Tân Luật
ID026042 - Luật : Tân Luật 🖶 Print this Luật

  • TIỂU TỰ

    Phàm con người phải biết có chi trên đầu. Cái không trung trên đầu ta đó là Trời. Đấng cầm quyền trên ấy là Đấng Tạo Hóa, là Ngọc Hoàng Thượng Đế là Chúa Tể cả Càn Khôn Thế Giái.

    Nay Đấng Tạo Hóa lấy danh lập Đạo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, dùng huyền diệu Tiên Gia đến dựng nơi nước Nam ta, một nền chơn Đạo rất cao thượng mà độ rỗi nhơn sanh khỏi luân hồi, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Đức Thựơng Đế vì thương yêu nhơn loại đến độ rỗi chúng ta, lại gọi mình là Thầy, kêu chúng ta là Môn Đệ.

    Vậy nên chúng ta phải hết lòng kính mến và sùng bái Đấng Tạo Hóa và hết dạ tín ngưỡng cái Đạo rất huyền vi mầu nhiệm của Đấng Chí Tôn.

    Cái tông chỉ của Đại Đạo là gồm cả ba Đạo chánh là: Nho, Thích, Đạo chuyển cả ba Đạo ấy mà hiệp lại làm một. Nên chi chúng ta tu Đại Đạo thì phải noi theo tông chỉ của Tam Giáo, mà tập rèn tâm tánh, là phải nắm trọn Tam Cang, Ngũ Thường, vẹn giữ Tam Qui, Ngũ Giái và cần luyện Tam Bửu, Ngũ Hành.

    Người mà gồm được hết cả ba thì là gần Thần, Thánh, Tiên, Phật vậy.

  • Phần Đạo Pháp
    • Chương I: Về Chức Sắc Cai Trị Trong Đạo
      • Điều Thứ Nhứt: Phẩm GIÁO TÔNG và quyền hạn.

        Điều Thứ Nhứt: Phẩm GIÁO TÔNG và quyền hạn.

        • Trên hết có một phẩm GIÁO TÔNG là anh cả có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Đạo và đường Đời. Đức Giáo Tông có quyền về phần xác, chớ không có quyền về phần hồn.
        • Đức Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Địa Giái mà cầu rỗi cho cả tín đồ.
        • Chư tín đồ phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.
      • Điều Thứ Nhì: Phẩm CHƯỞNG PHÁP và quyền hạn.

        Điều Thứ Nhì: Phẩm CHƯỞNG PHÁP và quyền hạn.

        • Kế đó có ba vị CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Nho, Thích, Đạo.
        • Ba vị ấy có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành, hoặc của Giáo Tông truyền xuống, hoặc của Đầu Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Đài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại.
        • Ba vị ấy có quyền xem xét Kinh Điển trước khi phổ thông; như có Kinh Luật chi làm cho bại phong hóa thì ba vị ấy phải truất bỏ chẳng cho xuất bản.
        • Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi Luật mới đặng thi hành.
        • Chưởng Pháp phải can gián sửa lỗi của Giáo Tông; nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem đơn kiện nơi Tòa Thánh.
      • Điều Thứ Ba: Phẩm ĐẦU SƯ và quyền hạn.

        Điều Thứ Ba: Phẩm ĐẦU SƯ và quyền hạn.

        • Ba vị ĐẦU SƯ của ba phái có quyền cai trị phần Đạo và phần Đời của tín đồ.
        • Ba vị ấy đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Ba vị ấy phải tuân mạng lịnh Giáo Tông truyền dạy. Như khoản Luật Lệ nào nghịch với sự sinh hoạt của nhơn sanh thì ba vị ấy được nài xin hủy bỏ.
        • Như Luật Lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì Luật Lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông; Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại.
        • Ba vị có ấn riêng nhau; mỗi tờ giấy chi chi phải có đủ ba ấn mới thi hành.
      • Điều Thứ Tư: Phẩm PHỐI SƯ và quyền hạn.

        Điều Thứ Tư: Phẩm PHỐI SƯ và quyền hạn.

        • Ba mươi sáu vị PHỐI SƯ, chia ra mỗi phái là 12 vị. Trong ấy có ba vị CHÁNH PHỐI SƯ.
        • Ba vị ấy đặng thế quyền cho Đầu Sư mà hành sự song chẳng quyền cầu phá luật lệ.
      • Điều Thứ Năm: Phẩm GIÁO SƯ và quyền hạn.

        Điều Thứ Năm: Phẩm GIÁO SƯ và quyền hạn.

        • GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái có 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư tín đồ trong đường Đạo và đường Đời.
        • Buộc Giáo Sư lo lắng cho chư tín đồ như anh ruột lo cho em.
        • Giáo Sư cầm sổ bộ của cả tín đồ, phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi người.
        • Như tại châu thành lớn, Giáo Sư được quyền cai quản và cúng tế Thầy như thể Đầu Sư và Phối Sư.
        • Giáo Sư đặng quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại nhơn sanh hay là cầu chế giảm Luật Lệ ấy.
        • Giáo Sư phải thân cận với tín đồ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ.
      • Điều Thứ Sáu: Phẩm GIÁO HỮU và quyền hạn.

        Điều Thứ Sáu: Phẩm GIÁO HỮU và quyền hạn.

        • GIÁO HỮU là người để phổ thông chơn đạo của Thầy, đặng quyền xin chế giảm Luật Lệ đạo, đặng phép hành lễ khi làm chủ mấy cái chùa nơi mấy tỉnh nhỏ. Có 3.000 Giáo Hữu, mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt.
      • Điều Thứ Bảy: Phẩm LỄ SANH và quyền hạn.

        Điều Thứ Bảy: Phẩm LỄ SANH và quyền hạn.

        • LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư tín đồ mà hành lễ.
        • Lễ Sanh đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ.
        • Phải vào hàng Lễ Sanh rồi mới mong bước qua hàng Chức Sắc.

        Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.

      • Điều Thứ Tám: Luật công cử.

        Điều Thứ Tám: Luật công cử.

        • Đầu Sư muốn lên Chưởng Pháp thì nhờ ba vị công cử nhau.
        • Phối Sư muốn lên Đầu Sư thì nhờ 36 vị công cử lên.
        • Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị công cử nhau.
        • Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3.000 vị xúm nhau công cử.
        • Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.
        • Ngôi Giáo Tông thì hai phẩm Chưởng Pháp và Đầu Sư tranh đặng, song phải chịu toàn tín đồ công cử mới đặng.
        • Kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.

        Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.

    • Chương II: Về người giữ đạo
      • Điều Thứ Chín: Điều lệ nhập môn.

        Điều Thứ Chín: Điều lệ nhập môn.

        • Muốn xin nhập môn phải có hai người đạo đức tiến dẫn đến người làm đầu trong Họ. Hai người tiến dẫn phải lo lắng chỉ biểu và dìu dắt người mới cho hiểu biết đạo lý.
      • Điều Thứ Mười: Điều kiện cho người mới vào Đạo.

        Điều Thứ Mười: Điều kiện cho người mới vào Đạo.

        • Mỗi Thánh Thất từ đây phải lập minh thệ. Còn ai mới vô Đạo, nội ngày đem tên vào sổ phải ra đứng giữa đại điện thề liền.
        • Buộc phải thuộc Kinh và thông hiểu Luật Pháp của Đại Đạo truyền ra.
      • Điều Thứ Mười Một: Lễ cúng khai đàn cho ngưòi mới vào Đạo.

        Điều Thứ Mười Một: Lễ cúng khai đàn cho ngưòi mới vào Đạo.

        • Người làm đầu trong Họ hay là Chức Sắc thay mặt cho mình phải đến làm lễ cúng khai đàn trấn thần an vị cho người mới vào Đạo.
      • Điều Thứ Mười Hai: Thứ bực của hàng Tín Đồ.

        Điều Thứ Mười Hai: Thứ bực của hàng Tín Đồ.

        Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:

        1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Đạo mà thôi; vào phẩm hạ thừa.
        2. Một bực đã giữ trường trai, giái sát và tứ đại điều qui, gọi là vào phẩm thượng thừa.
      • Điều Thứ Mười Ba: Điều kiện được thọ truyền Bửư Pháp.

        Điều Thứ Mười Ba: Điều kiện được thọ truyền Bửư Pháp.

        • Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Đạo.
      • Điều Thứ Mười Bốn: Điều kiện để trở thành Chức Sắc.

        Điều Thứ Mười Bốn: Điều kiện để trở thành Chức Sắc.

        • Chức Sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người thượng thừa mà thôi.
      • Điều Thứ Mười Lăm: Qui định của Tín Đồ bực thượng thừa.

        Điều Thứ Mười Lăm: Qui định của Tín Đồ bực thượng thừa.

        • Bực thượng thừa theo Đại Đạo buộc phải để râu, tóc. Ăn mặc thường. Phải dùng toàn đồ vải trắng, hoặc màu theo phái mình, song phải tùy tiện chẳng nên xa xí.
    • Chương III: Về việc lập họ
    • Chương IV: Về ngũ giới cấm
      • Điều Thứ Hai Mươi Mốt:

        Điều Thứ Hai Mươi Mốt:

        Hễ nhập môn rồi phải trau giồi giữ tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm là:

        1. Nhứt Bất Sát Sanh, là chẳng nên sát hại sanh vật.
        2. Nhì Bất Du Đạo, là cấm trộm cướp; lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại cho người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.
        3. Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ người, thả theo đàn điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm).
        4. Tứ Bất Tửu Nhục, là cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.
        5. Ngũ Bất Vọng Ngữ, là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời hứa.
        <@@@>
      • Chương V: Về tứ đại điều qui
        • Điều Thứ Hai Mươi Hai: Về tứ đại điều qui

          Điều Thứ Hai Mươi Hai: Về tứ đại điều qui

          • Buộc phải trau giồi đức hạnh giữ theo tứ đại điều qui là:
            1. Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ làm lỗi, phải ăn năn chịu thiệt.
            2. Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên Đạo. Đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.
            3. Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Đối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
            4. Trước mặt sau lưng, cũng đồng một bực, đừng kỉnh trước rồi khi sau.
          • Đừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải, đừng lấy chung làm riêng đừng vụ riêng mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân, đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Đừng cậy quyền mà yểm tài người.
      • Chương VI: Về giáo huấn
      • Chương VII: Về hình phạt
      • Chương VIII: Về việc ban hành luật pháp
        • Điều Thứ Ba Mươi Hai: Ban hành và triển hạn áp dụng Tân Luật.

          Điều Thứ Ba Mươi Hai: Ban hành và triển hạn áp dụng Tân Luật.

          • Trong hạn 6 tháng, kể từ ngày ban hành luật pháp nầy chư tín đồ phải tuân y các điều lệ.

          Ngoại trừ:

          1. Những người làm nghề nghiệp phạm nhằm luật cấm thì được kỳ hạn một năm phải giải nghệ.
          2. Những Chức Sắc chưa trường trai được kỳ hạn hai năm phải tập theo cho kịp.
          • Kỳ dư luật lệ Thầy canh cải phải tuân theo, còn bao nhiêu phải tùy cựu luật.
    • Phần Thế Luật
    • Phần Tịnh Thất