.

        Cửu Trùng Đài lại phân ra làm 2 phái : Phái Nam và Phái Nữ. Chức sắc mỗi phái có quyền hành riêng biệt, chỉ điều hành bên phái của mình mà thôi.

        Chức sắc Nữ phái chỉ được lên phẩm cao nhứt là Nữ Đầu Sư. Pháp Chánh Truyền không cho Nữ phái lên phẩm Chưởng Pháp và Giáo Tông. Đạo phục của Chức sắc Nữ phái hoàn toàn màu trắng.

        Chức sắc bên Nam phái dưới phẩm Giáo Tông được chia làm 3 nhóm, cũng gọi là 3 phái : Thái, Thượng, Ngọc, có Đạo phục màu sắc khác nhau, rất dễ phân biệt.

        Chức sắc phái Thái mặc Đạo phục màu vàng.
        Chức sắc phái Thượng mặc Đạo phục màu xanh dương
        Chức sắc phái Ngọc mặc Đạo phục màu đỏ.

        Tổ chức HÀNH CHÁNH ĐẠO của Cửu Trùng Đài bên Nam phái và Nữ phái đều có lập ra 9 Viện, gọi là Cửu Viện, dưới quyền điều khiển trực tiếp của các vị Chánh Phối Sư, kể ra :

        Thái Chánh Phối Sư cai quản 3 Viện : Hộ, Lương, Công.
        Thượng Chánh Phối Sư cai quản 3 Viện : Học, Y, Nông.
        Ngọc Chánh Phối Sư cai quản 3 Viện : Hòa, Lại, Lễ.

        Hành Chánh Đạo Cửu Trùng Đài Nữ phái cũng có 9 Viện y như Nam phái, nhưng Nữ phái chỉ có một vị Nữ Chánh Phối Sư, nên vị nầy cai quản tất cả 9 Viện Nữ phái. Đó là Tổ chức Hành Chánh Đạo Cửu Trùng Đài ở Trung ương.

        Hệ thống Chức sắc Cửu Trùng Đài

        (không có) Ngọc Chưởng Pháp Thượng Chưởng Pháp Thái Chưởng Pháp
        Nữ Đầu Sư Ngọc Đầu Sư Thượng Đầu Sư Thái Đầu Sư
        Nữ Chánh Phối Sư Ngọc Chánh Phối Sư Thượng Chánh Phối Sư Thái Chánh Phối Sư
        Nữ Phối Sư Ngọc Phối Sư Thượng Phối Sư Thái Phối Sư
        (khg g.hạn) 11 vị 11 vị 11 vị
        Nữ Giáo Sư Ngọc Giáo Sư Thượng Giáo Sư Thái Giáo Sư
        khg g.hạn) 24 vị 24 vị 24 vị
        Nữ Giáo Hữu Ngọc Giáo Hữu Thượng Giáo Hữu Thái Giáo Hữu
        (khg g.hạn) 1000 vị 1000 vị 1000 vị
        Nữ Lễ Sanh Ngọc Lễ Sanh Thượng Lễ Sanh Thái Lễ Sanh
        (khg g.hạn) (khg g.hạn) (khg g.hạn) (khg g.hạn)

        Ban Trị Sự
        Nữ Chánh Trị Sự Chánh Trị Sự
        Nữ Phó Trị Sự Phó Trị Sự
        Nữ Thông Sự Thông Sự
        NỮ ĐẠO HỮU NAM ĐẠO HỮU

        Hệ thống Hành Chánh Đạo Cửu Trùng Đài

        Giáo Tông
        Hệ thống Chức sắc Cửu Trùng Đài
        Ngọc Chưởng Pháp Thượng Chưởng Pháp Thái Chưởng Pháp
        Nữ Đầu Sư Ngọc Đầu Sư Thượng Đầu Sư Thái Đầu Sư
        Nữ Chánh Phối Sư Ngọc Chánh Phối Sư Thượng Chánh Phối Sư Thái Chánh Phối Sư

        Cửu Viện Nữ phái Cửu Viện Nam phái
        Hòa Lại Lễ Học Y Nông Hộ Lương Công Hòa Lại Lễ Học Y Nông Hộ Lương Công
        TRẤN ĐẠO TRẤN ĐẠO
        Nữ Giáo Sư Giáo Sư
        Nữ Khâm Trấn Đạo Khâm Trấn Đạo
        CHÂU ĐẠO CHÂU ĐẠO
        Nữ Giáo Hữu Giáo Hữu
        Nữ Khâm Châu Đạo Khâm Châu Đạo
        TỘC ĐẠO TỘC ĐẠO
        Nữ Lễ Sanh Lễ Sanh
        Nữ Đầu Tộc Đạo Đầu Tộc Đạo
        HƯƠNG ĐẠO HƯƠNG ĐẠO
        Nữ Chánh Trị Sự Chánh Trị Sự
        Nữ Đầu Hương Đạo Đầu Hương Đạo
        ẤP ĐẠO ẤP ĐẠO
        Nữ Phó Trị Sự Phó Trị Sự
        Nữ Thông Sự Thông Sự
        Nữ Đạo hữu Nam Đạo hữu

        Hành Chánh Đạo ở cấp địa phương gồm :

        - Trấn Đạo, gồm nhiều Châu Đạo, do vị Giáo Sư làm Khâm Trấn Đạo.
        - Châu Đạo, gồm nhiều Tộc Đạo, do vị Giáo Hữu làm Khâm Châu Đạo.
        - Tộc Đạo, gồm nhiều Hương Đạo, do vị Lễ Sanh làm Đầu Tộc Đạo.
        - Hương Đạo gồm nhiều Ấp Đạo, do vị Chánh Trị Sự làm Đầu Hương Đạo.
        - Ấp Đạo, gồm các tín đồ ở trong một Ấp, do 2 vị Phó Trị Sự và Thông Sự làm đầu.

        Bên Hành Chánh Đạo Nữ phái cũng tổ chức các cấp y như bên Nam phái, nhưng chỉ điều hành bên Nữ phái mà thôi.

        Cửu Trùng Đài có lập thêm 2 cơ quan : Cơ quan Phổ Tế và Hội Thánh Ngoại Giáo.

        - Cơ Quan Phổ Tế có nhiệm vụ giúp đỡ những người thuộc tôn giáo khác hay các Chi phái nhập về Đạo Cao Đài.

        - Hội Thánh Ngoại Giáo có nhiệm vụ phổ độ người ngoại quốc, dưới quyền điều khiển trực tiếp qua Cơ bút của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo).

    • B.Luật Pháp.

      B.Luật Pháp.

      Về phương diện Luật pháp, cũng chia ra 3 quyền : Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp.

      • 1). Lập pháp.

        1). Lập pháp.

        Quyền Lập pháp là của Ba Hội Lập Quyền Vạn Linh gồm :

        Hội Nhơn Sanh,
        Hội Thánh,
        Thượng Hội.

        Ba Hội nầy chỉ lập Luật để tu hành chớ không phải lập Luật để trị Đời.

        a. Hội Nhơn Sanh : Thành phần của Hội Nhơn Sanh :

        - Các Phái viên Nam Nữ : Đại diện cho các tín đồ Nam Nữ , do toàn thể các tín đồ bầu ra.
        - Các Nghị viên Nam Nữ : Đại diện cho các Chức việc Ban Trị Sự, do các Chức việc trong mỗi Tộc Đạo bầu ra.
        - Các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo.

        Hội Nhơn Sanh của Đạo Cao Đài giống như Hạ Nghị Viện của chánh quyền Đời.

        b. Hội Thánh : Gồm tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái và Nữ phái, từ phẩm Giáo Hữu đến phẩm Phối Sư và Chánh Phối Sư.

        Trong trường hợp nầy, Hội Thánh giống như Thượng Nghị Viện của chánh quyền Đời.

        c. Thượng Hội : gồm 11 Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, kể ra :

        Bên Cửu Trùng Đài có: Bên Hiệp Thiên Đài có:
        Đức Giáo Tông Đức Hộ Pháp
        3 vị Chưởng Pháp Thượng Phẩm
        3 vị Đầu Sư Nam Thượng Sanh.
        1 vị Nữ Đầu Sư.

        Hội Nhơn Sanh lập Luật, quyết nghị xong thì dâng lên Hội Thánh. Hội Thánh có tánh cách dung hòa, kềm chế bớt những ý nguyện quá bồng bột và dục tấn của nhơn sanh, để Luật pháp đưa ra vừa sức thực hành của nhơn sanh. Sau cùng thì dâng lên Thượng Hội xem xét có điều nào trái với Thiên điều thì sửa đổi.

        Vì Luật pháp do nhơn sanh lập ra để tu hành nên lúc nào cũng vừa sức và hợp thời, luôn luôn phù hạp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh.

        Hễ có quyền lập luật thì đương nhiên có quyền sửa cải luật. Sau một thời gian thi hành, hễ nhơn sanh thấy luật nào đã lỗi thời, không còn phù hạp nữa thì nhơn sanh có quyền quyết nghị sửa đổi hay bãi bỏ.

      • 2). Hành Pháp.

        2). Hành Pháp : là cơ quan Hành Chánh Đạo Cửu Trùng Đài, gồm tất cả Chức sắc, Chức việc Nam Nữ, điều hành guồng máy của Đạo để phổ độ và giáo hóa nhơn sanh đi đúng theo khuôn viên luật pháp của Đạo.

        Cơ Quan Phước Thiện cũng được xem như thuộc về Hành Pháp, vì đó là cơ quan tổ chức nền kinh tế và sản xuất của Đạo để nuôi Đạo và cứu khổ nhơn sanh.

      • 3). Tư Pháp.

        3). Tư Pháp : Quyền Tư Pháp thuộc về Hiệp Thiên Đài.

        Hiệp Thiên Đài quản lý và bảo vệ Luật pháp, giải thích Luật pháp, tổ chức các Tòa Án Đạo để xử trị Chức sắc và tín đồ vi phạm Luật pháp Đạo.

        Thập nhị Thời Quân giống như Tối Cao Pháp Viện của chánh quyền Đời.

        Bộ Pháp Chánh giống như Bộ Tư Pháp của quyền Đời.

  • VI. Triết lý của Đạo Cao Đài.
    • Triết lý của Đạo Cao Đài là một hệ thống thuần nhất.

      Triết lý của Đạo Cao Đài là một hệ thống thuần nhất.

      Đấng Giáo chủ của Đạo Cao Đài là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, là nguyên căn của tất cả các vị Giáo chủ của các tôn giáo đã có từ trước tới nay.

      Cũng như về Giáo lý, Triết lý của Đạo Cao Đài là một hệ thống thuần nhất, giải quyết được đầy đủ và thỏa đáng tất cả các vấn đề triết học của các tôn giáo hay của các trường phái triết học mà lâu nay còn vướng mắc.

      Đó là một hệ thống triết học vừa có tính cách sáng tạo, vừa có tính cách dung hợp tất cả triết lý của 2 trường phái triết học lớn là Duy Tâm và Duy Vật, để cuối cùng làm sáng tỏ được Chơn lý hằng hữu bất biến của Càn Khôn Vũ Trụ, với đầy đủ các tính chất thanh trược, xấu tốt, thiện ác.

      Đối với Chơn lý hằng hữu bất biến ấy, nếu đứng về phương diện vật chất nhìn vào thì đưa ra Triết lý Duy Vật; nếu đứng về phương diện tinh thần nhìn vào thì khai triển ra thành Triết lý Duy Tâm.

      Cái Chơn lý hằng hữu bất biến ấy là Thượng Đế, mà bản chất của Thượng Đế là bao gồm đủ mọi trạng thái từ thanh đến trược, từ vật chất đến tinh thần, từ Tiên Phật đến Quỉ Ma. Ở đây, chưa thể đi sâu vào chi tiết, chỉ nêu lên một số điểm chánh của Triết lý Đạo Cao Đài :

      • 1) Thượng Đế

        1) Thượng Đế

        Nhờ hiện tượng Cơ Bút (Thần Linh học), Đạo Cao Đài xác định sự hiện hữu của Thượng Đế, một Đấng duy nhất, tuyệt đối, toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ, vô thủy vô chung, vô hình vô ảnh, biến hóa vô cùng, đã tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ, nhơn loại và vạn vật.

      • 2) Vũ trụ

        2) Vũ trụ

        Càn khôn Vũ trụ của Đấng Thượng Đế gồm có 3072 ngôi sao, trong đó có quả Địa cầu của chúng ta đang ở. Vũ trụ nầy chỉ là một trong nhiều vũ trụ khác nhau trong khoảng không gian bao la vô cùng tận. (Xem chi tiết : Vũ trụ quan)

      • 3) Vạn vật

        3) Vạn vật

        Đấng Thượng Đế hóa sanh ra vạn vật và cho vạn vật tiến hóa để sản sinh ra muôn loài muôn vẻ khác nhau.

        Đầu tiên, Đấng Thượng Đế tạo ra loài Vật chất, Kim thạch. Loài nầy tiến hóa lên thành Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa lên Thú cầm, Thú cầm lần lần tiến hóa thành nhơn loại.

        Vạn vật luôn luôn biến đổi và tiến hóa không ngừng, tiến hóa từ loài thấp lần lần lên loài cao hơn, từ loài đơn giản lần lần tiến hóa lên loài phức tạp hơn.

      • 4) Luật Tiến hóa

        4) Luật Tiến hóa

        Càn khôn Vũ trụ và vạn vật luôn luôn biến đổi và tiến hoá. Đấng Thượng Đế lập ra Luật Tiến hóa, điều khiển và thúc đẩy sự tiến hóa của khắp Càn Khôn Vũ Trụ, và chính Đấng Thượng Đế cũng ở trong vòng chi phối của Luật Tiến hóa nầy.

        Luật Tiến hóa đặt ra 8 nấc tiến hóa tương ứng với 8 phẩm Chơn hồn, từ thấp lên cao là :

        - Vật chất Kim thạch hồn
        - Thảo mộc hồn
        - Thú cầm hồn
        - Nhơn hồn
        - Thần hồn
        - Thánh hồn
        - Tiên hồn
        - Phật hồn.

        Đến Phật hồn rồi còn phải tiến hóa lên Đại hồn, tức là Thiên hồn hay Thái cực, để Phật hồn hiệp nhất với Đại hồn, là đi giáp một chu trình Tiến hóa.

        Mỗi chu trình Tiến hóa như vậy có đến hằng triệu năm.

        Nhưng sự tiến hóa không dừng lại vĩnh viễn nơi Đại hồn vì như vậy là đứng ngoài Luật Tiến hóa, điều nầy không thể có được, mà lại bắt đầu từ Đại hồn một chu trình tiến hóa mới ở trình độ cao cấp hơn, để cho vũ trụ càng ngày càng tiến hóa, nhân vật càng ngày càng tiến hóa khôn ngoan hơn, đẹp đẽ hơn, tinh vi hơn. (Xem chi tiết : Nhơn sanh quan)

      • 5) Nhơn loại

        5) Nhơn loại

        Nhơn loại được phân ra làm 3 hạng người căn cứ theo nguồn gốc sanh ra :

        - Hóa nhân.
        - Nguyên nhân.
        - Quỉ nhân.

        Nguyên nhân : là những người không do sự tiến hóa của loài cầm thú đi lên, mà là những linh hồn do Thượng Đế sanh ra từ lúc khai Thiên, nay cho đầu kiếp xuống trần, có nhiệm vụ khai hóa các Hóa nhân về trí thức và về tinh thần. Các Nguyên nhân còn giữ được Thiên tính, nên được khôn ngoan, sáng suốt và đạo đức.

        Hóa nhân : là những người do loài cầm thú cao cấp tiến hóa lên phẩm người. Loài cầm thú cao cấp đó là loài giả nhơn khỉ vượn. Số Hóa nhân nầy chiếm đại đa số trong nhơn loại. Hóa nhân còn mang ít nhiều thú tính, nên trí não còn khờ ngây, chưa biết mùi đạo đức.

        Quỉ nhân : là những linh hồn Quỉ vị đầu kiếp nơi cõi trần để tạo thành lực lượng đối kháng với các Nguyên nhân, nhưng mặt khác lại kết hợp với lực lượng các Nguyên nhân, tạo thành một ngẫu lực thúc đẩy vòng quay của bánh xe tiến hoá. Những Nguyên nhân hoặc Hóa nhân làm những tội lỗi nặng nề phạm Thiên điều thì bị đọa vào Quỉ vị, trở thành những linh hồn Quỉ vị.

      • 6) Tam Thể của con người

        6) Tam Thể của con người

        Các nền tôn giáo từ trước tới nay đều cho rằng, con người chỉ có 2 phần : Thứ nhứt là phần Thể xác hữu hình, Thứ nhì là phần Linh hồn vô hình, còn gọi là tinh thần, và Phật giáo gọi nó là Thần thức.

        Nhưng Triết lý của Đạo Cao Đài lại phân tích rõ ra thêm nữa, cho rằng, ngoài 2 phần kể trên, con người còn có một thể nữa có tính cách bán hữu hình, nghĩa là khi thì có hình thể thấy được, khi thì không thấy được. Thể bán hữu hình nầy gọi là Chơn thần, làm trung gian cho phần hữu hình và phần vô hình. Chơn thần nầy còn được gọi là Nhị Xác thân, Xác thân thiêng liêng.

        Một con người nơi cõi thiêng liêng chỉ có 2 thể :

        Linh hồn, chỉ là một Điểm Linh quang.
        Chơn Thần, tức là Xác thân thiêng liêng bao bọc Linh hồn.

        Khi con người ở cõi thiêng liêng ấy đầu kiếp xuống cõi trần thì mang thêm một xác thân phàm nơi cõi trần do cha mẹ phàm trần tạo ra và được nuôi dưỡng bằng vật chất nơi cõi trần. Chơn thần và Linh hồn lúc bấy giờ ẩn trong thể xác phàm nầy.

        Cho nên một con người nơi cõi trần có 3 thể :

        - Linh hồn(vô hình)
        - Chơn thần (bán hữu hình)
        - Xác phàm (hữu hình) bao bọc Chơn thần và Linh hồn.

        Khi thể xác phàm chết đi, nó sẽ tan rã trở về đất, còn Chơn thần và Linh hồn thì xuất ra khỏi thể xác, bay trở về cõi thiêng liêng.

      • 7) Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu

        7) Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu

        Khi Đấng Thượng Đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi : Dương Quang và Âm Quang, thì Thượng Đế làm chủ Dương Quang, còn Âm Quang chưa có ai làm chủ, nên Thượng Đế hoá thân ra Đức Phật Mẫu để làm chủ Âm Quang.

        Linh hồn của mỗi người chỉ là một điểm Linh quang do Thượng Đế chiết ra từ khối Đại Linh quang Thái Cực của Ngài để ban cho mỗi người, do đó Đấng Thượng Đế là CHA của Linh hồn, nên được gọi là Đại Từ Phụ.

        Chơn thần của mỗi người do Đức Phật Mẫu tạo nên, do đó Đức Phật Mẫu là MẸ của Chơn thần, nên loài người gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu.

        Con người nơi cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi phàm trần, mang thêm xác thân phàm do cha mẹ phàm trần tạo nên.

        Cho nên,mỗi một người nơi cõi trần đều có :

        - Cha mẹ phàm trần riêng của mỗi người.
        - Hai Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng cho tất cả mọi người là Đấng Thượng Đế và Đức Phật Mẫu, gọi là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu.

        Theo Luật Tiến hóa, các Đấng Thần Thánh Tiên Phật đều do nhơn loại tu hành tiến hóa mà thành. Bát hồn nơi cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi trần làm chúng sanh (vật chất kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại). Cho nên, nơi cõi trần là chúng sanh, nhưng nơi cõi thiêng liêng là Bát hồn, đều do Thượng Đế và Đức Phật Mẫu đào tạo.

        Do đó, Đấng Thượng Đế và Đức Phật Mẫu cũng là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu của các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, tức là của Bát phẩm Linh hồn nơi cõi thiêng liêng và của chúng sanh nơi cõi trần .

        Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng cơ có nói rằng : “ Các con là Thầy, Thầy là các con” (Thầy là tiếng tự xưng của Đức Chí Tôn). Câu nói trên của Đức Chí Tôn mở ra một Triết lý rất mới mẻ và sâu sắc.

      • 8) Tôn giáo và nhơn loại

        8) Tôn giáo và nhơn loại

        Loài động vật cao cấp là khỉ vượn tiến hóa lên thành những Hóa nhân, tạo thành nhơn loại. Những Hóa nhân nầy vừa mới thoát kiếp thú nên còn mang chút ít thú tánh, nên kém khôn ngoan và chưa biết đạo đức.

        Đức Chí Tôn Thượng Đế cho 100 ức (10 triệu) Nguyên nhân giáng trần để khai hóa các Hóa nhân, làm cho các Hóa nhân được khôn ngoan và tiến bộ. Nhưng các Nguyên nhân nầy lại tiêm nhiễm vật chất trược trần, nên làm nhiều điều thiếu đạo đức, gây ra nhiều mối oan nghiệt, khiến cho sự tiến hóa bị trì trệ, đôi khi còn bị thoái hóa nữa.

        Đức Chí Tôn thấy vậy mới cho các Đấng Thần Thánh Tiên Phật giáng trần mở ra các mối Đạo để giáo hóa nhơn sanh về đường đạo đức, và cũng để thức tỉnh các Nguyên nhân lo trở về con đường đạo đức tu hành. Nếu loài người giữ được đạo đức, giữ được bản tánh chơn thật hiền lương thì đâu nhọc lòng Đức Chí Tôn và các Đấng Giáo chủ.

        Xem như thế thì tôn giáo được mở ra khi loài người đi vào đường hung bạo gian ác, mục đích là để cứu vớt nhơn loại, chớ không phải để kềm kẹp hay để cai trị nhơn loại. Tôn giáo mở ra là để giáo hóa chớ không phải để trừng trị. Việc trừng trị là việc làm của các thế lực Đời.

        Từ trước tới nay, Đức Chí Tôn mở ra 3 thời kỳ phổ độ giáo hóa nhơn sanh :

        - Thời kỳ Phổ Độ thứ 1 gọi là Nhứt Kỳ Phổ Độ, thuộc thời Thái cổ, Đức Chí Tôn cho các Đấng Phật Tiên giáng trần mở ra các mối Đạo như : Do Thái giáo ở nước Do Thái, đạo Bà-La-Môn ở Ấn Độ, Phật giáo, Tiên giáo, vv. . . Nhứt Kỳ Phổ Độ chỉ độ được 6 ức Nguyên nhân và một số nhơn loại.

        Các nền tôn giáo nầy, sau một thời gian dài cũng lần lần suy tàn và thất Chơn truyền.

        - Đức Chí Tôn lại mở lòng Đại từ bi, mở kỳ Phổ Độ thứ 2 gọi là Nhị Kỳ Phổ Độ, thuộc thời Thượng cổ, gồm các nền tôn giáo : Thiên Chúa giáo ở nước Do Thái và Âu Châu, Phật giáo ở Ấn Độ, Lão giáo và Khổng giáo ở Trung Hoa, Thần đạo ở Nhựt Bổn và Trung Hoa.

        Nhị Kỳ Phổ Độ chỉ độ được 2 ức Nguyên nhân và một số lớn nhơn loại.

        Các nền tôn giáo nầy trải qua hơn 2500 năm thì cũng bị thất Chơn truyền, suy tàn và bế lại.

        - Đức Chí Tôn Thượng Đế lại mở lòng Đại từ Đại bi, mở đạo lần thứ 3 để cứu vớt nhơn sanh, gọi là Tam Kỳ Phổ Độ, và cho biết đây là thời kỳ Phổ Độ chót, trước khi nhơn loại bước vào cuộc Phán Xét cuối cùng, để chọn người tài đức vào Hội Long Hoa.

        Trong thời kỳ Phổ Độ thứ 3 nầy, Đức Chí Tôn không sai chư Tiên Phật giáng trần mở đạo nữa, mà chính mình Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Cơ bút, trực tiếp mở một nền đạo lớn, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để cứu vớt nhơn sanh. Lần nầy, chính mình Đức Chí Tôn sẽ thống nhứt các nền đạo của 2 thời kỳ phổ độ trước, tạo thành một nền Đại Đạo duy nhứt, với một Giáo lý duy nhứt bao hàm tất cả các Giáo lý, dưới sự chưởng quản của Ngài, để nhơn loại không còn phân biệt nhau về tín ngưỡng mà chia rẽ đánh giết nhau.

      • 9) Ngũ Chi Phục Nhứt

        9) Ngũ Chi Phục Nhứt

        Các nền tôn giáo thời Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, tuy số lượng có nhiều, nhưng tựu chung đều nằm trong 5 con đường lớn (Đại Đạo) với 5 cấp tiến hoá đến Thượng Đế. Năm con đường lớn đó gọi là Ngũ Chi Đại Đạo, gồm :

        - Phật đạo : có đạo Bà-La-Môn, Phật giáo của Đức Phật Nhiên Đăng, Thích giáo của Đức Phật Thích Ca, Pythagore giáo.

        - Tiên đạo : có Lão giáo, Dương Châu, Mặc Địch. . .

        - Thánh đạo : có Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo với 2 Chi phái lớn là đạo Tin Lành, và Chính Thống giáo.

        - Thần đạo : có Hy Lạp Phong Thần, Ai Cập Phong Thần, Trung Hoa Phong Thần, Thần đạo Nhựt Bổn.

        - Nhơn đạo : có Nho giáo, Socrate, Platon, . . .

        Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ là 2 thời kỳ mà Đức Chí Tôn cho nhiều Đấng Giáo chủ xuống trần mở đạo cứu đời. Đó là thời kỳ “Nhứt bổn tán vạn thù”.

        Đến thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn qui các mối đạo về một mối gọi là Ngũ Chi phục nhứt, ấy là thời kỳ “Vạn thù qui nhứt bổn”, và chính mình Đức Chí Tôn làm CHA chưởng quản tất cả. Như vậy, chúng ta thấy, Tam giáo qui nguyên nằm trong Ngũ Chi phục nhứt.

      • 10) Thiên Nhãn, một biểu tượng đại đồng

        10) Thiên Nhãn, một biểu tượng đại đồng

        Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy vẽ hình Thiên Nhãn để thờ, tức là dạy thờ biểu tượng Con Mắt, tượng trưng Thượng Đế.

        Việc thờ biểu tượng nầy có 2 lý do :

        - Đức Chí Tôn là Thái Cực, do Hư Vô chi Khí biến sanh, nên Đức Chí Tôn không có hình ảnh chi hết, chỉ vẽ hình Con Mắt tượng trưng để chỉ rằng : Trời cao có mắt, Thượng Đế luôn luôn dòm ngó săn sóc con cái của Ngài là toàn thể nhơn loại.

        - Biểu tượng Con Mắt có ý nghĩa đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ Con Mắt để thờ, và vẽ hình Con Mắt không có tính cách phân biệt chủng tộc, quốc gia, nên có tính cách đại đồng.

        Như Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca để thờ, mà Phật Thích Ca là người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo tạo hình Đức Chúa Jésus để thờ, mà Chúa Jésus là người Do Thái, Nho giáo thờ Đức Khổng Tử, mà Khổng Tử là người Tàu. Do đó mà còn tính cách phân biệt về dân tộc và quốc gia, là thờ người ngoại quốc.

        Vẽ hình Con Mắt để thờ thì tránh được các sự phân biệt kể trên.

        Mở Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy thờ Con Mắt là có ý muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay về chủng tộc, nhìn nhận Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu là 2 Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng, nên toàn cả nhơn loại đều là anh em một nhà, cần phải thương yêu giúp đỡ nhau, tạo nên một xã hội đại đồng huynh đệ.

        Dân tộc Việt Nam chỉ là một dân tộc lãnh sứ mạng của Đức Chí Tôn để thực hiện đại đồng trên toàn thế giới .

      • 11) Tiểu Thượng Đế

        11) Tiểu Thượng Đế

        Thượng Đế tạo ra con người và ban cho con người tất cả những gì mà Thượng Đế có. Thượng Đế rút ra từ cái vĩ đại huyền diệu của Ngài, mỗi thứ một điểm nhỏ, ban cho con người, rồi che phủ lên đó một bức màn vô minh, đặt con người ở giữa sự Thiện và sự Ác, giữa Chánh và Tà, giữa sự Yêu và sự Ghét, để con người học hỏi, chứng nghiệm hiểu biết tất cả các thứ bài học từ trược đến thanh mà tiến hóa.

        Do đó, con người chính là một Tiểu Thượng Đế.

        Tiểu Thượng Đế học hỏi, tiến hóa mãi, qua rất nhiều kiếp, để cuối cùng đi hết các nấc thang tiến hóa, trở về hiệp nhứt cùng Thượng Đế, Tiểu hồn hiệp nhứt Đại hồn.

      • 12) Mục đích của đời sống con người

        12) Mục đích của đời sống con người

        Con người sống nơi cõi trần là để học hỏi và tiến hóa.

        Nơi cõi trần có đủ các thứ bài học, rất đa dạng và phong phú. Học Ác rồi lại học Thiện, học điều Tà rồi học điều Chánh, học điều xấu rồi lại học điều tốt, học cho biết rõ cái tối tăm rồi học qua cái sáng suốt, học bài học vật chất rồi đến bài học tinh thần. vv . . .

        Học bài học Ác, thử nghiệm làm Ác, được chấm điểm âm (-), bị thoái hóa, buồn bực khổ sở. Học Ác hoài cũng chán, nên bắt qua học Thiện, làm Thiện, được điểm dương (+) tiến hóa, cảm thấy vui sướng. Học tất cả các bài học ấy để chứng nghiệm Luật Nhân Quả, và Luật Công Bình thiêng liêng của Tạo Hóa.

        Học dần dần, hết bài học nầy thì qua bài học khác, cứ thế mà tiến hóa dần. Đó là sự Tiến hóa theo dòng tự nhiên, nên rất chậm chạp.

        Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là để thúc giục sự Tiến Hóa cho khẩn trương nhanh chóng thêm, bởi vì sắp đến kỳ thi chung kết để chấm dứt một giai đoạn tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ, tuyển lựa người có đầy đủ phước đức vào Hội Long Hoa, rồi sau đó lại bắt đầu một chu trình tiến hóa mới ở cấp cao hơn.

        Chỉ nơi cõi trần, con người mới có đủ các loại bài học để học tập, vừa học hỏi lý thuyết, vừa thực hành chứng nghiệm, nên sự tiến hoá đạt được tốc độ nhanh chóng.

        Vậy, mục đích của đời sống con người nơi cõi trần là học tập và tiến hóa. Người nào sáng suốt thì học nhanh và tiến hoá nhanh, người nào bơ thờ thì học chậm, tiến hoá chậm.

        Các điều vừa trình bày trên đây chỉ là một số nét lớn của Triết lý Đạo Cao Đài. Học giả muốn tìm hiểu kỹ hơn, chi tiết hơn, sâu hơn, thì phải nghiên cứu Giáo lý của Đạo Cao Đài một cách sâu rộng trong các Thánh ngôn của Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng giáng dạy.

        Nói rằng, Triết lý của Đạo Cao Đài là gốc của các nền Triết lý trên thế giới từ trước đến nay, là bởi vì nền Triết lý nầy phát xuất trực tiếp từ Thượng Đế, chính Thượng Đế là nguyên lý đầu tiên của tất cả các nguyên lý trong Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

        Từ xưa đến nay, con người chưa trực tiếp được với Đấng Thượng Đế, nên chỉ hình dung Thượng Đế theo chủ quan của trí não phàm trần eo hẹp của mình, giống như trường hợp những anh mù rờ voi, rồi cãi lý với nhau, ai cũng cho cái nhận biết của mình là đúng và của kẻ khác là sai. Họ có ngờ đâu, tất cả những cái biết đó chỉ là những phần khác nhau của con voi, và tổng hợp tất cả những cái biết đó mới có thể hình dung đúng được con voi.

        Trường phái Triết lý Duy Tâm, trường phái Triết lý Duy Vật, công kích nhau, chống đối nhau, cãi nhau đến muôn đời thì cũng không thể có bên thắng bên bại, vì họ chỉ thấy được một phiến diện của Chơn lý hằng hữu bất biến là Thượng Đế. Họ có biết đâu rằng Thượng Đế gồm cả hai mặt : Duy Tâm lẫn Duy Vật.

        Ngày nay, Đấng Thượng Đế giáng trần qua việc sử dụng cơ bút để trực tiếp giảng dạy Giáo lý, Triết lý, Lễ nghi, để nhơn loại thấy rõ Thượng Đế hiện hữu, có thật, là Chơn lý hằng hữu bất biến, chớ không phải là giả thuyết tưởng tượng hay truyền thuyết mơ hồ vô căn cứ.

        Đấng Thượng Đế mở đạo kỳ nầy là thể hiện lòng Đại từ Đại bi của một Đấng Đại Từ Phụ, nhìn thấy nhơn loại là con cái thương yêu của Ngài còn nhiều vô minh, trì trệ trên đường học hỏi và tiến hóa, mà kỳ thi chung kết lại gần kề. Ngài hiện diện là để khai phá màn vô minh, để nhơn loại biết Ngài, hướng về Ngài, khẩn trương lo học tập tiến hóa, trong hồng ân của Ngài.

  • VII. Nhơn Sanh quan của Đạo Cao Đài.
    • Nhơn sanh quan

      Nhơn sanh quan

      Nhơn sanh quan là một hệ thống tư tưởng Triết học xem xét về nguồn gốc của con người, sự sống và sự chết, về mục đích và ý nghĩa của đời sống con người.

      Về Nhân sinh quan, Triết học phân ra 2 nhóm có tư tưởng đối lập nhau :

      - Nhơn sinh quan Duy Vật do 2 Triết gia Marx và Engels chủ trương, không công nhận con người có Linh hồn, đưa đến thuyết Cộng Sản Vô Thần.

      - Nhân sinh quan Duy Tâm do các Triết gia Socrate, Platon, Hégel, . . . và nhất là các nhà tôn giáo chủ trương, công nhận con người có một Linh hồn bất diệt, đưa đến thuyết Tư bản Tự Do.

      Sau đây, chúng tôi xin trình bày Nhân sinh quan của Đạo Cao Đài.

      Nhân sinh quan của Đạo Cao Đài là một Nhân sinh quan triết học Duy Linh Duy Nhất, vượt lên trên 2 quan niệm Duy Tâm và Duy vật vừa kể trên, mà còn dung hợp được 2 khuynh hướng nầy. Nhân sinh quan của Đạo Cao Đài sẽ giải đáp một cách minh bạch các vấn đề sau đây :

      - Nguồn gốc của loài người. Con người từ đâu tới ?
      - Con người có Linh hồn không ? Linh hồn là gì ?
      - Khi thể xác chết đi, Linh hồn xuất ra đi về đâu ?
      - Con người đầu thai xuống cõi trần bằng cách nào ?
      - Thượng Đế là ai ? Sự liên hệ giữa Thượng Đế và con người.
      - Mục đích của cuộc sống.
      - Thiên đàng và Địa Ngục.
    • 1. Nguồn gốc của loài người

      1. Nguồn gốc của loài người

      Đạo Cao Đài xác nhận rằng, loài người nguyên thủy có được là do sự tiến hoá của loài khỉ vượn thuộc lớp động vật cao cấp mà thành. Điều nầy được chứng minh bằng Định luật Tiến hóa của chúng sanh và của Bát hồn.

      • a) Luật Tiến hóa của chúng sanh

        a) Luật Tiến hóa của chúng sanh

        Chúng sanh là các loài sanh vật, tức là các loài vật có sự sống được sanh ra trên mặt Địa cầu nầy, gồm : Vật chất Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm và Nhơn loại.

        Khởi thủy, quả Địa cầu của chúng ta chỉ là một khối lửa văng ra từ Mặt Trời. Theo thời gian, khối lửa ấy nguội dần, tạo ra một lớp vỏ đất đá bao bọc bên ngoài. Đến lúc nhiệt độ hạ xuống khá thấp, lớp hơi nước được tạo thành bao bọc chung quanh Địa cầu, gây ra những đám mưa lớn rơi xuống, tạo nên các sông ngòi và biển cả.

        Nước của biển và sông làm ổn định nhiệt độ của Địa cầu, nên sanh vật bắt đầu xuất hiện trong nước.

        Sanh vật đầu tiên là loài Thảo mộc đơn giản chỉ có một tế bào (đơn bào). Dần dần nó sanh sản thêm bằng cách phân bào, rồi tiến hóa lên thành các loại nấm, rong rêu, tiến hóa tiếp thành cây cỏ, và cây cối. Càng tiến hóa, Thảo mộc càng to lớn, rắn chắc và phức tạp.

        Một thời gian dài tiếp theo, loài động vật bắt đầu xuất hiện. Động vật đầu tiên xuất hiện trong nước, có cơ cấu đơn giản chỉ một tế bào (đơn bào). Dần dần nó sanh sản và tiến hóa lên thành các loài sứa, loài cá, rồi tiến hóa thành các loài động vật sống trên cạn có chân, tiến hóa lên nữa thành loài thú chạy, thú bay. Loài động vật có trình độ tiến hóa cao nhất là giả nhân thuộc loài khỉ vượn.

        Trong loài khỉ vượn, ở cấp thấp thì chúng có thân hình nhỏ và có đuôi. Chúng tiến hóa lên thành loài khỉ vượn cao cấp gọi là giả nhơn, có thân hình to lớn và không có đuôi.

        Một thời gian dài tiếp theo, loài giả nhơn tiến hóa lên thành loài người nguyên thủy. Giả nhơn còn di chuyển bằng 4 chi, tiến hóa lên thành người nguyên thủy chỉ đi bằng 2 chân sau, 2 chi trước trở thành 2 tay để cầm bắt và hái lượm trái cây. Hình vóc cũng lần lần biến đổi, tướng đi đứng thẳng, lông trên thân thể rụng dần, cái đầu nở to ra, bộ óc lớn hơn.

        Chúng ta có thể tóm tắt sự tiến hóa của chúng sanh bằng hình vẽ sau đây, với ký hiệu mũi tên :

        - Đầu mũi tên là gốc, là cái đầu.
        - Đuôi mũi tên là ngọn , là cái đuôi, là chân.
        - Vật chất kim thạch, chưa phân biệt được cái nào là gốc, cái nào là ngọn, cái nào là đầu, cái nào là đuôi.
        - Thảo mộc có gốc có ngọn, gốc là đầu mũi tên, ngọn là đuôi mũi tên, được tượng trưng bằng mũi tên chúc xuống thẳng đứng.
        - Động vật có đầu và có đuôi ngang nhau, thân mình nằm ngang, được tượng trưng bằng mũi tên nằm ngang.
        - Nhơn loại có đầu hướng lên Trời, chân đạp xuống đất, thân hình thẳng đứng, được tượng trưng bằng một mũi tên thẳng đứng hướng lên trên. Như vậy, sự tiến hóa đến phẩm nhơn loại thì đã thuận theo Thiên lý.

        Sự trình bày như trên đây là trình tự Tiến hóa về mặt hình thể, thuộc về vật chất hữu hình.

        Sau đây là sự Tiến hóa về mặt khôn ngoan hiểu biết.

        - Loài Kim thạch có sự sống chưa thể hiện rõ rệt, nó chỉ là sự liên kết của các tế bào tạo thành tinh thể rắn chắc. Loài kim thạch hoàn toàn không có tri giác.

        - Loài Thảo mộc, được Thượng Đế ban cho một điểm nguyên hồn để làm Sanh hồn, tạo nên sự sống. Điểm nguyên hồn nầy được Đấng Thượng Đế rút ra từ khối Đại hồn (Đại Linh Quang) của Ngài.

        Loài Thảo mộc chỉ có sự sống mà chưa có tri giác. Loài Thảo mộc ở cấp cao hơn thì lá biết khép lại khi đêm xuống hay khi bị đụng chạm, như cây su đủa, cây mắc cở; vài loại Thảo mộc có những cánh hoa có mùi thơm để dụ côn trùng bay đến rồi khép những cánh hoa ấy lại đặng bắt côn trùng mà hút thịt và máu. Như thế, chúng đã có chút ít tri giác nhưng rất thô sơ, gần như chỉ là những phản xạ tự nhiên.

        - Tiến lên là loài Động vật, được Thượng Đế ban thêm cho một điểm Nguyên hồn nữa để làm Giác hồn, tạo ra sự hiểu biết, như đau đớn biết la, sợ hãi biết chạy trốn, biết đi tìm thức ăn thích hợp, biết tìm chỗ ẩn trú an toàn, biết nuôi con, có chút ít trí nhớ nhưng rất sơ sài.

        - Tiến lên đến phẩm Nhơn loại, là đẳng cấp cao nhứt của chúng sanh, được Thượng Đế ban thêm cho một điểm Nguyên hồn nữa để làm Linh hồn, lúc đó sự hiểu biết mới được hoàn toàn.

        Con người có được sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự phán đoán, biết được lẽ phải trái và có tánh linh.

        Đến đây, con người có đủ Tam Hồn : Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn.

        TÓM TẮT :

        “ Luật Tấn hóa của Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại, nó từ từ tăng tiến mãi, nhưng nó cũng có thối hóa vậy.

        Các con nghe : Như loài Thảo mộc cũng có thọ nơi Thầy một điểm Nguyên hồn. Nó cũng sống, nhưng trí hóa khờ ngây. Các con coi đó, từ Thảo mộc bắt đầu lên cho chí loài người, có 3 cái Pháp :

        1. Như Thảo mộc, cái gốc trở xuống, ngọn day lên. (Gốc là đầu, ngọn là chơn).
        2. Rồi nó tấn hóa lên đến bực Thú cầm thì cái đầu với cái đuôi ngang nhau.
        3. Thú cầm qua Nhơn loại thì cái đầu trở lên, cái chơn xuống dưới.

        Ấy là 3 Pháp. Vậy từ Thảo mộc có một phần Hồn.

        Thảo mộc tấn hóa mãi, muôn vàn kiếp mới bước sang qua Thú cầm đã đặng 2 phần Hồn.

        Thú cầm mới dần dần tấn hóa mãi, trăm muôn ngàn kiếp, lên đặng làm Người, thiệt là trăm đắng ngàn cay, muôn thảm vạn sầu, biết bao nhiêu là công phu khổ hạnh, xả thân giúp đời một cách khó khăn cực nhọc, nhưng cũng vui lòng, mãn kiếp nọ sang kiếp kia, cứ lập công quả mãi. Vàn vàn muôn muôn lần đầu thai mới qua đặng phẩm bực loài người.

        Khi tấn hóa đến loài người thì đã đủ trọn Tam Hồn, Thất Phách.

        Những con thú mới qua làm người thì còn khờ khạo ngu ngây, tánh tình độc hiểm, nếu biết khôn xá thân giúp đời thì chuyển kiếp đôi ba chục lần cũng đặng minh mẫn khôn ngoan. “ (Đại Thừa Chơn Giáo. 115)

      • b) Luật Tiến hóa của Bát hồn

        b) Luật Tiến hóa của Bát hồn

        Tất cả Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, gọi là Vạn linh, được chia làm 8 bực tiến hóa cao thấp khác nhau, gọi là Bát hồn hay Bát phẩm Chơn hồn, kể từ thấp tiến hóa dần lên cao :

        1. Kim thạch hồn.
        2. Thảo mộc hồn.
        3. Thú cầm hồn.
        4. Nhơn hồn.
        5. Thần hồn.
        6. Thánh hồn.
        7. Tiên hồn.
        8. Phật hồn.

        - Sự Tiến hóa trong giai đoạn đầu từ Kim thạch hồn lên đến Nhơn hồn là sự Tiến hóa tự nhiên, do sự thúc đẩy của Luật Tiến hóa của Thượng Đế, và sự tiến hoá đi lên dần dần theo từng cấp bực, không có sự nhảy cấp và cũng không có sự thoái cấp.

        - Sự Tiến hóa trong giai đoạn tiếp theo, từ Nhơn hồn lên đến Phật hồn là do sự tu luyện của Nhơn hồn, nên Nhơn hồn có thể tiến hóa rất nhanh, một kiếp tu có thể vượt lên 3 hay 4 cấp, để đến Phật hồn; nhưng cũng có thể thoái hóa xuống loài Cầm thú khi Nhơn hồn không tu mà lại phạm vào tội đại ác.

        * Con người nhờ có trí não khôn ngoan hiểu biết, phân biệt được điều hay lẽ dở, thiện ác, chánh tà, có lương tâm kềm chế, có lục dục thất tình xúi giục. Nếu biết bỏ ác theo lành, cải tà qui chánh, chế ngự lục dục thất tình và chuyển hóa chúng theo đường Thiên lý thì con người sẽ tiến hóa đi lên, tùy theo công đức nhiều ít mà đạt được các phẩm : Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

        * Nếu ngược lại, con người bỏ chánh theo tà, bỏ lành làm ác, đi theo vật dục thấp hèn, thì Nhơn hồn sẽ bị thoái hóa xuống loài Cầm thú, mang lông đội sừng mà đền tội lỗi.

        Sự Tiến hóa đi lên của Nhơn hồn, khi đã đến Phật hồn rồi thì chưa phải là đến mức tối cao của nấc thang tiến hóa. Phật hồn còn phải tiếp tục tu luyện để tiến hóa lên mức tận cùng tối cao là Thiên hồn, tức là Đại hồn của Thượng Đế.

        Tới đây mới giáp một chu trình tiến hóa của của Vạn linh, bởi vì Vạn linh xuất phát từ Thiên hồn (Đại Hồn, Đại Linh Quang, Thái Cực), đi chu du một vòng tiến hóa, trải qua Bát hồn, nay trở về hiệp nhập vào Đại hồn của Thượng Đế là đúng một chu trình tiến hóa.

        Đức Cao Thượng Phẩm có giáng cơ giảng giải về sự tiến hóa của Bát hồn, trong Luật Tam Thể, trích ra như sau :

        “ Từ lúc Hỗn Độn sơ khai, Âm Dương biến hóa, trong Khí Hư Vô đã sẵn các tế bào. Sau tiếng nổ, Âm Dương phân tách : Khí Dương quang là khí nhẹ nhàng bay lên trên, còn khí Âm quang là khí chất chứa các tế bào nên lóng xuống dưới.

        - Sau một Chuyển, các chất khí trên liên đới với tế bào mà tụ lại thành chất khí và biến thành vạn vật. Khi chưa thành hình thể hữu vi, thì chất khí vẫn là một cục lửa do khí Dương quang đốt cháy, sau đó, nơi Diêu Trì Cung thâu Thập nhị Địa Chi mà biến khí Dương quang và chất khí làm Ngũ Hành. Vậy cho nên, Đất, Nước, Sắt, Đá, và Lửa được nẩy sanh trước hết, đó là Kim thạch hồn.

        - Sau một Chuyển nữa, Nước, Đất, Đá, Lửa và Sắt mới tiêu ra một chất khí và liên đới với các tế bào lại mà tạo nên cây cỏ, đó là Thảo mộc hồn.

        - Sau một Chuyển nữa, các cây cỏ chia tế bào mà liên đới với Ngũ Hành tạo nên Bách Thú, trong đó phần ở khô gọi là Điểu thú, còn phần ở nước gọi là Ngư thú, đó là Thú cầm hồn. Cầm thú đều là Bách thú.

        - Sau một Chuyển nữa, Ngũ Hành hiệp với Thảo mộc mà nuôi Thú cầm. Trong Thú cầm, chơn hồn đã bước vào Cơ Tấn hóa, do đó tạo nên Thỉ Tổ loài người là La Hầu, tức là người khỉ đó.

        La Hầu lần lần sanh hóa và nhờ điểm Linh quang của Chí Tôn mà lần đến loài người như hiện giờ, đó là Nhơn hồn”.

        “Nhơn hồn nào được trọn Trung, ấy đã vào Thần vị.

        Biết được nghĩa chánh, bồi bổ đạo Nhơn luân, tức là Thánh vị. Đến Thánh hồn thì tự nhiên phải thông suốt phần Thế Đạo đó vậy. Trong phần Thế Đạo mà tạo được Bí pháp đặng bước qua mặt Thể pháp Thiên Đạo, tức là Tiên vị.

        Đã lập được Thể pháp Thiên Đạo mà tầm nên Bí pháp Thiên Đạo, tức là đắc pháp, ấy là Phật vị.”

        Như vậy, theo lời dạy của Đức Cao Thượng Phẩm, La Hầu tiến hóa lên phẩm người thành Thỉ Tổ loài người. Điều nầy rất phù hợp với sự khám phá của các nhà khoa học và khảo cổ với chứng tích là các bộ xương hóa thạch của vượn-người, rồi người-vượn, và tiến hóa thành người nguyên thỉ.

        Nhiều người phủ nhận nguồn gốc con người là sự tiến hóa từ La Hầu, cho rằng như vậy là hạ thấp phẩm giá của con người, nhưng đây là sự thật đúng theo luật Tiến hóa của Càn Khôn, đúng theo Luật Tiến Hóa của Bát Hồn. Đức Phật Thích Ca, Giáo chủ Phật giáo, cho biết rằng Ngài có những tiền kiếp là Thú cầm như : Voi, thỏ, nhạn, rắn, nai, quạ, sư tử, khổng tước, rùa, rận, ngựa, cá ông, nhĩ hầu, vv . . .

      • c) Con người từ đâu tới? Ba hạng người

        c) Con người từ đâu tới? Ba hạng người

        Nhơn loại được chia làm 3 hạng người, căn cứ theo nguồn gốc : Đó là Nguyên nhơn, Hóa nhơn, Quỉ nhơn.

        1. Nguyên nhơn : Chơn linh của các Nguyên nhơn được Thượng Đế sanh ra từ lúc Khai Thiên. Thượng Đế cho các Nguyên nhơn đầu kiếp xuống trần, nhập vào bào thai của các Nữ Hóa nhơn, sanh ra làm người, gọi là Nguyên nhơn.

        Các Nguyên nhơn lớn lên có hình dáng tốt đẹp, giữ được Thiên tánh, chưa nhiễm trược trần, trí não thông minh sáng suốt, đứng ra lãnh đạo và giáo hóa các Hóa nhơn cho được hiểu biết, tiến bộ, thoát khỏi đời sống dã man ăn lông ở lỗ, xây dựng một xã hội trật tự tiến bộ.

        Theo sử sách xưa để lại, chúng ta biết :

        - Hữu Sào dạy dân kết cây làm tổ để ở, tránh nguy hiểm do thú dữ gây ra.

        - Toại Nhân dạy dân khoan cây lấy lửa, dùng lửa nấu chín thức ăn.

        - Phục Hy dạy dân nuôi thú vật để sai khiến làm lụng, chế ra lưới để bắt cá bắt chim, chế đàn cầm đàn sắt để dạy dân lễ nghĩa, qui định phép gả cưới để tạo thành gia tộc, chế ra Bát Quái để chỉ cái lẽ Âm Dương biến hóa của Trời Đất cho dân biết thuận tùng Thiên lý.

        - Thần Nông dạy dân làm cày bừa, phát triển nghề nông, gieo trống Ngũ cốc, tổ chức chợ búa để dân hội họp trao đổi hàng hóa, chế ra lịch để dân biết năm tháng mà gieo cấy, nếm thử các thứ cây cỏ để chế thuốc trị bệnh cho dân.

        - Huỳnh Đế (Hoàng Đế) chế ra xe thuyền để đi lại và vận chuyển hàng hóa, chế ra áo mão để phân định tôn ti trật tự, chế ra văn tự để ghi chép.

        Những vị vừa kể trên chỉ là những điển hình của các Nguyên nhơn có công lao giáo hóa dân chúng, đem lại nhiều lợi ích cho nhơn sanh, nên được nhơn sanh tôn lên làm vua.

        Theo Thánh giáo thì có tất cả 100 ức Nguyên nhơn giáng trần ở khắp nơi, trong đủ các sắc dân nơi cõi trần. Đã có 8 ức Nguyên nhơn làm xong nhiệm vụ, giữ được bổn tánh thiên lương, nên đã trở về cùng Đức Chí Tôn, còn lại 92 ức Nguyên nhơn bị nhiễm nhiều thứ ô trược nên vẫn còn trầm luân nơi cõi trần. (1 ức = 100 ngàn; 92 ức = 9 triệu 200 ngàn)

        2. Hoá nhơn : Hóa nhơn là những người do sự tiến hóa đi lên từ loài Thú cầm. Đa số trong nhơn loại đều là Hóa nhơn. Tuy Hóa nhơn có đủ Tam Hồn, nhưng ý thức còn rất ngu khờ, lại mới thoát thai từ loài Cầm thú, nên tánh tình còn hung dữ thô lỗ, hình dáng còn thô kệch xấu xí, chưa đủ khôn ngoan và kinh nghiệm để xây dựng một đời sống tiện nghi tốt đẹp.

        Đó là loài người nguyên thủy, còn trong tình trạng ăn lông ở lỗ. Thời gian nầy kéo dài khá lâu. Thượng Đế thấy vậy mới cho các Nguyên nhơn khôn ngoan và tốt đẹp giáng trần để khai hóa các Hóa nhơn.

        3. Quỉ nhơn : Những Hóa nhơn và những Nguyên nhơn ác hành, vi phạm Thiên điều, linh hồn bị đọa vào Quỉ vị, thành ra các Quỉ hồn. Các Quỉ hồn đầu kiếp lên làm người nơi cõi trần để trả quả và được gọi là Quỉ nhơn.

        Vậy, nhơn loại trên Địa cầu nầy đến với 2 nguồn gốc :

        - Một là từ Thú cầm tiến hóa lên phẩm Người, gọi là Hóa nhơn, đó là người nguyên thủy, Thủy tổ của loài người.

        - Hai là từ cõi Trời, được Thượng Đế cho giáng sanh xuống làm người nơi cõi trần, gọi là Nguyên nhơn.

        Phần lớn trong nhơn loại đều là Hóa nhơn. Số Nguyên nhơn hiện nay còn lại nơi cõi trần là 92 ức tức là 9.200.000 người. Số Quỉ nhơn trong nhơn loại cũng khá nhiều, vì đây là thời Mạt Kiếp sắp chấm dứt để bước vào Đại Hội Long Hoa, nên Đức Chí Tôn cho tất cả các Quỉ hồn đầu kiếp để thực hiện sự trả quả gấp rút và rốt ráo.

    • 2. Con người có linh hồn không ?

      2. Con người có linh hồn không ?

      Ba Thể của con người :

      “Cái tình cảm hóa của con người là tình thường ứng hiệp với Trời Đất, cho nên khi tâm tịnh thường cảm hoài, hằng tìm nơi u huyền mà nghĩ nghị trong trí khôn, ấy là kẻ có sẵn tình ý thiên nhiên tạo hóa.

      Còn một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng không để trí thông minh vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm những điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi chi cả. Chúng nó lại tưởng rằng, kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho được của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi.

      Thầy hỏi : Vậy chớ cái trí khôn của con người biết thương ghét, vui buồn, mà toàn trong nhơn loại đều có, khi rốt cuộc thì trí khôn ấy đi đâu ? Không lẽ cái trí khôn ngoan dường ấy mà cũng mất đi đặng sao các con ?

      Thầy hỏi như vậy đặng cho các con mỗi đứa về suy nghĩ mà trả lời cho mình. Hễ trả lời phù hạp thì dễ biết Đạo, còn ngu xuẩn thì cũng huờn ngu xuẩn.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I.101)

      Con người khi mới được sanh ra, hài nhi biết tìm vú mẹ để bảo tồn sự sống, khi đau biết khóc, khi đói biết la, khi khát biết uống; lớn lên một chút thì khi vui biết cười, khi giận biết la hét. Cái hiểu biết tự nhiên đó, không ai dạy mà biết, là do linh hồn của đứa bé mà Thượng Đế đã ban cho. Nếu phủ nhận linh hồn thì cái hiểu biết tự nhiên đó do đâu mà có ?

      Khi lớn lên hơn nữa, đứa trẻ nhờ sự thông minh sáng suốt mà biết được lẽ phải quấy, lẽ thiện ác; khi làm điều thiện thì nó vui vẻ, khi làm điều ác thì nó bị lương tâm cắn rứt. Cái lương tâm ấy do đâu mà có ? Nó chính là sự thể hiện của linh hồn đứa trẻ, và cái sự thông minh sáng suốt ấy cũng là do linh hồn của nó mà ra.

      Khi đứa trẻ vào trường, học những điều khôn ngoan của người xưa truyền lại, nhờ có trí nhớ, nó thu thập được các điều đó để trở nên khôn ngoan hiểu biết thêm, trí não mở mang. Cái hiểu biết do học tập mà có là của trí não, thuộc về Chơn thần, một thể trung gian giữa Thể xác và Linh hồn.

      Mặt khác, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy bằng cách dùng huyền diệu cơ bút để thông công giữa Ngài và nhơn loại ở thế giới hữu hình.

      Ngài muốn cho nhơn loại thấy rằng, ngoài thế giới vật chất hữu hình, còn có một thế giới siêu tuyệt hơn, thuộc về vô hình của các Đấng Thần Thánh Tiên Phật.

      Hiện tượng Thông Linh học đã được nhơn loại khám phá từ giữa thế kỷ 19 với việc xây bàn nói chuyện với các Vong linh người chết của Văn Hào Victor Hugo tại đảo Jersey của nước Anh.

      Ở Việt Nam, trong giới bình dân, người ta biết dùng một mảnh ván hòm nhỏ để xây cơ ma, nói chuyện với các Vong linh người đã chết. Việc làm nầy rất dễ dàng, ai nghi ngờ không có Linh hồn, đều có thể thử nghiệm được.

      Nhưng một số người vẫn ngoan cố nói rằng Linh hồn ở đâu mà họ không thấy ?

      Vậy, chúng ta cũng hỏi rằng: Chúng ta có thấy được nguyên tử không ? Có thấy được con vi khuẩn không ? Chắc là chưa ai thấy được, nhưng chúng ta tin chắc rằng có nguyên tử, có vi khuẩn, bởi vì các nhà bác học đã nghiên cứu tìm ra được nó, với những hệ quả rõ rệt của nó và công bố lên cho mọi người đều biết.

      Tương tự như thế, vấn đề Linh hồn cũng không ai thấy được, nhưng các nhà khoa học về Thông Linh đã nghiên cứu phát hiện ra với các hệ quả rõ rệt, và các nhà tu luyện có huệ nhãn cũng đã nhận biết được, nên công bố lên cho mọi người đều biết, thì đương nhiên chúng ta phải tin đó là sự thật.

      Trong Giáo lý của Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy chúng ta biết rằng, con người có 3 Thể :

      - Thể xác, thuộc về vật chất hữu hình.
      - Linh hồn, thuộc về vô vi vô hình.
      - Chơn thần, thuộc về bán hữu hình, làm trung gian cho Linh hồn và Thể xác.
      • 1. Thể xác: Đệ nhứt Xác thân, Xác thân phàm.

        1.Thể xác : Đệ nhứt Xác thân, Xác thân phàm.

        Thể xác con người được gọi là Đệ nhứt Xác thân, hay Xác thân phàm, do tinh huyết của cha mẹ phàm trần tạo nên, lớn lên và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm vật chất. Đến khi già nua, tế bào không còn hoạt động được nữa thì chết, thể xác thúi rã biến thành vật chất trở lại.

        Như thế, Thể xác phàm không bền, chỉ sống được một khoảng thời gian rồi chết, nên gọi đó là Giả thân, Xác thân giả tạm.

        Phật giáo cho rằng, xác thân phàm do Tứ đại giả hiệp, nên nó là huyễn, chỉ tồn tại một thời gian rồi phải rã tan để trở về cát bụi.

      • 2. Chơn thần: Đệ nhị Xác thân, Xác thân thiêng liêng.

        2. Chơn thần: Đệ nhị Xác thân, Xác thân thiêng liêng.

        “Chơn thần là gì ? Là Nhị Xác thân (Périsprit), là Xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm níu kéo.

        Cái Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật, là huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu, khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy. “ (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 6)

        “ Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có 2 xác thân : Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel, mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra, nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. . . . .

        Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 29)

        “ Thầy nói : Cái Chơn thần là Nhị xác thân các con, là khí chất (Sperme évaporé), nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tim của nó là óc, nơi xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là Vi Hộ.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 85)

        “ Nơi Ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang, đài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên Chơn thần cho vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.” (Bát Nương giáng cơ trong Luật Tam Thể).

        Cái Chơn thần của mỗi người có được là do Đức Phật Mẫu lấy 2 nguyên khí Âm quang và Dương quang kết hợp tạo thành. Còn lằn Sanh quang của Thái Cực là Điểm Linh quang của Đức Chí Tôn.

        Đức Phật Mẫu thâu Điểm Linh quang nầy làm Linh hồn, rồi tạo ra một Chơn thần tức là Xác thân thiêng liêng bao bọc Linh hồn, tạo thành một con người nơi cõi thiêng liêng.

        Khi một người nơi cõi thiêng liêng được phép đầu kiếp xuống cõi trần thì Chơn thần và Linh hồn đi xuống nhập vào hình hài đứa bé vừa lọt khỏi lòng mẹ, làm cho đứa bé giựt mình phát ra tiếng khóc chào đời. Chơn thần sẽ làm khuôn viên cho thể xác đứa bé lớn lên, còn Linh hồn tạo ra sự hiểu biết và bảo tồn sự sống cho đứa bé.

        Do đó, hình ảnh của thể xác đứa bé là hình ảnh của Chơn thần đứa bé, từ khi ấu thơ đến khi trưởng thành hay đến lúc già.

        Khi Thể xác chết đi thì Chơn thần và Linh hồn xuất ra khỏi Thể xác, bay trở về cõi thiêng liêng. Chơn thần mang lấy hình ảnh của Thể xác như khuôn in rập.

        Cái Chơn thần của người chết có khi hiện hình cho người phàm thấy được, thường gọi đó là Ma hay Hồn Ma, khi thì biến mất, nên Chơn thần thuộc về bán hữu hình, nghĩa là có thể thấy được và có thể không thấy được.

        Chơn thần được Đức Phật Mẫu tạo ra bằng 2 nguyên khí Âm quang và Dương quang, nên Chơn thần có thể đi xuyên qua vật chất, không có gì cản trở được nó. Ánh sáng còn có thể bị vật chất cản trở, nhưng Chơn thần thì giống như từ trường, đi xuyên suốt qua vật chất dễ dàng.

        Đối với người sống, Chơn thần ẩn trong Thể xác phàm, trung tâm của nó là óc, là não bộ, và cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, tức là Nê Huờn Cung.

        Chơn thần liên hệ với Thể xác qua 7 dòng từ điện. Chơn thần ra lịnh điều khiển thể xác qua 7 dòng từ điện nầy, thể xác đòi hỏi Chơn thần làm cho nó thỏa mãn cũng qua 7 dòng từ điện nầy, do đó mà tạo ra nhiều mối oan nghiệt, nên 7 dòng điện từ nầy được gọi là 7 Dây Oan Nghiệt.

        Đức Chí Tôn ban cho Phép Đoạn Căn là để cắt đứt 7 Dây Oan nghiệt nầy, để cho Thể xác không còn kéo níu Chơn thần thì Chơn thần mới có thể bứt ra, lìa khỏi Thể xác mà trở về cõi thiêng liêng.

      • 3. Chơn linh: Linh hồn, Điểm Linh quang.

        3. Chơn linh: Linh hồn, Điểm Linh quang.

        “ Thầy đã nói ra, nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều cho một Chơn linh gìn giữ cái Chơn mạng sanh tồn.

        Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng : Đấng Chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần Thánh Tiên Phật và các Đấng Trọn Lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán xét. Bởi vậy, một mảy không qua, dữ lành đều có trả; lại nữa, cái Chơn linh ấy có tánh Thánh nơi mình, đã chẳng phải gìn giữ các con mà thôi, mà còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi Lương tâm là đó.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 66)

        “ Các con đừng vì tư lợi mà làm mất nhơn cách thì rất uổng cái Điểm Linh quang của Thầy để vào Xác thân của các con lắm. Các con nghe à ! “ (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 102)

        Chơn linh, tức là Linh hồn, là Điểm Linh quang của Đức Chí Tôn Thượng Đế chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài để ban cho mỗi người, có nhiệm vụ tạo nên sự sống, gìn giữ sự sống, tạo nên sự hiểu biết và tánh linh.

        Con người có đủ Tam Hồn : Sanh Hồn, Giác Hồn, Linh Hồn. Cái Linh Hồn ấy mới là quan trọng hơn cả, vì nhờ nó mà phân biệt con người với Thú cầm.

        Chơn linh hay Linh hồn, ngự trong Chơn thần, Chơn thần thì ở trong Xác phàm và rập khuôn theo Xác phàm.

        Đối với một người đang sống nơi cõi trần, Chơn linh ngự tại Trái Tim, bởi vì Trái tim là nơi điều hành và ban phát sự sống cho toàn cơ thể. Do đó, Chơn linh được gọi là Lương tâm, Phật giáo gọi Chơn linh là Tâm, cũng do đó.

        Khi Chơn linh và Chơn thần xuất ra khỏi Thể xác thì Trái tim ngưng đập, Thể xác chết.

        Khi đó, Chơn thần và Chơn linh bay trở về cõi thiêng liêng, trở thành một người nơi cõi thiêng liêng.

        Vậy, một người nơi cõi thiêng liêng chỉ có 2 thể :

        - Một là Chơn thần, tức là Xác thân thiêng liêng.

        - Hai là Chơn linh, ngự trong Chơn thần để điều khiển Chơn thần.

        Còn đối với một người sống nơi cõi phàm trần thì có, ngoài 2 thể trên, còn một thể nữa là : Xác thân phàm.

        Vậy một người nơi cõi trần có 3 thể :

        - Thể xác phàm, Đệ nhứt xác thân, do cha mẹ phàm trần sanh ra, được nuôi dưỡng bằng thực phẩm vật chất.

        - Chơn thần, Đệ nhị xác thân, xác thân thiêng liêng do Đức Phật Mẫu tạo nên. Do đó, Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu, là Mẹ Chơn thần của toàn nhơn loại.

        - Chơn linh, Linh hồn, Điểm Linh quang, do Đức Chí Tôn ban cho để tạo sự sống, sự khôn ngoan hiểu biết. Do đó, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, là Cha Chơn linh của nhơn loại.

        Chơn linh ngự trị trong Chơn thần, Chơn thần ẩn trong Thể xác và làm khuôn cho Thể xác.

        Chơn linh điều khiển Chơn thần, Chơn thần điều khiển Thể xác qua 7 dòng điện từ gọi là 7 Dây Oan nghiệt. Thể xác thường hay đòi hỏi Chơn thần làm cho nó thỏa mãn, và xúi giục Chơn thần đi vào đường vật chất, cũng do theo 7 Dây Oan nghiệt nầy.

        Chơn linh thường ngăn chận Chơn thần không nên chiều theo các đòi hỏi của Thể xác, phải kềm chế và điều khiển Thể xác; nhưng nếu Chơn linh yếu đuối không đủ sức kềm chế Chơn thần, để Chơn thần nghe theo Thể xác, lúc đó, con người đi vào đường vật dục tội lỗi. Khi Thể xác chết, Chơn linh và Chơn thần sẽ bị đày đọa theo Luật Nhân Quả.

    • 3. Con người khi chết đi về đâu ?

      3. Con người khi chết đi về đâu ?

      Như phần 2 vừa trình bày, con người chết không phải là hết, chỉ có Thể xác chết đi, còn Linh hồn và Chơn thần thì bất tiêu bất diệt, xuất ra khỏi Thể xác và trở về cõi thiêng liêng, vì nơi đây là cõi chơn thật của Linh hồn.

      Để giải đáp vấn đề : Con người khi chết đi về đâu ? Chúng ta phân ra làm 3 trường hợp với 3 nhóm người :

      - Người không có tín ngưỡng tôn giáo.
      - Người tín đồ Cao Đài giữ đúng lời Minh Thệ và Luật Đạo.
      - Người tín đồ của các tôn giáo khác.
      • 1. Đối với người không tín ngưỡng

        1. Đối với người không tín ngưỡng

        Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy như sau :

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.I. 74-75 : “ Các con đã sanh tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy. Thầy hỏi : Các con chết rồi, các con ra thế nào ? Các con đi đâu ? Chẳng một đứa nào hiểu đặng cơ mầu nhiệm ấy.

        Thầy dạy : Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong Vật chất mà ra Thảo mộc, từ Thảo mộc đến Thú cầm, loài người, phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị Nhơn phẩm.

        Nhơn phẩm nơi thế nầy lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng. Đứng bực Đế Vương nơi trái Địa cầu nầy, chưa đặng vào hạng chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu, Tam thiên Thế giới thì mới đến Tứ Đại Bộ Châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục Thiên; vào Tam thập lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa, mới đặng đến Bạch Ngọc Kinh, là nơi đạo Phật gọi là Niết Bàn đó vậy.

        Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con nó nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị. . . .

        Vậy Thầy lại dặn các con : Nếu kẻ không tu, làm đủ bổn phận người, công bình chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa, thì biết chừng nào đặng hội hiệp cùng Thầy.

        Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng.

        Mà hại thay ! Mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh hoan lạc thấy đặng kẻ ấy. Vậy Thầy dặn : Đạo là nơi các con nên quí trọng đó vậy.”

        Những người không có tín ngưỡng tôn giáo, khi chết đi, Linh hồn và Chơn thần chưa thể xuất ra khỏi Thể xác được vì bị 7 Dây Oan nghiệt ràng buộc níu kéo, phải chờ đợi một thời gian cho thể xác tan rã, Chơn thần mới bứt rời các sợi Dây Oan nghiệt, để cùng Linh hồn bay lên cõi Trung giới. Tại đây có Minh Cảnh Đài hay Đài Chiếu Giám để cho Linh hồn và Chơn thần nhìn vào tấm kiếng, xem lại tất cả các hành vi và lời nói của mình trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần, để định rõ ràng tội và phước, có cây Cân Công bình thiêng liêng và các Đấng cân phân tội phước cho mỗi Linh hồn.

        - Nếu phước nhiều tội ít thì được chuyển kiếp lần lượt theo các nấc thang tiến hóa mà Đấng Thượng Đế đã dạy trong bài Thánh ngôn nêu trên, tức là tiến hóa theo Thất thập nhị Địa, lên Tam thiên Thế giới, rồi Tam thập lục Thiên, vv . . . . .

        - Nếu phước ít tội nhiều thì Chơn thần và Linh hồn được đưa đến cõi Âm Quang để tịnh tâm xét mình, thấy được các tội lỗi mà mình đã làm để ăn năn sám hối.

        Cõi Âm Quang là cõi mới được lập ra trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để thay thế cõi Địa ngục, bởi vì cõi Địa ngục trước đây là nơi giam giữ và hành phạt các tội hồn, nay Đức Chí Tôn thể lòng từ bi ra lịnh đóng Địa ngục, ân xá các tội hồn, không cho hành phạt các tội hồn nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học đạo. Nơi đây, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn, và Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các Nữ tội hồn. (Xem phần sau : Cõi Âm Quang).

        Những tín đồ Cao Đài thất thệ, không giữ tròn Luật Đạo, hoặc những tín đồ của các tôn giáo khác mà không giữ được giới luật tu hành thì cũng được đưa đến cõi Âm Quang để học đạo, tịnh tâm xét mình. Khi đã biết ăn năn sám hối, các Đấng sẽ cho đầu kiếp trở lại cõi trần để trả quả và cũng để lo tu hành, lập công bồi đức mà trừ bớt tội lỗi.

      • 2. Đối với các tín đồ Cao Đài

        2. Đối với các tín đồ Cao Đài

        Đối với các tín đồ Cao Đài giữ tròn lời Minh Thệ, gìn giữ Luật Đạo, ăn chay được 10 ngày mỗi tháng, sau khi chết, Linh hồn và Chơn thần được hưởng ơn huệ của Đức Chí Tôn trong Đại Ân Xá kỳ 3 nầy.

        Linh hồn và Chơn thần hưởng được các Phép Bí tích : Phép xác, và Phép Đoạn căn cắt đứt 7 Dây Oan nghiệt. Do đó, Chơn thần và Linh hồn xuất ra khỏi Thể xác dễ dàng, được hướng dẫn đi vào Cửu Trùng Thiên, từ từng Trời thứ nhứt lên đến từng Trời thứ 9, do Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung hướng dẫn đưa đi, đúng y theo 9 Bài kinh Tuần Cửu. Ở mỗi từng Trời đều có các Đấng thiêng liêng đón tiếp, giảng giải Đạo lý.

        Khi đến từng Trời thứ 9 là Tạo Hóa Thiên thì được vào Diêu Trì Cung bái kiến Bà MẸ thiêng liêng, Đức Phật Mẫu.

        Đến Tiểu Tường thì Chơn thần và Linh hồn được đưa lên từng Trời thứ 10 là Hư Vô Thiên, vào Ngọc Hư Cung bái kiến Đức Chí Tôn, rồi đến Tòa Tam Giáo thiêng liêng để cây Cân Công bình thiêng liêng cân tội phước. Nếu phước đức nhiều thì được Đức Chí Tôn ban cho phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật tương xứng, nếu tội nhiều thì cầu xin Đức Chí Tôn cứu vớt để ở lại cõi thiêng liêng tu luyện thêm, hoặc cho tái kiếp xuống trần để trả cho xong nghiệp quả.

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.II.92 : “ Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm Quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.”

      • 3. Đối với tín đồ các tôn giáo khác

        3. Đối với tín đồ các tôn giáo khác

        Đối với các tín đồ của các tôn giáo khác thuộc Nhị Kỳ Phổ Độ, con đường tiến hóa do các vị Giáo chủ thời đó đặt ra nay đã bị bế lại, vì đã chuyển qua thời Tam Kỳ Phổ Độ.

        Đối với các tín đồ nầy, họ sẽ đi theo con đường tiến hóa qua Thất thập nhị Địa và Tam thiên Thế giới. Công đức tu hành của họ đạt được mức nào thì họ sẽ được đưa thẳng lên đẳng cấp tiến hóa tương xứng. Vì họ có công tu luyện nên họ được vượt cấp tiến hóa, chớ không phải đi từ từ lên từng cấp bực như những người không tín ngưỡng tu hành.

        Tóm lại, dù Linh hồn đi theo con đường tiến hóa nào, qua Cửu Trùng Thiên hay qua Thất thập nhị Địa, điểm cốt yếu vẫn là công đức lập được trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần, chính cái công đức nầy mới định đoạt phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật cho Linh hồn. Các Linh hồn tội lỗi chất chồng, dù đi trên đường tiến hóa nào, dù có được cầu siêu bao nhiêu lần đi nữa, dù có được làm đám tang lớn lao, và ngôi mộ xinh đẹp to lớn bao nhiêu đi nữa, rốt cuộc cũng phải đến cõi Âm Quang mà thôi.

        Chỉ có việc tu hành, trau tâm sửa tánh, lập đức bồi công, thì mới có thể vượt đẳng cấp tiến hóa, sớm trở về cùng Đức Chí Tôn. Đặc biệt trong thời Đại Ân Xá kỳ ba nầy, Đức Chí Tôn cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Đức Chí Tôn đặng.

    • 4. Đầu thai và Chuyển kiếp
      • 1) Sự giáng trần của các Nguyên nhơn

        1) Sự giáng trần của các Nguyên nhơn

        Một điểm Nguyên hồn do Đức Chí Tôn chiết ra từ khối Đại hồn của Ngài, chưa phải là một Nguyên nhơn, vì chưa có xác thân thiêng liêng (chơn thần). Điểm Nguyên hồn nầy phải được Đức Phật Mẫu thâu nhận, rồi Phật Mẫu dùng 2 nguyên khí Âm quang và Dương quang tạo ra cho nó một Xác thân thiêng liêng, bao bọc Nguyên hồn thì mới trở thành một Nguyên nhơn nơi cõi thiêng liêng.

        Như thế, một Nguyên nhơn nơi cõi thiêng liêng phải có 2 thể : Linh hồn và Chơn thần (Xác thân thiêng liêng).

        Khi Nguyên nhơn được lịnh giáng sanh xuống cõi trần, Nguyên nhơn được hướng dẫn đi xuống, qua các từng Trời thấp dần. Ở mỗi cõi, Nguyên nhơn dùng tinh khí của cõi đó làm một lớp bao bọc thêm bên ngoài Chơn thần để Chơn thần nặng hơn thì mới đi tiếp xuống các cõi thấp hơn được.

        Khi đến cõi trần, Nguyên nhơn sẽ đến với một bà mẹ đang mang thai và chờ đợi ở đó. Sự đến của Nguyên nhơn với bà mẹ theo luật hấp dẫn Đồng Khí tương cầu, nghĩa là bà mẹ đạo đức thì mới hấp dẫn được các Chơn linh đạo đức.

        Khi bà mẹ vừa sanh hài nhi lọt khỏi lòng mẹ, Linh hồn và Chơn thần của Nguyên nhơn liền nhập vào thể xác hài nhi, làm cho hài nhi rung động mạnh, phát ra tiếng khóc và bắt đầu hít thở không khí. Chơn thần sẽ làm khuôn viên định hình hài cho đứa bé, và cùng lớn lên với hình hài ấy, còn Linh hồn thì tạo sự sống cho hài nhi, và những hiểu biết để hài nhi bảo tồn sự sống.

      • 2) Chuyển kiếp đầu thai

        2) Chuyển kiếp đầu thai

        Một người nơi cõi trần, khi Thể xác chết thì Linh hồn và Chơn thần xuất ra, rời bỏ Thể xác, đi trở về cõi thiêng liêng, nơi đây, Linh hồn và Chơn thần được xem xét tội phước và định phận.

        Nếu được cho chuyển kiếp đầu thai trở lại cõi trần thì diễn tiến như sau :

        Trước hết, các vị Phật nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên như : Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, vv . . . lãnh nhiệm vụ nơi Đức Phật Mẫu, dùng Chơn thần cũ của người đó làm chất liệu để nắn đúc ra một Chơn thần mới với hình ảnh tốt đẹp hay xấu xí tùy theo nghiệp lực của Chơn thần cũ và trình độ tiến hóa của Linh hồn. Nếu Linh hồn đã tiến hóa cao thì hình ảnh của Chơn thần tốt đẹp, trái lại, nếu Linh hồn kém tiến hóa thì hình ảnh của Chơn thần thô kệch xấu xí.

        Chúng ta lưu ý rằng, Chơn linh hay Linh hồn chỉ là một Điểm Linh quang nên không thay đổi, còn Chơn thần thì có hình ảnh thay đổi tùy theo trình độ tiến hóa của Linh hồn.

        Linh hồn và Chơn thần mới được đưa xuống cõi trần, đến với một bà mẹ đang mang thai theo luật hấp dẫn đồng khí tương cầu. Khi hài nhi vừa được sanh ra khỏi lòng mẹ, Linh hồn và Chơn thần mới liền nhập vào thể xác hài nhi qua cái cửa Nê Huờn Cung, nơi mỏ ác, làm cho thể xác của hài nhi rung động, bật ra tiếng khóc, bắt đầu hít thở không khí, và cũng bắt đầu một kiếp sống mới nơi cõi trần . Kể từ đó, Thể xác, Chơn thần và Linh hồn đứa bé có đời sống độc lập đối với bà mẹ và lớn lên dưới sự điều khiển của Linh hồn.

      • 3) Đức Phạm Hộ Pháp giảng về Bí Pháp, có nói về chuyển kiếp đầu thai

        3) Đức Phạm Hộ Pháp giảng về Bí Pháp, có nói về chuyển kiếp đầu thai

        Trong Thuyết đạo, Đức Phạm Hộ Pháp giảng về Bí Pháp, có nói :

        “ Con dương trùng (tinh trùng) của cha nhập vô ôm khít với âm trùng (noãn châu) của mẹ, dương trùng của cha tạo biến hình hài xương cốt chúng ta, còn âm trùng của mẹ chúng ta biến ra máu thịt của chúng ta đó vậy. Hai con vi trùng ấy ôm khít lại với nhau thành tượng biến hình hài.

        Hai cái tinh trùng hiệp lại khác hẳn với cái hình tướng tinh trùng đơn sơ, khi nhập vào, 2 con làm thành một.

        Buổi tượng hình chúng ta thì Chơn thần của chúng ta còn ở ngoài thân, ngoài cốt hài của chúng ta. Nó vơ vẩn hoặc là quanh theo bà mẹ, ở dựa bên, nhứt là bà mẹ đi nơi nào, nó đều theo nơi đó. Chơn thần theo người mẹ có chửa. Nếu người mẹ có đạo đức, dám chắc đi đâu chưa có sự gì rủi ro đến thiệt hại. Bởi cớ cho nên đứa con theo mãi, theo cho đến khi tượng hình chúng ta ra khỏi lòng bà mẹ, Chơn thần ấy mới nhập vô ảnh hài đó, làm khuôn viên cho ảnh hài đó.”

        “Ngộ nghĩnh thay, nếu chúng ta ngó thấy tinh thần chúng ta đầy đủ đạo đức chừng nào thì Chơn thần ảnh hài càng ngày càng đẹp, càng tăng tiến.”

        Một vấn đề đặt ra là khi đứa bé lớn lên, tại sao nó không nhớ được các việc trong tiền kiếp của nó ?

        Việc ghi nhớ các việc đã qua trong kiếp sống là do nơi trí não thuộc về Chơn thần.

        Như đã trình bày ở trên, chư Phật nơi Tạo Hóa Thiên dùng cái “Chơn thần cũ” nắn đúc lại thành cái “Chơn thần mới”, rồi phủ lên đó một tấm màn bí mật che lấp hết các ký ức cũ. Các ký ức cũ vẫn còn đầy đủ, không bao giờ mất, rút vào trong bộ nhớ ở trong Chơn thần, nhưng bị che kín bởi một màn bí mật, làm cho đứa bé không thể nhớ được tiền kiếp của nó. “Chơn thần mới” chỉ là biến tướng của “Chơn thần cũ” do phép huyền diệu của Đức Phật Mẫu tạo ra để che giấu những sự việc trong tiền kiếp, đồng thời định ra hình ảnh mới cho thể xác trong kiếp sống mới cho thích hợp với trình độ tiến hóa của Linh hồn.

        Khi đứa bé trưởng thành, nếu biết cách công phu tu luyện thì có thể mở được tấm màn bí mật nói trên, sẽ biết rõ tiền kiếp của mình. Được như thế gọi là đạt được trí huệ, lúc đó thì trình độ đạo đức tiến hóa rất cao, tức nhiên đắc đạo tại thế.

    • 5. Địa vị của con người trong vũ trụ
      • Thượng Đế.

        Thượng Đế.

        Thượng Đế đã tạo ra con người với một hình ảnh tốt đẹp thiêng liêng. Cho nên, mỗi một con người nơi cõi trần nầy đều là một Tiểu Thượng Đế.

        Trời có gì thì con người đều có nấy. Trời là Đại Vũ trụ thì người là Tiểu Vũ trụ, Trời là Đại Thiên Địa thì người là Tiểu Thiên Địa, Trời là Đại Hồn thì người là Tiểu Hồn, Trời là Đại Linh quang thì người là Tiểu Linh quang. Cho nên, con người đứng vào hàng Tam Tài cùng với Trời Đất.

        Địa vị của con người rất quan trọng trong vũ trụ. Nếu vũ trụ không có con người thì vũ trụ không hoàn toàn, bởi vì vũ trụ là một đại hòa điệu của Thiên Địa Nhơn (Tam Tài), nếu thiếu một yếu tố thì sự hòa điệu không còn.

        Tam Tài là gốc của muôn vật. Trời sanh ra, Đất nuôi dưỡng, Người làm nên. Một Nhất Nguyên sinh thành là Trời, là Thượng Đế, nhưng Tam Tài đồng nhất thể. Như thế đủ thấy địa vị con người trong Càn Khôn Vũ Trụ rất là trọng đại, rất là cao cả.

        “ Khai Thiên Địa là Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy đã nói, một Chơn thần mà biến ra Càn Khôn Thế Giới và cả nhơn loại.

        Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy.

        Các con là chư Phật, chư Phật là các con.

        Có Thầy rồi mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần Thánh Tiên Phật. “ (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 52)

        “ Bởi vậy một Chơn thần Thầy mà sanh hóa thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 31)

        Con người cần phải biết rõ địa vị quan trọng và cao cả của mình trong Càn Khôn Vũ Trụ, để xây dựng một đời sống cao thượng xứng đáng với phẩm vị mình, thuận tùng Thiên lý để được tiến hóa nhanh.

        - Phái Triết học Duy Vật hoàn toàn phủ nhận Thượng Đế và Linh hồn.

        - Phật giáo xem Thượng Đế chỉ là một vị Phạm Thiên, có địa vị thấp kém hơn Phật, và Phật giáo (Tiểu Thừa) phủ nhận Linh hồn, nhưng lại đưa ra quan niệm về Thần thức.

        - Các tôn giáo khác như : Đạo Bà-La-Môn, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Nho giáo, Lão giáo, Thần đạo, Thông Thiên Học, vv . . . đều nhìn nhận sự hiện hữu của Thượng Đế và nhìn nhận mỗi người đều có một Linh hồn.

        Dù có phủ nhận hay nhìn nhận Thượng Đế, dù có hủy báng Thượng Đế thì Thượng Đế vẫn là Chơn lý tuyệt đối, tối thượng, hằng hữu, bất biến, là nguyên lý độc nhất tạo dựng Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật, là Đấng Chí Tôn tối cao tối đại, toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ.

        * Thượng Đế là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh, là Đấng sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật, nên gọi Ngài là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế.

        * Thượng Đế là chủ của chư Thần Thánh Tiên Phật. Ngài là vị Phật lớn nhứt trong các vị Phật, là vị Tiên lớn nhứt trong các vị Tiên, là vị Thánh lớn nhứt trong các vị Thánh, … nên gọi Ngài là Đấng Đại Thiên Tôn.

        * Thượng Đế là CHA của toàn thể vạn linh, tức là Cha của Bát hồn : Phật hồn, Tiên hồn, Thánh hồn, Thần hồn, Nhơn hồn, Thú cầm hồn, Thảo mộc hồn và Kim thạch hồn.

        Do đó vạn linh gọi Thượng Đế là Đại Từ Phụ. Còn Đức Phật Mẫu là MẸ của chơn thần vạn linh sanh chúng, nên gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu.

        * Thượng Đế là Chơn lý tối thượng vì “Khí Hư Vô sanh ra có MỘT Thầy”. Chỉ có một Thượng Đế, chỉ có một ngôi Thái Cực, nên gọi là tuyệt đối.

        Do đó, trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy, không ai lớn hơn Thượng Đế, tất cả đều do Thượng Đế hóa sanh, nên Thượng Đế là Đấng tối thượng, hay tối cao tối đại.

        Càn Khôn Vũ Trụ có thể bị tiêu diệt, nhưng Thượng Đế thì bất diệt, hằng hữu, bất biến vì Thượng Đế sinh ra ngay khi diệt, nên cũng là không sinh không diệt, tức là bất biến. Càn Khôn Vũ Trụ chịu luật thành trụ hoại diệt, và khi vũ trụ bị diệt thì Thượng Đế sẽ tái tạo một Càn Khôn Vũ Trụ mới tiến hóa và tốt đẹp hơn. Nói là Càn Khôn Vũ Trụ bị diệt chớ thực sự nó không tiêu mất, mà Đấng Thượng Đế chỉ biến đổi hình thể của nó để thích hợp với sự tiến hóa mới.

        Toàn tri là biết tất cả, biết đến cùng tận, đủ các phương diện. Toàn năng là làm được tất cả, và làm giỏi hơn tất cả. Nếu chỉ biết thiện mà không biết ác thì còn có chỗ chưa biết, tức là chưa toàn tri. Nếu chỉ làm Phật mà không thể làm Ma thì cũng có chỗ chưa làm được, nên chưa toàn năng.

        Thượng Đế là Đấng toàn tri toàn năng nghĩa là biết tất cả và làm được tất cả, từ đại ác tới đại thiện, từ tối trược cho tới tối thanh, từ Quỉ ma đến Tiên Phật, và Thượng Đế sử dụng cái toàn tri toàn năng nầy để thúc đẩy cơ tiến hóa của Càn khôn trong minh triết tối cao của Ngài để trở thành là Đấng Đại Từ Bi, bởi vì cái nào hữu ích cho tiến hóa là thiện, là từ bi; còn cái nào ngăn cản sự tiến hóa thì cái đó là ác, là xấu xa.

      • Con người là một Tiểu Thượng Đế.

        Con người là một Tiểu Thượng Đế.

        Con người là một chiết linh của Thượng Đế, là một Tiểu Linh quang của khối Đại Linh quang. Như vậy, con người chính là một Tiểu Thượng Đế, hay nói nôm na, mỗi người chúng ta là một Ông Trời Con. Thượng Đế cho chúng ta xuống cõi trần nầy là để nương theo xác thân phàm mà học hỏi và tiến hóa. Nếu chúng ta tiến hóa nhanh, tức là thi đậu sớm thì sẽ trở về sớm; còn nếu chúng ta tiến hóa chậm, hoặc thoái hóa, tức là chúng ta thi rớt, phải học lại để thi lại, thì phải trở về chậm.

        Như thế, con người là một Linh tử trong Càn Khôn Vũ Trụ, có một đời sống miên viễn bất tận, luôn luôn thay đổi để tiến hóa, tức là chuyển luân qua các cõi giới để học hỏi đủ các thứ bài học mà tiến hóa, và mức tiến hóa cuối cùng là trở thành Thượng Đế để hòa nhập vào Thượng Đế.

      • Đại Từ Phụ, Đại Từ Mẫu.

        Đại Từ Phụ, Đại Từ Mẫu.

        Toàn cả chúng sanh đều là con cái của Chí Tôn và Phật Mẫu, nên gọi hai Đấng ấy là Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu.

        Đức Chí Tôn có triều chánh uy nghi, nên khi chầu lễ Đức Chí Tôn, chúng ta phải mặc phẩm phục áo mão như chốn triều đình.

        Còn đối với Đức Phật Mẫu là Bà Mẹ thiêng liêng, nên tất cả con cái, dù phẩm tước lớn nhỏ thế nào, cũng đều là con của Mẹ, nên chỉ đến với Mẹ với tư cách là một đứa con mà thôi. Do đó, khi vào chầu lễ Đức Phật Mẫu, tất cả Chức sắc Nam Nữ đều không mặc phẩm phục, chỉ mặc một cái áo dài trắng bình thường, vì ai cũng như ai, đều là con của Phật Mẫu, và chúng ta thấy có một sự bình đẳng hoàn toàn.

      • Sự bình đẳng giữa Nam và Nữ.

        Sự bình đẳng giữa Nam và Nữ.

        Trong Đạo Cao Đài, sự bình đẳng giữa Nam và Nữ được thể hiện rất rõ rệt mà không có một nền tôn giáo nào từ trước tới nay có được.

        Đối với Cửu Trùng Đài và Cơ Quan Phước Thiện, hễ Nam phái có phẩm tước nào thì Nữ phái cũng có phẩm tước đó, quyền hạn ngang bằng nhau. Chức sắc Nữ phái chỉ điều hành tín đồ Nữ phái; Chức sắc Nam phái thì điều hành tín đồ Nam phái. Quyền hành Nam Nữ riêng biệt, không xen lấn nhau.

        “Bao nhiêu Nam tức bao nhiêu Nữ. Nam biết thành Tiên Phật, chớ Nữ lại không sao ? Thầy đã nói: Bạch Ngọc Kinh có cả Nam lẫn Nữ, mà phần nhiều Nữ lấn quyền thế hơn Nam nhiều.” (Lời Thánh Ngôn nầy trích trong Pháp Chánh Truyền).

    • 6. Thiên Đàng và Địa Ngục
      • Thiên đàng.

        Thiên đàng

        - Thiên đàng hay Thiên đường là cõi Trời, cõi có đầy đủ các sự tốt đẹp và an lạc, hạnh phúc, nơi đó con người sống vui vẻ đời đời, không có sự chết, không có sự lo âu phiền não, nên cũng gọi cõi đó là cõi Thiêng liêng Hằng sống.

        Đây là cõi để cho các Linh hồn mà trong kiếp sống nơi cõi trần đã lập được nhiều công đức, trở về nơi đó để an nghỉ và vui hưởng.

        Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống có rất nhiều từng lớp từ thấp lên cao, càng lên cao thì càng thanh nhẹ và tốt đẹp.

        Trong cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, bên dưới là Cửu Trùng Thiên gồm 9 từng Trời dành cho Cửu phẩm Thần Tiên, tiếp lên trên là:

        - Từng Trời thứ 10 : Hư Vô Thiên.
        - Từng Trời thứ 11 : Hội Nguơn Thiên.
        - Từng Trời thứ 12 : Hỗn Nguơn Thiên.

        Ba từng Trời nầy gọi chung là cõi Phật, cõi Niết Bàn, nơi đó có Cực Lạc Thế Giới mà thời Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Phật A-Di-Đà làm Giáo chủ. Lên cao tiếp tục, ta có Tam thập lục Thiên, tức là 36 từng Trời và cao nhất là Bạch Ngọc Kinh, nơi thường ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

        (Xem chi tiết trong phần Vũ trụ quan nối tiếp phía sau).

      • Địa Ngục.

        Địa Ngục.

        - Địa Ngục là nhà ngục ở dưới đất để giam giữ và trừng phạt các tội hồn. (Tội hồn là những Linh hồn của những người mà trong kiếp sanh nơi cõi trần đã phạm nhiều tội ác). Nơi cõi Địa ngục có những hình phạt rất ghê gớm, đọc trong Kinh Sám Hối thì rõ.

        Nhưng hễ có thưởng thì phải có phạt, luật công bình định vậy. Hễ có cõi Thiên đường thì phải có cõi Địa ngục. Thiên đường và Địa ngục là thể hiện sự thưởng phạt công bình trong Luật Nhân Quả.

        Có công đức thiện lành thì được thưởng bằng những phẩm vị cao trọng nơi cõi Thiên đường, còn tội lỗi gian ác thì bị phạt đày nơi cõi Địa ngục. Thiên đường và Địa ngục là 2 đối trọng cần thiết trong cán cân công bình thiêng liêng của Đức Chí Tôn và cũng là những lực cần thiết để thúc đẩy sự Tiến hóa trong Càn Khôn Vũ Trụ.

        Nhưng từ khi mở Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn đại khai Ân Xá, Đức Chí Tôn cho đóng cửa Địa ngục, không cho hành phạt các tội hồn, lại mở rộng cửa Trời để đón tiếp những người đầy đủ công đức đắc đạo trở về.

        Đối với các tội hồn thì Đức Chí Tôn lập ra cõi Âm Quang ở giữa Thiên đường và Địa ngục để đưa các tội hồn đến cõi Âm Quang học đạo, định tâm tĩnh trí xét mình, nhìn lại những hành động sai trái lỗi lầm của mình trong lúc sống nơi cõi trần mà ăn năn sám hối.

        Nơi cõi Âm Quang có các Đấng Phật Tiên đến đây để giáo hóa, an ủi các tội hồn, giảng giải cho biết rõ 2 đường thiện ác, chánh tà. Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát lãnh phần giáo hóa các Nam tội hồn, và Thất Nương Diêu Trì Cung lãnh phần giáo hóa các Nữ tội hồn. Ở cõi Âm Quang chỉ có giáo hóa chớ không có trừng phạt, khác hẳn cõi Địa ngục trước đây, vì hưởng được thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn.

        Thất Nương Diêu Trì Cung giảng giải về cõi Âm Quang như sau:

        “Em nên nói rõ Âm Quang là gì trước đã, rồi thì mấy chị mới hiểu đặng. (Em là tiếng tự xưng của Thất Nương).

        Âm Quang là nơi Thần Linh Học gọi là Trường Đình của chư hồn giải thể hay nhập thể. Đại Từ Phụ đã định nơi ấy cho Phật gọi là “Tịnh Tâm Xá”, nghĩa là nơi của chư hồn đến đó đặng tịnh tâm xét mình coi trong kiếp sanh có bao nhiêu phước tội. Vậy nơi ấy là nơi xét mình. Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm Quang.

        Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm Quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.

        Ôi! Tuy vân, hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy. Đó là mấy đạo hữu tín đồ bị thất thệ. Em trông thấy bắt đau lòng, phái Nữ lại là phần đông hơn hết.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 91-92)

        “ Nơi Diêu Trì Cung còn có cõi Âm Quang riêng biệt gọi là Phong Đô, đặng giáo hóa các chơn hồn đã bị lạc nẻo trên đường trần.” (Bát Nương giáng cơ trong Luật Tam Thể)

        “ Thưa cùng mấy chị, Em xin nhắc nhở điều nầy : (Em là tiếng tự xưng của Thất Nương Diêu Trì Cung)

        Ngày Hội Ngọc Hư đặng lo tiếp pháp của Tây phương Cực Lạc, Em đã đặng nghe thấy những lời của Địa Tạng Vương Bồ Tát than thở rằng : Ngài là Phật, nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ giải thoát mê đồ. Bởi cớ, nơi Âm Quang, Nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn Nam phái bội phần. Em lại nghe Người ước rằng : Chớ chi có một Đấng Nữ Tiên dám đảm đương đến phổ tế mới mong tận độ chư vong linh của Phong Đô thoát kiếp.

        Em mới để dạ lo lường, cả lòng lân ái đến đó. Em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu thảm lạ thường. Em đã liệu nhiều phương thế cho từ đây mấy chơn hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm Quang hãm tội.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 91)

        Nói tóm lại, khi Đức Chí Tôn Thượng Đế khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vào năm Bính Dần (1926) thì Đức Chí Tôn Đại Khai Ân Xá, cho đóng cửa Địa ngục, giải thoát hết các tội hồn nơi đó, cho đi đầu kiếp nơi cõi trần để trả quả, đồng thời Đức Chí Tôn cho mở riêng một cõi giữa Thiên đường và Địa ngục, gọi là cõi Âm Quang, thuộc Diêu Trì Cung để cho các Linh hồn tội lỗi đến đó định tâm định trí, xét nét lỗi lầm của mình, mà ăn năn sám hối, cầu xin Đức Chí Tôn độ rỗi. Nơi đây chỉ có giáo hóa chớ không có hình phạt, để các chơn hồn giác ngộ, thấy rõ chánh tà, thiện ác.

        Nơi cõi Âm Quang có Đức Địa Tạng Vương Bồ tát giáo hóa các Nam tội hồn và Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các Nữ tội hồn. Các chơn hồn nào biết ăn năn sám hối tội tình, biết được lẽ thiện ác, chánh tà thì được cho đi đầu kiếp để trả cho xong nghiệp quả và lo tu hành để lập công trừ tội.

    • 7. Quan niệm đúng đắn về cuộc sống
      • 1). Con người nơi cõi thiêng liêng và cõi phàm trần.

        1). Con người nơi cõi thiêng liêng và cõi phàm trần.

        Một con người nơi cõi thiêng liêng có một Điểm Linh quang gọi là Chơn linh hay Linh hồn do Đức Chí Tôn ban cho và một Xác thân thiêng liêng gọi là Chơn thần, do Đức Phật Mẫu tạo thành. Do đó, nguồn gốc căn bản của con người là ở nơi cõi thiêng liêng, và cõi thiêng liêng nầy mới chính là cõi sống chơn thật của con người.

        Khi con người được phép đầu thai xuống cõi trần thì có thêm một xác thân phàm do cha mẹ phàm trần tạo ra để có một đời sống nơi cõi phàm trần.

        Như vậy, cuộc sống toàn thể của một con người trong Càn Khôn Vũ Trụ gồm có 2 giai đoạn nối tiếp luân phiên nhau mãi với nhau cho đến bất tận :

        - Thời gian đầu, con người sống nơi cõi thiêng liêng được an nhàn tự tại, tiêu diêu cực lạc. Nhưng vì nhu cầu học hỏi và tiến hóa, người đó làm một chuyến du học xuống cõi phàm trần.

        - Người đó sẽ được cha mẹ phàm trần tạo ra một xác thân phàm để được sống nơi cõi phàm trần mà học hỏi, làm việc, chứng nghiệm, tiến hóa.

        Nơi cõi phàm trần, các nền tôn giáo là những trường Đại học đạo đức, cõi đời là Trường thi công quả, giải khổ và thoát khổ là đề tài luận án của Phật Tiên.

        Khi xác phàm đã già nua, không hoạt động được nữa, đến lúc sắp hư hoại thì người đó (Chơn thần và Linh hồn) rời bỏ xác phàm, trở về cõi thiêng liêng là nơi quê cũ, chấm dứt một chuyến đi du học xa đầy hấp dẫn.

        - Linh hồn và Chơn thần trở về, đến trình diện với 2 Đấng CHA MẸ thiêng liêng, để báo cáo thành quả đạt được trong chuyến du học, trình ra những cấp bằng đạt được. Đức Chí Tôn sẽ khen thưởng bằng cách ban cho những phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật tương xứng.

        Còn nếu Linh hồn và Chơn thần thi rớt, không đạt được bằng cấp nào, lại còn mắc phải nhiều món nợ nơi cõi trần thì Linh hồn và Chơn thần được lưu lại cõi thiêng liêng một thời gian để quán xét, suy nghiệm những việc thất bại đã qua, rút kinh nghiệm, để rồi được trở xuống cõi trần một chuyến du học nữa, học lại các bài học, thi cho đậu, và lo trả cho xong các món nợ đã vay trong chuyến trước.

        Như vậy, đời sống của con người nơi cõi thiêng liêng mới thật là đời sống chánh thức, thiệt thọ và vĩnh viễn, còn đời sống nơi cõi trần chỉ là một giai đoạn ngắn (để du học, công tác) trong toàn thể một cuộc sống bất tận của con người.

        Đó mới thật là một quan niệm đúng đắn duy nhứt về cuộc sống của con người trong Càn Khôn Vũ Trụ, vì nó đứng trên cái nhìn toàn diện, sinh động và rốt ráo.

        · Đời sống nơi cõi thiêng liêng là để nghỉ ngơi, an hưởng, hay để suy nghĩ, và sắp đặt kế hoạch cho một chuyến công tác hay du học mới sắp tới.

        · Đời sống nơi cõi phàm trần là để học hỏi, làm việc, kinh nghiệm, thử thách và tiến hóa.

      • 2). Tại sao con người cần phải xuống cõi phàm trần để học hỏi và tiến hóa ?

        2). Tại sao con người cần phải xuống cõi phàm trần để học hỏi và tiến hóa ?

        Con người không thể ở cõi thiêng liêng học hỏi và tiến hóa được sao ?

        Bởi vì nơi cõi trần nầy có đủ các bài học từ trược đến thanh, từ ác đến thiện, từ tà mị gian dối đến chánh trực chơn thật, con người sẽ được học đầy đủ và chiêm nghiệm. Vả lại, nơi cõi trần, khí ô trược có đến 2 phần, còn khí thanh khiết chỉ có 1 phần, nên xu hướng vật chất mạnh gấp đôi xu hướng tinh thần, mà nếu con người biết đè nén lòng vật dục để lo phụng sự nhơn sanh thì sẽ đoạt được công quả rất lớn, nhứt định sẽ được tiến hóa vượt bực mau chóng.

        Do đó, đời sống của con người nơi cõi phàm trần có 4 mục đích chánh yếu sau đây :

        1. Học hỏi : Học sao cho thông hiểu tất cả những gì mà Đức Chí Tôn đã bày ra nơi cõi trần để làm nấc thang tiến hóa cho các đẳng chơn hồn.

        2. Lập Công quả: Nhìn thấy các bạn đồng sanh đang sống lạc hướng, lặn ngụp trong sông mê bể khổ, chìm đắm trong chốn danh lợi quyền, mãi miết đi trên đường vật dục, thì ta phải làm thế nào để giúp cho các bạn ấy thức tỉnh và giác ngộ, hiểu biết như ta, để trở lại con đường chơn chánh, đi đúng mục tiêu tiến hóa. Ta phải đem hết khả năng của mình ra để giúp đỡ và dẫn dắt họ.

        3. Trả nợ : Nếu trong các kỳ du học trước, ta đã gây ra nhiều nợ nần oan trái, thì trong kỳ du học nầy, nhứt định ta phải lo trả cho xong các món nợ cũ dù phải đau khổ hy sinh.

        4. Không gây nợ mới : Kinh nghiệm về sự trả nợ rất đau khổ, ta không nên gây ra thêm một món nợ oan nghiệt nào hết. Các điều răn cấm, các giới luật tôn giáo là những rào chắn rất hiệu quả để ngăn chận ta không gây thêm nợ.

        Thực hiện được 4 điều trên đây, thì chuyến du học nầy chắc chắn đạt được thành công mỹ mãn. Hai Đấng CHA MẸ thiêng liêng chắc sẽ rất hài lòng và các bạn thiêng liêng sẽ đón tiếp ngày trở về của ta thật vinh hiển huy hoàng.

    • 8. Phần kết

      8. Phần kết

      Nhơn sanh quan của Đạo Cao Đài đã giải quyết được các điểm chánh yếu mà từ xưa tới nay, các phái Triết học Duy Tâm và Duy Vật đã tốn nhiều thời giờ và giấy mực bàn cãi rất nhiều mà chưa đạt được một kết luận dứt khoát hợp lý nào thỏa mãn được các phái.

      • 1). Về nguồn gốc của loài người, con người từ đâu tới ?.

        Về nguồn gốc của loài người, con người từ đâu tới ?.

        Người nguyên thủy (Thủy tổ loài người) là các Hóa nhân do loài vượn cao cấp (vượn-người) tiến hóa mà thành.

        Cái nguồn gốc nầy không có gì để làm cho chúng ta xấu hổ, vì mọi vật từ cõi thiêng liêng đến cõi phàm trần đều nằm trong Luật Tiến Hóa của Thượng Đế. Chính Đức Phật Thích Ca mà ai ai cũng đều sùng bái, chỉ là một Hóa nhân, nhờ công phu tu luyện mà thành Phật. Đức Phật có thuật lại, tiền thân của Ngài trong nhiều kiếp là loài cầm thú.

        Hóa nhân xuất hiện trước, lần lần đông đảo rồi thì Thượng Đế mới cho một số Nguyên nhân đầu kiếp xuống trần, do các Nữ Hóa nhân sanh ra, để khai hóa các Hóa nhân.

        Nguyên nhân là những người được Đức Thượng Đế và Đức Phật Mẫu tạo ra từ lúc Khai Thiên, được Đức Chí Tôn cho đầu kiếp xuống trần, ngoài nhiệm vụ khai hóa các Hóa nhân, Nguyên nhân còn phải lo học hỏi và tiến hóa.

      • 2). Con người có Linh hồn không ?

        Con người có Linh hồn không ?

        Điều nầy không còn gì để nghi ngờ nữa, bởi vì khoa Thông Linh Học hiện nay trên thế giới đã chứng minh sự hiện hữu của Linh hồn trong mỗi con người.

        Hiện tượng xây cơ ma trong giới bình dân cũng chứng tỏ được người chết không phải là hết, mà Linh hồn người chết vẫn tồn tại, nên có thể nói chuyện được với người sống qua trung gian của cây cơ.

        Trong Đạo Cao Đài, hiện tượng Cơ Bút chứng tỏ rằng có Đấng Thượng Đế, có các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, có thế giới vô hình rất huyền diệu mà trí não phàm tục của con người không thể hiểu thấu được.

        Con người có 3 thể : Thể xác (hữu hình), Linh hồn (vô hình) và thể thứ ba là Chơn thần (bán hữu hình) làm trung gian cho Thể xác và Linh hồn.

        Đấng Thượng Đế đã dạy cho chúng ta biết rõ về thể thứ 3 nầy. Đây là điểm rất mới trong Giáo lý của Đạo Cao Đài, nhờ đó có thể giải rõ các hiện tượng của con người từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình qua vô hình.

        Con người nơi cõi thiêng liêng (vô hình) chỉ có 2 thể : Linh hồn và Chơn thần (Xác thân thiêng liêng).

      • 3). Con người khi chết đi về đâu ?

        Con người khi chết đi về đâu ?

        Khi Thể xác (Xác thân phàm) chết, xác thân nầy sẽ thúi rã và lâu ngày sẽ trở thành đất, còn Chơn thần và Linh hồn sẽ xuất ra khỏi thể xác để đi về cõi thiêng liêng, đến trình diện với hai Đấng Phụ Mẫu thiêng liêng là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

        Đức Chí Tôn xem xét các việc phước đức và tội tình mà Linh hồn và Chơn thần đã gây ra trong kiếp sống nơi cõi trần để khen thưởng hay bắt đi đầu kiếp trở lại mà trả quả.

        Chừng nào Linh hồn và Chơn thần làm được những việc hoàn toàn tốt đẹp nơi cõi trần, xứng đáng là một Tiểu Thượng Đế thì khi trở về, Đức Chí Tôn sẽ khen thưởng xứng đáng và được hội hiệp cùng Đức Chí Tôn.

        Con người là một Linh tử trong Càn Khôn Vũ Trụ, có một đời sống miên viễn bất tận. Đời sống nầy bao gồm 2 giai đoạn nối tiếp luân phiên nhau mãi mãi đến vô cùng :

        - Đời sống nơi cõi thiêng liêng để nghỉ ngơi, an hưởng và suy nghiệm.
        - Đời sống nơi cõi phàm trần là để học hỏi, lập công quả, tu luyện, để được tiến hóa nhanh.

        Như thế thì mục đích của đời sống con người là để học hỏi và tiến hóa, tiến hóa mãi không ngừng, để cho Càn khôn cùng tiến hóa mãi mãi như các sự vận chuyển của các tinh cầu trong Càn Khôn Vũ Trụ.

  • VIII. Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài.
    • Quan niệm về Vũ trụ của Đạo Cao Đài

      Quan niệm về Vũ trụ của Đạo Cao Đài

      Quan niệm về Vũ trụ của Đạo Cao Đài giải đáp một cách minh bạch các vấn đề về vũ trụ sau đây :

      - Sự hình thành của vũ trụ hiện hữu như thế nào ?
      - Vũ trụ hiện hữu có giới hạn không ? Gồm có bao nhiêu ngôi sao ?
      - Vũ trụ có vô thỉ vô chung không ?
      - Những khám phá của khoa học ngày nay có phù hạp với Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài không ?
      - Địa vị của Quả Địa cầu của nhơn loại chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ.

      Đó là những vấn đề then chốt về Vũ trụ mà Triết lý Cao Đài sẽ đề cập đến với nhiều mới lạ chưa từng thấy.

      Theo Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài thì Vũ trụ hiện hữu của chúng ta có 2 phần :

      - Phần Hữu hình thấy được.
      - Phần Vô hình không thấy được.
    • Phần hữu hình của Vũ trụ.
      • 1. Sự Hình thành Vũ trụ.

        1. Sự Hình thành Vũ trụ.

        Sự hình hành Vũ trụ theo Triết lý của Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn giảng dạy, tóm gọn trong 2 đoạn Thánh Ngôn sau đây :

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 62 : “Thầy đã nói với các con rằng : Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng, mới lập ra Càn khôn Thế giới .

        Thầy lại phân Tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là : Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm, gọi là chúng sanh.”

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 32 : “ Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.”

        Trong sách Đại Thừa Chơn Giáo, phần Vũ trụ, Đức Chí Tôn giảng dạy như sau :

        “ Trước khi chưa định Ngôi Thái Cực, thì trong khoảng không gian ấy còn đương mịt mịt mờ mờ với khí Hông Mông, vì đó là thời kỳ Hỗn Nguyên vậy. Không gian ấy là Vô Cực.

        Trong Vô Cực ấy lại có một cái Nguyên Lý thiên nhiên tuyệt diệu tuyệt huyền, rồi lại có thêm một cái Nguyên Khí tự nhiên nữa. Lý với Khí ấy, tức là Âm với Dương trong buổi Hồng Mông thời đại.

        Lý Khí ấy lần lần ngưng kết với nhau mà đông tụ lâu đời nhiều kiếp, mới thành ra một khối Tinh Quang rất đầy đủ các sự tốt đẹp. Chừng đúng ngày giờ, khối ấy nổ tung ra một tiếng vang lừng dữ dội phi thường, làm rúng động cả không gian, bèn có một khối Đại Linh Quang từ trong tiếng nổ ấy văng ra lăn lộn quây quần giữa chốn không trung, bắn tủa hào quang rất chiếu diệu rạng ngời, trùng trùng điệp điệp, rực rỡ chói lòa khắp cả mọi nơi.

        Ấy chính là ngôi Chúa Tể của Càn khôn Vũ trụ đã được biến hóa ra vậy.

        Vũ trụ từ đây mới bắt đầu có Ngôi Thái Cực, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng, nắm trọn quyền hành thống chưởng cả Càn Khôn Vũ Trụ và lấy cơ thể Âm Dương mà phân thanh biện trược, làm máy động tịnh để gom tụ Khí Hư Vô, đặng hóa sanh muôn loài vạn vật.

        Máy Âm Dương ấy cứ vần vần xoay chuyển, không ngưng nghỉ một giờ khắc nào, để dưỡng dục chúng sanh, bảo tồn Thiên Địa.

        Khắp trong Vũ trụ, biết bao là quả Linh cầu, có quả trược, có quả thanh, có bực cao bực thấp, có cái sáng cái tối, thảy thảy đều tuân theo máy Thiên Cơ mà tuần tự chuyển luân xoay chạy : Cái lại cái qua, cái lên cái xuống, không bao giờ ngưng nghỉ đặng.

        Linh cầu nào cao thanh khinh phù thì vượt qua mấy cõi khác mà lên ngất trên thượng từng không khí.

        Vậy, quả Địa Cầu của các con đây, tuy là một quả Địa Cầu vật chất hữu hình trọng trược, song cũng còn thuộc bực khá, chớ dưới nữa lại có lắm quả Địa Cầu còn trọng trược hơn nữa. Những quả Địa Cầu như thế thì nặng trầm chìm tột dưới đáy sâu của Vũ trụ, nên rất tối tăm mờ mịt, âm khí nặng nề, thảm sầu buồn bã gớm ghê !”

        Qua các bài Thánh Ngôn vừa trích bên trên, chúng ta rút được các điểm sau đây :

        • a). Hư Vô chi Khí (Khí Hư Vô).

          a). Hư Vô chi Khí (Khí Hư Vô).

          Thời nguyên thủy, cả không gian có một chất khí Hồng Mông Hỗn Độn, mờ mờ mịt mịt, hiện hữu mà không biết được nguồn gốc có từ hồi nào và do đâu. Khí đó được gọi là Hư Vô chi Khí hay Khí Hư Vô.

          Khí Hư Vô còn được gọi bằng nhiều danh từ khác nữa : Khí Hồng Mông, Khí Vô Vi, Khí Tiên Thiên, Khí Hạo nhiên.

          Phật giáo gọi Khí Hư Vô là Chơn Như.

          Lão giáo gọi khí ấy là Đạo.

          Nho giáo gọi khí ấy là Vô Cực.

        • b). Thái Cực.

          b). Thái Cực.

          Khí Hư Vô lần lần ngưng kết, đông tụ lại với nhau lâu đời nhiều kiếp, chừng đúng ngày giờ thì nổ ra một tiếng lớn rúng động cả không gian, sanh ra một khối Đại Linh Quang phát ra hào quang chiếu diệu.

          Khối Đại Linh Quang ấy được gọi là Thái Cực, là Đại Hồn của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, tuyệt diệu tuyệt huyền, biến hóa vô cùng, nắm trọn quyền hành tạo hóa.

          Vũ trụ từ đây mới bắt đầu có ngôi Thái Cực, tuyệt đối, duy nhất.

        • c). Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái.

          c). Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái :

          Ngôi Thái Cực lấy cơ thể của mình mà phân định ra Lưỡng Nghi: Nghi Âm và Nghi Dương, cũng gọi là Khí Dương quang và Khí Âm quang. Đó là 2 khối năng lượng vĩ đại vô cùng tận mang 2 tánh chất đối nghịch nhau, nhưng lại có ái lực với nhau.

          Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế chưởng quản Khí Dương quang, còn Khí Âm quang chưa có ai chưởng quản, vì lúc bấy giờ chỉ có một mình Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế được hóa sanh ra mà thôi. Ngài liền hóa thân ra Đức Phật Mẫu và giao cho Đức Phật Mẫu chưởng quản Khí Âm quang.

          Vũ trụ từ đây mới có 2 Khí Dương quang và Âm quang do 2 Đấng đầu tiên chưởng quản là Đức Thượng Đế và Đức Phật Mẫu. Đức Phật Mẫu chỉ là một hóa thân của Đức Thượng Đế.

          Trong công cuộc sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ, Đấng Thượng Đế làm tới đâu và cần người chưởng quản thì Ngài dùng quyền pháp vô biên của Ngài mà hóa thân ra người ấy để làm nhiệm vụ do Ngài sắp đặt.

          Hai Khí Dương quang và Âm quang xoay chuyển không ngừng, đun đẩy cho rộng lớn thêm ra mãi để tạo thành Tứ Tượng. Tứ Tượng là 4 tượng: Thái Dương, Thái Âm, Thiếu Dương, Thiếu Âm.

          Tứ Tượng tiếp tục xoay chuyển, càng rộng ra thì tốc độ xoay chuyển càng lớn, tạo thành Bát Quái gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

          Bát Quái tiếp tục xoay chuyển, càng rộng thêm ra, tốc độ quay càng lúc càng lớn, để rồi đun đẩy va chạm nhau, phát sanh nhiệt độ rất lớn, hàng tỷ độ, tạo nên một áp suất vô cùng lớn, phát ra tiếng nổ dữ dội, bắn phá ra chung quanh các quả cầu lửa bay khắp không gian, quay cuồng dữ dội, tạo ra các Mặt Trời.

        • d). Mặt Trời - Địa Cầu - Mặt Trăng.

          d). Mặt Trời - Địa Cầu - Mặt Trăng :

          Các quả cầu lửa gọi là các Mặt Trời tiếp tục cháy sáng và quay tròn dữ dội, rồi bắn phá ra các quả cầu lửa nhỏ hơn, quay quanh Mặt Trời, để rồi nguội dần, tạo thành các Địa cầu. Các Địa cầu nầy là những Hành tinh của Mặt Trời.

          Có những Địa cầu lớn, lúc chưa nguội, lại quay nhanh, văng ra các quả cầu nhỏ hơn nữa, rất mau nguội lạnh, tạo thành các Vệ tinh hay còn gọi là Mặt Trăng, quay chung quanh Địa cầu.

          Tóm lại :

          - Các Mặt Trăng quay quanh Địa cầu, tức là Vệ tinh quay quanh Hành tinh.

          - Hệ thống Địa cầu và Mặt Trăng (Hành tinh và Vệ tinh) cùng quay chung quanh Mặt Trời.

          - Hệ thống gồm Mặt Trời, các Địa cầu, các Mặt trăng được gọi là Thái Dương Hệ. Các Thái Dương Hệ đều quay quanh một Tâm điểm, gọi là Tâm của Vũ trụ.

          Theo Khoa Học Thiên Văn, Thái Dương Hệ của chúng ta gồm có 9 Hành tinh quay chung quanh Mặt Trời. (Khi Hành tinh quay thì nó vẫn mang theo các Vệ tinh quay theo.)

          Sau đây là thứ tự và khoảng cách của Hành tinh với Mặt Trời từ gần đến xa :

          (Khoảng cách từ Mặt Trời đến Địa cầu của chúng ta là 150 triệu Kilômét, được dùng làm đơn vị Thiên văn, viết tắt đvtv, để đo khoảng cách các Hành tinh khác với Mặt Trời : 1 đvtv = 150 triệu Km)

          TT Hành tinh . . . Khoảng cách đến Mặt Trời (đvtv) . . . Độ lớn đường kính (Km) . . . Khối lượng riêng . . . Số Vệ tinh
          1 Thủy tinh0,3948785,40
          2 Kim tinh0,72121045,20
          3 Trái đất1,00127565,51
          4 Hỏa tinh1,5267874,02
          5 Mộc tinh5,201429841,316
          6 Thổ tinh9,551205360,722
          7 Thiên tinh19,21511181,215
          8 Hải tinh30,10495281,68
          9 Diêm tinh39,4022842,01
      • 2. Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

        2. Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

        Trong khoảng không gian bao la vô cùng tận, có rất nhiều vũ trụ được hình thành, mà Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ là một phần tử.

        Vũ trụ nầy được tượng trưng bằng Trái Càn Khôn thờ nơi Bát Quái Đài của Tòa Thánh Tây Ninh, mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã dạy Ngài Giáo Sư Thái Bính Thanh làm, trong bài Thánh Ngôn sau đây :

        Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 45 : “ Bính ! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không ? Cười . . . Một trái như Trái Đất tròn quay, hiểu không ? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc, nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy, mà sơn màu xanh da trời, cung Bắc Đẩu và Tinh tú vẽ lên Càn khôn ấy.

        Thầy kể Tam thập lục Thiên, Tứ Đại Bộ Châu, ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Địa và Tam thiên Thế giới đều là Tinh tú. Tính lại 3072 ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ.

        Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Đẩu, con phải vẽ 2 cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Đẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Đẩu, vẽ Con Mắt Thầy, hiểu chăng ?

        Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai, đút trong một ngọn đèn cho nó thường sáng. Ấy là lời cầu nguyện rất quí báu cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giới đó, nhưng mà làm chẳng kịp thì con tùy tiện làm thế nào cho kịp Đại Hội, nghe à !”

        Theo bài Thánh Ngôn trên đây, Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có 2 phần: Phần Vô hình và phần Hữu hình.

        • a). Phần Vô hình.

          a). Phần Vô hình.

          - Phần Vô hình gồm : Tam thập lục Thiên (36 từng Trời) và Tứ Đại Bộ Châu (4 Bộ Châu lớn) ở không không trên thượng từng không khí. (Xem chi tiết nơi phần sau)

        • b). Phần Hữu hình.

          b). Phần Hữu hình.

          - Phần Hữu hình gồm: Thất thập nhị Địa (72 quả Địa cầu) và Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới), tổng cộng là 3072 ngôi sao. (Bởi vì khi chúng ta nhìn lên bầu trời thấy các Hành tinh, Vệ tinh và các thế giới đều là những ngôi sao).

          Địa cầu mà nhơn loại chúng ta đang ở là Địa cầu số 68 trong Thất thập nhị Địa.

          Mặt khác, các nhà Thiên Văn học trên Thế giới đã dùng các Viễn Vọng kính, Kính Thiên văn quang phổ, . . . đã tìm thấy được hàng tỷ ngôi sao ở trong nhiều dãy Thiên hà.

          Vậy, Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ có 3072 ngôi sao thì quả là rất bé nhỏ so với những gì mà khoa Thiên Văn khám phá được.

          Như thế thì bên ngoài Vũ trụ của chúng ta còn có biết bao Vũ trụ khác, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn Vũ trụ của chúng ta.

      • 3. Vũ trụ có Vô thỉ Vô chung không ?
        • Vô thỉ Vô chung.

          Vô thỉ Vô chung.

          Vô thỉ hay Vô thủy là không có chỗ bắt đầu, tức là không có nguồn gốc. Vô chung là không có chỗ tận cùng.

          Vũ trụ là một thực thể nên cũng phải nằm trong Định luật Sanh Tử, tức là : Thành, Trụ, Hoại, Không, giống y như các thực thể khác. Hễ có Sanh ra ắt phải có lúc Tử, để rồi sau đó được tái tạo tức Sanh ra trở lại, rồi sau một thời gian thì bị hủy diệt, và cứ thế tiếp diễn mãi trên con đường tiến hóa vô cùng tận. Nhưng trong khoảng thời gian từ lúc Sanh ra cho đến lúc bị Hủy diệt, lâu hay mau là tùy theo thực thể.

          Đối với một Vũ trụ thì khoảng thời gian ấy rất dài, có thể đến hằng tỷ năm, khó có thể tưởng tượng nổi, nên mới có nhiều người cho rằng Vũ trụ nầy là Vô thỉ Vô chung.

          Thật ra, như trong phần trình bày trên, Vũ trụ có khởi đầu, và mức khởi đầu đó là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức là Thái Cực, bởi vì chính Đấng Thượng Đế ấy đã tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật hiện hữu.

          Lại hỏi : Ai sanh ra Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế ?

          Đáp : Khí Hư Vô sanh ra Ngọc Hoàng Thượng Đế.

          Đến đây, sự tìm hiểu của chúng ta phải dừng lại, bởi vì nếu tiếp tục hỏi nữa thì không còn cách nào giải đáp được.

          Chúng ta, cả Vũ trụ của chúng ta đang trên đường tiến hóa, tiến hóa mãi cho đến vô tận vô biên, chớ không phải chúng ta đi trên con đường tròn, không có điểm đầu tiên và điểm cuối cùng, vì đi trên vòng tròn thì không phải là tiến hóa, mà chỉ là sự biến hóa theo một chu kỳ nhứt định.

          Sự khác nhau là ở chỗ Tiến hóa chớ không phải Biến hóa.

        • Sự hủy diệt vũ trụ.

          Sự hủy diệt vũ trụ.

          Trong Vũ trụ, ánh sáng phát ra từ các Mặt Trời do các phản ứng nhiệt hạch của vật chất trong Mặt Trời bức xạ ra ngoài. Ánh sáng nầy sưởi ấm các Hành tinh, được các Hành tinh và Vệ tinh chung quanh hấp thụ, tạo ra các phản ứng sinh hóa duy trì sự sống.

          Sự phát ánh sáng liên tục của Mặt Trời làm khối lượng Mặt Trời giảm dần theo thời gian, đến lúc nào đó, hàng tỷ năm sau, Mặt Trời cũng phải tắt. Nhiệt độ trong Thái Dương Hệ sẽ giảm xuống rất nhanh, đến Không độ tuyệt đối (O o K) tức là 273 độ dưới Không độ bách phân. (O o K = - 273 o C)

          Các Thái Dương Hệ khác cũng ở trường hợp tương tự, sẽ lần lần tắt hẳn. Cả bầu Vũ trụ chìm trong cảnh vô cùng tối tăm và lạnh lẽo, nhiệt độ hạ xuống rất nhanh, tất cả sinh vật đều chết hết, và vật chất đông lại thành những khối cứng.

          Đó là một cuộc Đại Tận Thế của Vũ trụ. Nó nằm trong Định luật tự nhiên, hễ có sanh ra thì ắt phải có lúc bị hủy diệt.

          Sau khi nó bị hủy diệt thì nó lại bắt đầu hình thành một Vũ trụ mới, đó là sự tái tạo Vũ trụ.

          Đời sống của một Vũ trụ rất lâu dài, kể từ lúc nó được hình thành cho đến khi nó bị hủy diệt, kéo dài đến hàng tỷ năm, trong lúc đó, đời sống của một đời người nơi cõi trần lấy 100 năm làm kỳ hạn thì chẳng đáng kể gì.

        • Sự tái tạo vũ trụ.

          Sự tái tạo vũ trụ.

          Khi các Mặt Trời của Vũ trụ tắt hẳn, nhiệt độ hạ xuống đến Không độ tuyệt đối hay thấp hơn nữa, làm cho trường hấp dẫn vạn vật giữa các hệ thống vật chất tăng lên gấp nhiều lần, làm chúng hút nhau rất mạnh.

          Các Vệ tịnh bị hút rơi vào Hành tinh, các Hành tinh bị hút mạnh rơi vào Mặt Trời, các Mặt Trời đã tắt bị hút mạnh rơi vào Tâm Vũ trụ. Càng đến gần, lực hút trở nên rất mạnh, làm cho vận tốc rơi càng lúc càng tăng, lớn đến mức khủng khiếp, bằng vận tốc của ánh sáng (300 ngàn cây số trong 1 giây). Các Hệ thống va chạm vào nhau vô cùng mãnh liệt, tạo ra một sức nóng khủng khiếp, nhiệt độ tại trung tâm vũ trụ lên đến hằng tỷ độ, mọi thứ vật chất đều bốc thành hơi tức là biến thành chất khí, chúng quay cuồng hỗn độn, tạo ra một áp suất vô cùng lớn, đến một lúc nào đó thì gây ra tiếng nổ ghê gớm, làm bắn phá từ trung tâm vũ trụ ra chung quanh những quả cầu lửa to lớn, để tạo thành các Mặt Trời mới. Các Mặt Trời mới lại tiếp tục bắn phá ra chung quanh, tạo ra các Hành tinh mới quay quanh Mặt Trời mới. Các Hành tinh lớn lại bắn phá ra tạo nên các Vệ tinh quay quanh Hành tinh.

          Thế là một Vũ trụ mới được thành hình và bắt đầu hoạt động trong một vận hội tiến hóa mới, với một đời sống mới.

          Các Vệ tinh có kích thước nhỏ nên nguội trước, kế đó là các Hành tinh nguội dần, vật chất bên ngoài đông tụ lại thành lớp vỏ cứng bao bọc hành tinh. Khi nhiệt độ hạ xuống đến mức thích hợp, hơi nước bao quanh hành tinh tạo ra các trận mưa dữ dội, nước rơi xuống thành sông ngòi và chảy vào những chỗ trũng thấp tạo thành biển.

          Trên Hành tinh Địa cầu, khi có nước và ánh sáng Mặt Trời rọi đến thì xuất hiện sự sống, các sinh vật bắt đầu nảy sanh. Đầu tiên là các sinh vật đơn giản chỉ có một tế bào xuất hiện trong nước, lần lần tiến hóa lên cấp cao hơn và phức tạp hơn, theo Định luật Tiến hóa của Vũ trụ : Vật chất Kim thạch tiến hóa lên loài Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa lên Thú cầm, Thú cầm tiến hóa lên nhơn loại. Rồi loài người lo tu hành, giúp người giúp đời, thì lần lần tiến hóa lên các phẩm Thần Thánh Tiên Phật.

          Tóm lại, Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài quan niệm rằng Vũ trụ không phải là Vô thỉ, vì nó có khởi đầu. Điểm khởi đầu đó là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì Đấng ấy đã tạo dựng ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

          Vũ trụ cũng không phải là Vô chung (không có mức cuối cùng), vì Vũ trụ có lúc tự hủy diệt và mức cuối cùng của nó là cuộc Đại Tận Thế, để rồi sau đó lại khởi đầu hình thành một Vũ trụ mới tiến hóa hơn, và cứ thế tiếp diễn mãi trên con đường Tiến hóa vô cùng tận.

      • 4. Các Vũ trụ khác

        4. Các Vũ trụ khác

        Vũ trụ của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà chúng ta đang ở đây chỉ gồm có 3072 ngôi sao. Bên ngoài Vũ trụ nầy cón có rất nhiều Vũ trụ khác nữa, đang biến chuyển không ngừng trong khoảng không gian bao la vô cùng rộng lớn.

        Những Vũ trụ chung quanh, có những Vũ trụ to lớn hơn, có những Vũ trụ nhỏ bé hơn, có những Vũ trụ đang hoạt động như của chúng ta, có những Vũ trụ đang trong thời kỳ hủy diệt, cũng có những Vũ trụ đang trong thời kỳ tái tạo.

        Tất cả những Vũ trụ nầy như là những tế bào trong vô lượng tế bào trong một Siêu Đại Vũ trụ vô tận vô biên, không thể hiểu biết được.

        Mỗi Vũ trụ đều có một Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế tạo ra và ngự trị, cầm quyền vô vi, vận hành và tiến hóa không bao giờ ngừng nghỉ.

      • 5. Giải thích Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài theo Khoa học Nguyên tử.
        • a). Quang tử - Âm điện tử - Dương điện tử.

          a). Quang tử - Âm điện tử - Dương điện tử.

          Quang tử, tên khoa học gọi là Photon, là hạt ánh sáng. Hạt nầy không có khối lượng, truyền đi theo dạng sóng (gọi là sóng ánh sáng) với vận tốc rất nhanh : 300 ngàn cây số trong một giây (300.000 Km/giây)

          Thái Cực là một khối năng lượng vĩ đại dưới dạng ánh sáng, gồm vô số Quang tử. Các Quang tử nầy được Thái Cực bắn ra chung quanh thành những tia sáng. Trong một lúc nào đó, các tia sáng kết hợp thành từng bó sóng ánh sáng, để rồi kết hợp và ngưng tụ lại, biến đổi năng lượng ánh sáng thành khối lượng vật chất, dưới dạng các hạt có mang điện tích : Điện tích Âm và điện tích Dương.

          Sự ngưng kết để biến đổi năng lượng ánh sáng (biểu thị bằng chữ E : Énergie) thành vật chất có khối lượng là m (Masse), với vận tốc ánh sáng là C = 300.000 Km/giây, theo công thức của nhà Bác học Einstein :

          E = m C2

          Âm Điện tử : Hạt vật chất nhỏ có mang điện tích âm được gọi là Âm Điện tử, tên khoa học là Électron, viết tắt là e, có khối lượng và điện tích đo được là :

          . Khối lượng = 0,9. 10 -27 gram.

          . Điện tích = - 1,6. 10 -19 coulomb.

          Dương Điện tử : Hạt vật chất có mang điện tích dương gọi là Dương Điện tử, tên khoa học là Proton, viết tắt là p, có khối lượng và điện tích đo được là :

          . Khối lượng = 1840 lần khối lượng của e.

          . Điện tích = + 1,6 . 10 -19 coulomb.

          Như vậy, từ Quang tử Photon, đã tạo ra được 2 loại vật chất có dạng hạt : Électron và Proton mang điện tích Âm và điện tích Dương, có trị số ngang bằng nhau, nhưng khác dấu.

          Chúng ta so sánh thì thấy rằng :

          -Thái Cực là một khối Quang tử (Photon) vĩ đại.

          -Lưỡng Nghi Âm quang và Dương quang là 2 khối Âm Điện tử (Électron) và Dương Điện tử (Proton).

          Đấng Thượng Đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi chính là sự ngưng kết của các bó sóng ánh sáng, biến năng lượng ánh sáng thành vật chất là Âm Điện tử và Dương Điện tử.

        • b). Trung hòa tử và Nguyên tử Khinh khí.

          b). Trung hòa tử và Nguyên tử Khinh khí.

          Âm Điện tử và Dương Điện tử đã thành hình rồi thì chúng kết hợp với nhau do sức hút của điện âm và điện dương theo 2 trường họp : Tĩnh và Động, để tạo ra 2 loại vật chất mới là : Trung hòa tử (Neutron, viết tắt là n) và Nguyên tử Khinh khí (Hydrogène, ký hiệu là H) theo 2 phương trình :

          -Kết hợp theo dạng tĩnh :

          1 Electron + 1 Proton 1 Neutron
          e +p n

          Trung hòa tử (Neutron) là hạt không mang điện.

          -Kết hợp theo dạng động :

          Dương Điện tử nặng và to lớn hơn Âm Điện tử rất nhiều nên nó làm cái Nhân bên trong, còn Âm Điện tử nhẹ mình nên quay tròn chung quanh Nhân, tạo thành một Nguyên tử Khinh Khí Hydrogène H :

          Đến giai đoạn nầy, ta có 4 loại hạt vật chất : 2 hạt cơ bản là Âm Điện tử (e) và Dương Điện tử (p), và 2 loại hạt mới là Trung hòa tử (n) và Nguyên tử Khinh khí (H).

          Đây chính là Tứ Tượng do Lưỡng Nghi tạo ra :

          . Électron (e) là Thái Âm.
          . Proton (p) là Thái Dương.
          . Neuton (n) là Thiếu Dương.
          . Hydrogène (h) là Thiếu Âm.
        • c). 8 Nguyên tử đầu tiên.

          c). 8 Nguyên tử đầu tiên.

          Ba loại hạt nhỏ (vi tử) : e, p, n luôn luôn xoay chuyển để tiếp tục kết hợp với nhau, lần lượt từ ít đến nhiều, để tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên đứng đầu Bảng Phân loại Tuần hoàn các Nguyên tố.

          Các Proton (p) và Neutron (n) nặng hơn Électron (e) rất nhiều nên làm Nhân nguyên tử, còn Électron (e) thì nhẹ nên quay chung quanh Nhân. Hễ trong Nhân có bao nhiêu Proton p thì bên ngoài cũng phải có bấy nhiêu Électron e để cho điện tích của Nguyên tử luôn luôn được trung hòa. Số Neutron trong Nhân thì có số lượng tăng dần.

          8 Nguyên tử đầu tiên được tạo thành, đánh số thứ tự từ 0 đến 7, có tên, ký hiệu và cơ cấu sau đây :

          0. Hélium ký hiệu He gồm có : 2e 2p 2n
          1. Lithium - Li - 3e 3p 4n
          2. Bérylium - Be - 4e 4p 5n
          3. Bohr - B - 5e 5p 6n
          4. Carbone - C - 6e 6p 6n
          5. Nitrogène - N - 7e 7p 7n
          6. Oxygène - O - 8e8p 8n
          7. Fluor - F - 9e 9p 10n

          Xem như thế, 8 Nguyên tử được tạo thành đầu tiên chính là Bát Quái, do Tứ Tượng biến sanh, và được so sánh như sau :

          CHẤN CÀN ĐOÀI LY TỐN KHẢM CẤN KHÔN
          He Li Be B C N O F

          Càn có tính thuần Dương, đối chiếu với nguyên tử Lithium (Li) có tính dương điện mạnh nhứt.

          Khôn có tính thuần Âm, nên đối chiếu với nguyên tử Fluor (F) có tính âm điện mạnh nhứt.

        • d).Các Nguyên tử khác trong Bảng Phân loại Tuần hoàn.

          d).Các Nguyên tử khác trong Bảng Phân loại Tuần hoàn.

          Sau khi đã tạo thành 8 Nguyên tử đầu tiên, các vi tử e, p, n tiếp tục kết hợp với nhau với số lượng càng lúc càng nhiều, càng lúc càng phức tạp để tạo thành một loạt các nguyên tử to lớn hơn, có tính chất đại cương gần giống như tính chất của 8 nguyên tử đầu tiên, tạo thành 8 nhóm nguyên tử, đánh số từ 0 đến 7, kể ra sau đây :

          Tên nhóm : 0 1 2 3 4 5 6 7
          8 nguyên tử đầu: He Li Be B C N O F
          Ne Na Mg Al Si P S Cl
          Ar K Ca Ga Ge As Se Br
          Kr Rb Sr In Sn Sb Te I
          Xe Cs Ba Tl Pb Bi Po At
          . . . . . . . . . . . . . . . .

          Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra được 105 loại nguyên tử khác nhau nằm trong 8 nhóm kể trên. Ngoài ra, mỗi nhóm còn có một nhóm phụ mà các nguyên tử có cấu tạo phức tạp, không tiện kể ra đây.

          Số 105 loại nguyên tử nầy kết hợp lại với nhau, tùy theo chất, để tạo thành các Đơn chất, và các Hợp chất, từ đơn giản đến phức tạp. Các Đơn chất và các Hợp chất tạo thành hệ thống vật chất trong Càn Khôn Vũ Trụ với muôn hình muôn vẻ với muôn màu sắc phong phú khác nhau.

          Tám nguyên tử được hình thành đầu tiên ấy tương ứng với Bát Quái, vận chuyển và biến hóa vô cùng để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

        • e). Sự hình thành Vũ trụ.

          e). Sự hình thành Vũ trụ.

          Thái Cực là trung tâm của Vũ trụ. Thái Cực phát ra các tia sáng mang theo Quang tử truyền đi rất xa, với vận tốc 300.000 Km/giây. Đến một lúc nào đó, các Quang tử ngưng kết tạo thành các Âm điện tử. Nơi đó là giới hạn của Vũ trụ, và các Âm điện tử được tạo ra càng lúc càng nhiều, làm thành như những đám mây vĩ đại, đó là Khí Âm quang.

          Mặt khác, các Quang tử từ Thái Cực phát ra cũng ngưng kết thành các Dương điện tử (Proton), và các Dương điện tử tạo thành những đám mây vĩ đại Dương điện tử. Đó là Khí Dương quang.

          Các Dương điện tử có khối lượng rất lớn so với Âm điện tử, nên nó hút các Âm điện tử theo 2 lực : Lực hấp dẫn vạn vật và lực điện trường. Lúc ban đầu lực hút nầy không lớn lắm vì khoảng cách còn xa, nhưng khi khoảng cách càng gần thì lực hút trở nên rất mạnh (vì lực hút tỉ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách). Các Âm điện tử bị hút thật mạnh vào tâm vũ trụ, va chạm mãnh liệt với các Dương điện tử trong một trạng thái xoay chuyển cực kỳ mãnh liệt, một mặt kết hợp để tạo ra các phân tử đơn chất và hợp chất, một mặt tạo ra sức nóng dữ dội càng lúc càng tăng, dần dần nhiệt độ lên tới hàng tỷ độ, sanh ra một áp suất cực lớn, gây ra một vụ nổ ghê gớm, xoay tròn bắn phá ra các quả cầu lửa lớn làm thành các Mặt Trời.

          Các khối cầu lửa lớn nầy tiếp tục quay tròn, bắn phá ra các quả cầu lửa nhỏ hơn tạo thành các Hành tinh. Các Hành tinh lớn lại tiếp tục bắn phá để tạo thành các Vệ tinh.

          Các Vệ tinh và các Hành tinh nguội dần, tạo ra lớp vỏ bao bọc bên ngoài. Khi nguội đến một nhiệt độ thích hợp thì lớp nước bao phủ các Hành tinh tạo thành các đám mưa rơi xuống chảy thành sông và biển.

          Khi đã có nước và ánh sáng Mặt Trời, sinh vật bắt đầu xuất hiện, từ đơn giản lần lần đến phức tạp. Loài rong rêu xuất hiện trước nhứt, tiến hóa dần thành Thảo mộc, Thảo mộc tiến hóa thành Thú cầm, và sau cùng bực Thú cầm cao cấp tiến hóa thành Nhơn loại.

      • 6. Địa vị của Địa cầu chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ.

        6. Địa vị của Địa cầu chúng ta trong Càn Khôn Vũ Trụ.

        Vũ trụ Hữu hình gồm có : Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới ) và Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu).

        Tam thiên Thế giới thanh nhẹ hơn Thất thập nhị Địa, nên chiếm phần trên của Vũ trụ, Thất thập nhị Địa trọng trược hơn nên ở phần dưới của Vũ trụ.

        Trong Tam thiên Thế giới cũng như trong Thất thập nhị Địa, các quả tinh cầu thanh nhẹ thì ở bên trên, các quả nặng trược thì ở bên dưới. Càng lên cao thì càng thanh nhẹ trong sáng, và càng xuống thấp thì càng nặng trược tối tăm.

        Các Địa cầu trong dãy Thất thập nhị Địa được đánh số từ 1 đến 72, số 1 thì thanh nhẹ nhứt và số 72 thì nặng trược nhứt. Điạ cầu của nhơn loại chúng ta là Địa cầu số 68.

        Phía dưới Địa cầu 68 của chúng ta có 4 quả Địa cầu : 69, 70, 71, và 72 rất trọng trược, chìm đắm trong cảnh tối tăm nên được gọi là U Minh Địa. Trình độ tiến hóa của 4 Địa cầu nầy còn rất kém so với Địa cầu 68 của chúng ta.

        Nhưng trình dộ tiến hóa của Địa cầu 68 lại kém xa so với Địa cầu 67. Càng đi lên thì càng tiến hóa.

        “ Đứng bực Đế Vương nơi trái Địa cầu 68 nầy, chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu (Địa cầu số 1), Tam thiên thế giới . . . ” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 74)

        Sự tiến hóa đi hết dãy Thất thập nhị Địa thì bước lên Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới), và cũng tiến hóa dần từ thấp lên cao.

        Địa cầu 68 của chúng ta chỉ có 1 phần thanh, mà lại có 2 phần trược, nên Phật giáo gọi Địa cầu 68 là cõi Ta-bà, vì cõi nầy có nhiều ác trược, người tu phải nhẫn nhịn tối đa, nhưng nếu tu hành được thì rất mau đắc quả.

        Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Đức Phật nói rằng :

        “Ở cõi Ta-bà nầy mà làm lành một ngày đêm, hơn làm lành một trăm năm nơi cõi của Phật A-Di-Đà. Tại sao vậy ? Vì cõi A-Di-Đà là vô vi tự nhiên, chứa đủ sự lành, không có một sự dữ nào dù nhỏ xíu như mảy lông sợi tóc.”

        • a). Phần Vô hình của vũ trụ.

          a). Phần Vô hình của vũ trụ.

          Như trong các phần vừa trình bày trên, Phần Hữu hình của Vũ trụ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có: Bên trên là Tam thiên thế giới và bên dưới là Thất thập nhị Địa. Tông cộng có tất cả 3072 ngôi sao.

          Vũ trụ Hữu hình được tượng trưng bằng Trái Càn khôn thờ nơi Bát Quái Đài của Tòa Thánh Tây Ninh.

          Sự xoay chuyển của Tam thiên thế giới và Thất thập nhị Địa luôn luôn được đều hòa, không ngừng nghỉ, cái lên cái xuống, cái qua cái lại, không bao giờ va chạm nhau. Có được như thế là do sự điều khiển của các Đấng thiêng liêng vô hình.

          Các tinh cầu và các quả Địa cầu luôn luôn được Đấng Thượng Đế ban cho Thần lực (tức là năng lượng thiêng liêng) vừa đủ để giúp cho sự chuyển động duy trì điều hòa, ổn định và không ngừng nghỉ.

          Cũng giống như một cái đồng hồ điện tử, cục pin nhỏ cung cấp năng lượng điện cho nó chạy đều hòa và không ngừng nghỉ. Nếu pin còn điện quá yếu hay hết điện thì năng lượng không đủ cung cấp cho đồng hồ thì đồng hồ phải chạy chậm lại hay ngừng hẳn. Cho nên, nếu Đấng Thượng Đế cung cấp Thần lực cho các tinh cầu và các Địa cầu một cách không đều hòa và liên tục thì các quả cầu ấy sẽ chuyển động rối loạn hay ngừng quay, đó cũng là một cuộc Đại hủy diệt vậy.

          Để điều khiển các sự vận chuyển của các tinh cầu và Địa cầu, cũng như điều khiển cuộc tiến hóa của cả Càn khôn, Đức Thượng Đế phải lập ra một guồng máy vô hình, gồm nhiều cơ quan là các từng Trời và các Đấng Thần Thánh Tiên Phật để giúp tay cho Đức Thượng Đế.

          Phần Vô hình của Càn Khôn Vũ Trụ không thể thấy được mà chúng ta biết được là do Đức Thượng Đế giảng dạy qua Cơ bút, gồm có :

          - Tam thập lục Thiên.
          - Thập nhị Thiên và Cửu Trùng Thiên.
          - Tứ Đại Bộ Châu.
        • b). Tam thập lục Thiên.

          b).Tam thập lục Thiên.

          Tam thập lục Thiên là 36 từng Trời.

          Ngôi Thái Cực ở tại Bạch Ngọc Kinh, nơi ấy là trung tâm của Càn khôn Vũ trụ. Thái Cực biến hóa ra Lưỡng Nghi : Âm quang và Dương quang. Thái Cực và Lưỡng Nghi hiệp lại thành 3 Ngôi Trời, gọi là Tam Thiên Vị, chiếm 3 từng Trời tại trung tâm của Vũ trụ.

          Dưới Tam Thiên Vị là 33 từng Trời (Tam thập tam Thiên). Nhập chung lại thì đủ 36 từng Trời.

          Nơi Tam thập lục Thiên là ngôi vị của chư Thần Thánh Tiên Phật.

        • c). Thập nhị Thiên - Cửu Trùng Thiên.

          c). Thập nhị Thiên - Cửu Trùng Thiên.

          - Thập nhị Thiên là 12 từng Trời.
          - Cửu Trùng Thiên là 9 từng Trời.
          - Cửu Trùng Thiên nằm trong Thập nhị Thiên.

          Dưới Tam thập lục Thiên là Thập nhị Thiên. Trong Thập nhị Thiên, bên trên có 3 từng Trời, kể ra :

          - Hỗn Nguơn Thiên, do Đức Phật Di-Lạc chưởng quản.
          - Hội Nguơn Thiên, cũng do Đức Phật Di-Lạc chưởng quản.
          - Hư Vô Thiên, do Đức Phật Nhiên Đăng chưởng quản.

          Trong từng Trời Hư Vô Thiên có Ngọc Hư Cung, là nơi họp triều đình của Đức Chí Tôn, để điều hành toàn cả các hoạt động trong Càn Khôn Vũ Trụ. Các Đấng Thần Thánh Tiên Phật họp Đại Hội để lập Thiên Điều cai quản Càn khôn.

          Dưới 3 từng Trời nầy là Cửu Trùng Thiên, kể ra :

          - Tạo Hóa Thiên, do Đức Phật Mẫu chưởng quản.
          - Phi Tưởng Thiên, do Đức Từ Hàng Bồ Tát chưởng quản.
          - Hạo Nhiên Thiên, do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát và Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưởng quản.
          - Từng Trời thứ 6 : Kim Thiên,
          - Từng Trời thứ 5 : Xích Thiên,
          - Từng Trời thứ 4 : Huỳnh Thiên,
          - Từng Trời thứ 3 : Thanh Thiên,
          - Từng Trời thứ 2 có Vườn Đào Tiên,
          - Từng Trời thứ 1 có Vườn Ngạn Uyển.

          Thập nhị Thiên là nơi làm việc của các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, điều hành tất cả các hoạt động của Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của Vạn linh.

        • d). Tứ Đại Bộ Châu.

          d).Tứ Đại Bộ Châu.

          Có 2 Tứ Đại Bộ Châu : Trên và Dưới.

          - Tứ Đại Bộ Châu phía trên cai quản Tam thiên thế giới, gọi là Tứ Đại Bộ Châu Thượng, gồm :

          . Bắc Đại Bộ Châu
          . Đông Đại Bộ Châu
          . Nam Đại Bộ Châu
          . Tây Đại Bộ Châu.

          - Tứ Đại Bộ Châu bên dưới cai quản Thất thập nhị Địa, gọi là Tứ Đại Bộ Châu Hạ, gồm :

          . Bắc Cù Lư Châu
          . Đông Thắng Thần Châu
          . Nam Thiện Bộ Châu
          . Tây Ngưu Hóa Châu.

          Địa cầu 68 của nhơn loại chúng ta ở trong Nam Thiện Bộ Châu.

      • 7. Tổng Kết về Vũ Trụ Quan.

        7. Tổng Kết về Vũ Trụ Quan.

        Vũ trụ của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế gồm có 2 phần : Hữu Hình và Vô Hình.

        Phần Vô hình rất quan trọng vì nó điều khiển toàn bộ các hoạt động của Phần Hữu hình.

        Phần Vô hình ở tại vùng Trung tâm của Vũ trụ.

        Phần Hữu hình nằm bên ngoài Phần Vô hình, và luôn luôn có chuyển động xoay tròn đều hòa và liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ.

        Phần Vô hình gồm : Tam thập lục Thiên (36 Từng Trời), Thập nhị Thiên (12 Từng Trời), và 2 Tứ Đại Bộ Châu Thượng và Hạ.

        Phần Hữu hình gồm 3072 ngôi sao, chia ra : Tam thiên thế giới (3000 Thế giới) ở bên trên và Thất thập nhị Địa (72 Địa cầu) ở bên dưới.

        Trong khoảng không gian bao la không cùng tận, Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn là một khối cầu vĩ đại, trong đó có chứa 3072 ngôi sao.

        Để có thể hình dung được các thành phần của Vũ trụ nầy, chúng ta tưởng tượng và so sánh với cái hột gà :

        - Cái ngòi ở giữa tròng đỏ hột gà là Trung tâm Vũ trụ.
        - Phần tròng đỏ hột gà là Phần Vô hình của Vũ trụ.
        - Phần tròng trắng hột gà là Phần Hữu hình của Vũ trụ.
        - Vỏ của hột gà là biên giới của Vũ trụ.

        Sau đây là Bảng Tóm tắt cơ cấu thành phần của Càn khôn Vũ trụ của Đức Chí Tôn, kể từ Trung tâm Vũ trụ ra đến bên ngoài biên của Vũ trụ

        1. TAM THẬP LỤC THIÊN
            Tam Thiên Vị
            33 Từng Trời

        2. THẬP NHỊ THIÊN
            Hỗn Nguơn Thiên
            Hội Nguơn Thiên
            Hư Vô Thiên

            Cửu Trùng Thiên (9 Từng Trời)

        3. TỨ ĐẠI BỘ CHÂU THƯỢNG
            . Bắc Đại Bộ Châu
            . Đông Đại Bộ Châu
            . Nam Đại Bộ Châu
            . Tây Đại Bộ Châu

        4. TAM THIÊN THẾ GIỚI

        5. TỨ ĐẠI BỘ CHÂU HẠ
            .Bắc Cù Lư Châu
            .Đông Thắng Thần Châu
            .Nam Thiện Bộ Châu
            .Tây Ngưu Hóa Châu

        6. THẤT THẬP NHỊ ĐỊA