The Esoteric Doctrine of Caodaism - Sermons by His Holiness HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
ID028038 - Sách : The Esoteric Doctrine of Caodaism - Sermons by His Holiness HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC 🖶 Print this Sách
Tác Giả : Translated by CHRISTOPHER HARTNEY and TỪ CHƠN

  • Acknowledgements

    Acknowledgements

    I respectly thank Dr. Christopher Hartney for giving me lots of help to complete this translation work. As an English teacher in Vietnam for over 40 years, I still think my English is not enough for this project. Had it not been for his precious advice, I would never have been confident enough to finish it. I am extremely thankful to him for providing such a tremendous support, although he had very busy schedule in the university.

  • Sermon 01: Caodaist Esotericism

    Sermon 01: Caodaist Esotericism

    Lunar Calendar: 5th Day of the 4th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: May 2nd 1949

    From now on, I will preach about Caodaist Esotericism.

    This is the most difficult topic to preach upon and the most important one for you Caodaists to comprehend. All Caodaist Dignitaries, especially the divinely ordained ones, know all current religions have been distorted.

    Why? Because of centuries of corruption to the original messages. As a result, those old religious practices are no longer suitable for human awareness. Moreover, humans are now so mentally advanced that the ancient religious philosophies cannot keep them in moral rectitude any longer. The ethical principles made by religious founders have become too simple for mankind.

    Jesus Christ, the most conversationally competent religious founder, who founded Christianity, the latest religion on earth, had enough power to introduce Christian exotericism, which arises from the ethical foundation for mankind. As for esotericism, however, He just told His disciples, especially the twelve Apostles:
    - There are highly advanced philosophies, which cannot be preached because you cannot comprehend them yet.

    That is why Christians do not practice esotericism.

    Now, coming through seances, God established His religion (Cao Đài) to improve human morality. Ignoring any worldly powers, In this way he taught His children the secret power of creation. His new religion differs from other ancient religions.

    All entities in this universe contain two relevant components. First, the visible laws called exotericism and second, the invisible laws called esotericism. Esotericism is religiously critical because it helps us examine natural principles. All religions, as well as Cao Đài, should have both visible and invisible laws.

    Why should visible laws be examined? To understand the invisible laws, if examined thoroughly, visible laws will reveal invisible ones.

    To put it another way, take how rice is cooked. First, rice is prepared, rinsed, and boiled. To have a good dish, you have to add an appropriate amount of water and set the fire suitably. Or making a cake, you need flour, sugar and egg. All of them need to be prepared well before being baked so that you can have a delicious cake. All of the ingredients are considered exotericism and the hidden process esotericism.

    Similarly, the natural power of creation has its own laws. The ones we can observe are exoteric and the opposing and unseen ones esoteric. It is these invisible laws that decide whether an earthly religion lasts long or does not last. Having come to earth, God shows both the esoteric and exoteric laws for humans to understand their philosophy.

    From today, I will first preach exotericism then esotericism in ensuring sermons. A basic knowledge of exotericism will unveil the esoteric dimensions. I advise you Caodaists not to be indifferent anymore. You have to focus hard on studying Caodaist philosophy in order to gain enlightenment. I should have written some books on this topic, but I think speech is faster than writing.

    Until next time.
    Vietnamese source

    01. Am Lich: đêm 05-04 Năm Kỷ-Sửu (1949)
    Duong Lich: 18-06-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết về BÍ-PHÁP tại Đền-Thánh

    Kể từ đêm nay Bần-Đạo khởi tiếp về Bí-Pháp Chơn-Truyền của Đức-Chí-Tôn.

    Ấy là một thuyết-pháp trọng yếu khó khăn hơn hết, toàn cả Thánh Thể Đức-Chí-Tôn tức nhiên Chức-Sắc Thiên-Phong đều biết rằng: Các nền Tôn Giáo đương-nhiên bây giờ nếu gọi là thất chơn truyền thì thất chơn truyền do nơi đâu ? Do tại Bí-Pháp không đúng theo lương-tri lương năng của loài người.

    Lương-tri lương-năng của mỗi người đương thời buổi này, đã đạt đến một mức cao thượng, trọng hệ là những triết lý đơn-sơ buổi nọ, của các nền Tôn-Giáo để tại mặt thế này, hồi buổi thượng cổ, không cầm được quyền năng cầm tâm-lý của nhân loại trong khuôn khổ đạo-đức tinh thần nữa.

    Đối với các triết lý Bí-Pháp buổi nọ, bây giờ nhân loại tăng tiến quá lẽ, thành thử các vị Giáo-Chủ đã lập luật-pháp, nhưng luật pháp đơn sơ ấy, ngày nay không có đủ quyền năng trị tâm thiên hạ nữa.

    Bởi thế cho nên nền Tôn-Giáo mới hơn các nền Tôn-Giáo khác có mặt tại Địa-Cầu này là nền Thiên-Chúa-Giáo, vị giáo chủ sáng suốt, vị Giáo Chủ ngôn-ngữ hoạt bát, tinh thần minh hoạt hơn hết, là Đức-Chúa Jésus Christ, nhưng hại thay trong thể pháp Ngài đủ quyền-năng đem đủ Giáo Lý của Ngài, đặng làm nền tảng tâm lý của nhơn loại.

    Nhưng về mặt Bí-Pháp Chơn-Truyền, Ngài chỉ có nói một điều các Môn-Đệ nhứt là các vị Thánh Tông-Đồ:
    - Có nhiều lý lẽ cao siêu ta chưa có thể nói với các ngươi đặng, dầu ta có nói các ngươi cũng chưa hiểu.

    Vì cớ cho nên Bí-Pháp Chơn-Truyền của Công-Giáo không có, không có thể có; bởi theo Bí-Pháp, theo lời Đức Chúa Jésus Christ thì buổi nọ Bí-Pháp Chơn-Truyền của Ngài chưa có thể gì nói cho thiên hạ nghe đặng.

    Ngày nay Đức-Chí-Tôn đã đến, đem nền Tôn-Giáo của Ngài để tại mặt thế nầy, đặng chỉnh đốn đạo-đức tinh-thần từ thượng cổ đến giờ, bằng huyền diệu cơ bút. Ngài đến không có quyền nào ngăn cản, Ngài dạy con cái của Ngài, Ngài có quyền đem cơ bí-mật huyền vi Tạo-Đoan giáo-hóa con cái của Ngài.

    Nền Tôn-Giáo xưa khác, còn nền Tôn-Giáo của Đức-Chí-Tôn ngày nay khác, vã chăng, mỗi cơ quan đã tượng-hình nơi Càn-Khôn Vũ-Trụ ngày giờ này có hai mặt luật.

    • 1. Luật hữu vi, tức nhiên luật định tướng định hình gọi là Thể-Pháp.
    • 2. Luật vô hình là định luật bí-ẩn của nhân-loại gọi là Bí-Pháp.

    Đạo-Giáo trọng-hệ nhứt là Bí-Pháp, vì do nơi Bí-Pháp mà người ta mới tìm-tàng được trong cơ-quan Tạo-Đoan. Cơ quan đó, tìm tàng Bí-Pháp ấy do Cách-Vật Trí-Tri nếu ta dịch ra pháp văn "la raison renverra toute la chose", Cách-Vật Tri-Tri, ta ngó thấy Đạo-Nho đã có một khoa tối cổ đó vậy.

    Các Đạo-Giáo đương quyền tức nhiên cơ-quan Tạo-đoan vạn-vật, Đạo phải có luật Hữu-Hình và Vô-Hình.

    Đạo-Giáo của Đức-Chí-Tôn hay các nền Tôn-Giáo khác cũng vậy, Đạo là gì ? Đạo là Huyền-Vi Bí mật cơ-quan Tạo-Đoan trọn cả cơ quan tạo-đoan ở trong hai khuôn luật Hữu-Hình và Vô-Hình của nó.

    Khuôn-luật Vô-Hình tức nhiên cơ quan bí mật huyền-vi. Tìm hiểu đặng chi? Phải tìm hiểu đặng, mới biết cái định luật về phần hữu vi. Trong hữu hình ấy, nếu ta lấy Cách-vật Trí-Tri cuả nó mà tầm vô-hình vô-ảnh của nó.

    • Luật Hữu-Hình tức nhiên là Thể pháp.
    • Luật Vô-Hình tức nhiên là Bí-Pháp.

    Bây giờ chúng ta lấy một cái thí dụ, nếu nấu một nồi cơm muốn cho chín, cho ngon, ta phải làm thế nào ? Muốn cho nồi cơm trắng thì phải giã gạo, trước khi nấu để gạo vào nồi ta phải vo cho sạch cám, vo rồi bắt lên nấu, nấu không đổ nước thì thành gạo rang còn gì, nếu đổ nước nhiều thì nhão, nhão quá thành cháo ngô, nên phải đổ nước cho vừa chừng với gạo, cơm cạn rồi cần phải bới lửa ra chỉ hông lấy hơi cho chín thì gạo mới thành cơm.

    Nồi cơm bây giờ đem ra, ta phải tìm cái bí mật của nó tại sao cơm nhão ? Tại sao cơm khô? Tại sao có cơm cháy ? Tại sao cơm sống. Nếu từ thử đến giờ Quốc-Dân Việt-Nam không biết nấu cơm thì ăn gạo sống sao ? Định-Luật chỉ có một chứ không có hai.

    Một cái thí dụ nữa: Như làm bánh bông-lan chúng ta ngó thấy muốn làm cần phải có bột, có đường, có trứng gà tất cả là ba món. Bây giờ phải làm sao cho Bánh Bông-Lan nổi tầm phồng. Chúng ta thấy phải đánh trứng gà cho nổi bong-bóng đều lên, để đường vô đánh nữa, đánh cho nổi tầm phỏng, rồi mới để bột vào đánh nữa, đánh cho đều, bột, đường, trứng gà đánh cho nổi thật đều, nổi chừng nào tốt chừng nấy tới chừng hấp phải để hơi lửa vô cho nóng cho chín thành ra bánh Bông-Lan tầm phỏng, nếu bánh không nổi thì thành bánh xệp.

    Nhận định, rồi mình ngó thấy Bột, Đường, Trứng, Gà, là thể pháp, Nướng Chín và Nổi thuộc về Bí-Pháp, cái bí ẩn vô biên là để lưả nướng chín. Cho nó chín, cho nó tầm phỏng đó mình không thể định được.

    Bây giờ cơ quan Tạo đoan cũng vậy, nó có cái lý do của nó, nó có cái định luật của nó, nó có từ mức của nó. Tức nhiên hình luật, chúng ta có thể quan sát được là thể pháp, còn mức bí ẩn chúng ta không thể lấy trí định được tức-nhiên Bí-Pháp.

    Ấy là một điều rất trọng yếu các nền Tôn-Giáo tại mặt địa cầu nầy, được trường cửu hay chăng là do luật Bí-Pháp. Đức-Chí-Tôn để cả hai triết lý cho nhơn loại biết sự thật. Bởi cớ cho nên Đức-Chí-Tôn đến, Ngài đến đặng Ngài giải một triết lý, một công lý hiện-hữu tại mặt thế-gian này, sự chơn thật Ngài đã giải sự chơn thật.

    Ấy vậy từ đây đến sau, Bần Đạo giảng tiếp Thể-Pháp cho biết Thể-Pháp rồi mới thấu đáo Bí-Pháp. Có một điều Bần-Đạo khuyên đừng có bơ-bơ nữa, điều khó khăn phải để tinh-thần trí-não tìm hiểu cho lắm, khó lắm phải rán học mới có thể đoạt-pháp đặng.

    Điều rất khó khăn là phải viết sách, nhưng Bần-Đạo muốn lấy ngôn ngữ làm thế nào cho mau hiểu.

    Kỳ tới Bần-Đạo giảng tiếp, từ đây đến sau phải rán nghe đặng họ.

  • Sermon 02: Exotericism and Esotericism

    Sermon 02: : Exotericism and Esotericism

    Lunar Calendar: 9th Day of the 4th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: May 6th 1949

    Last time, I explained why we call the laws of this universe exotericism and esotericism. Now I am discussing where the term "Đạo" comes from.

    Obviously, God makes laws for all beings in the universe to live accordingly. We humans, however, are granted wisdom, so we realize two opposite sides. What we can determine and manipulate is called "Đời" while what we cannot is called "Đạo".

    Đạo has been admitted to be so complex to master that Lao Tzu said: - Đạo is only a provisional name. It is actually nameless".

    Đạo, which is God's mysterious power, pushes humans to examine everything to attain God's power.

    Urged to investigate things by that mysterious power, humans are subdivided into two categories: materialists and idealists. The materialists are interested in worldly life, so they pay much more attention to human society. Inspired by unfair situations in life, the idealists look in morality, trying to understand the secret natural power.

    Living in nature, humans realize they are the wisest beings. Human wisdom urges themselves to find out why they remain alive or where that wisdom goes after their death. That is why there are religions, whose founders have shown people the two ways of life: material (Đời) and religious ones (Đạo). They live with Đời, trying to comprehend Đạo.

    Our physical body, as we know it, does not last forever, besides, it results in suffering, so why we have to live with that suffering? Doesn't God create our body to badly affects our noble qualities? There must be some reason!

    Hence, humans always want to know what they live for, what position they hold in this universe and what their future will be. The only difference between humans and animals are God gives humans holy spirits so that they can control the world.

    Like I said, where there is exotericism, there is esotericism. All religious founders have to respect that principle. A true religion should have both exotericism to help reduce humans suffering and esotericism to help eliminate their incarnation cycles. No matter how advanced it is, a religion with only exotericism is a fake one.

    In other world, a true religion should help people physically as well as mentally.

    Next time, I will talk more about exotericism and esotericism. Vietnamese source

    02. Am Lich: đêm 9 tháng 4 Năm Kỷ-Sửu.
    Duong Lich: 6-5-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Thể-pháp là cơ-quan giải-khổ, Bí-pháp là cơ-quan giải-thoát.

    Kỳ trước Bần-Đạo giảng tại sao gọi là Thể-Pháp và Bí-Pháp của khuôn luật Tạo-Đoan Càn-khôn vũ-trụ nầy. Nay Bần-Đạo giảng tiếp do nơi học thuyết nào sản xuất ra chữ Đạo.

    Vả chăng, cơ Tạo-Đoan hiển nhiên trước mắt, chúng ta thấy là định một khuôn luật, ngó thấy cả vạn vật đặng sống trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, nó có nghĩa lý sống cuả nó, cũng như mình biết mình có nghĩa lý sống của mình. Cái nghĩa lý sống ấy có phần hiển-nhiên ta định được, ta thấu đáo được, gọi là Đời, còn bí-mật huyền-vi chúng ta lấy lương tri lương-năng định đoạt không được, thuộc về bí-ẩn huyền-vi cơ-tạo, nhứt là cái Sống và cái Linh là trọng yếu của cơ-quan Tạo-đoan hơn hết, nó giục tinh-thần nhơn-loại buộc phải tìm tàng khảo-cứu cho ra hình-tướng, phần ấy gọi là Đạo.

    Vì cớ cho nên sách vở để lại, thiên hạ đã thú thật rằng không phương đoạt được, phần định được chỉ nói "Cường-Danh Viết-Đạo". Cái sống và cái linh chia ra làm hai hạng:

    • Hạng khảo cứu về Vật.
    • Hạng khảo cứu về Thần.

    Vật thì xu hướng theo bản năng của cơ Tạo-Đoan hiện hữu, lấy vật lý làm căn bản, mà lấy vật-lý làm căn-bản thì họ hướng về xã-hội nhơn quần, hay là định-sống của xã-hội, định sống của xã-hội tức là định-sống của vật, định sống của vật tức nhiên là đời.

    Bây giờ, bí-ẩn huyền-vi của cơ Tạo-Đoan để trước mắt có nhiều lý lẽ bất-công, họ khảo-cứu về Tinh-Thần Đạo-Đức, những lẽ bất-công đó, buộc họ tiềm-tàng cao-siêu hơn nữa đặng cho thấu-đáo cả bí-mật huyền-vi cơ Tạo-Đoan ấy.

    Lẽ cố nhiên, con nguời cũng đồng sống với vạn-vật, thấy mình linh hơn vạn vật, biết mình có bản-năng đặc-sắc hơn nhờ cái Linh đó. Linh ấy đáng lẽ nó phải tồn-tại, nhưng cơ bí-mật Tạo-Đoan, có chết thì có sống, giục con nguời đi trong con đường hiểu biết, tiềm tàng cho thấu-đáo, tại sao mình sống, sống duy-chủ thân-thể mình, mình chết cái Linh ấy, cái sống ấy nó đi đâu ? Vì cớ mà đời đã sản xuất các triết-lý Đạo-Giáo, các vị Giáo-Chủ từ trước đến giờ đến thế-gian này tạo Đạo, đã để hai khuôn khổ, định về chủ hướng ấy.

    Sống về vật hình là dìu-dẫn sự sống của huyền-linh, họ thuyên về một đường vô-hình. Sự sống chết họ thấu-đáo cái hư-không tiêu-diệt và cái tồn tại hiển-hách của nó. Bây giờ cả hành-tàng bất-công do chỗ nào sản xuất ra trong cửa Đạo ?

    Đời chúng ta ngó thấy cái sống về vật-hình chia hẳn nó ra, thì cái sống về vật-hình là bóng dáng mơ hồ. Trong cái sống vật-hình, thi-hài thể-chất, chúng ta nhận thấy nó không tồn tại, mà trái ngược lại nó vẫn là cơ quan tạo-khổ cho ta mà thôi. Đã là cơ quan tạo khổ, thì cái sống này có hữu ích gì đâu ?

    Chẳng lẽ cơ bí-mật Tạo-Đoan tạo ra vật-hình, mà loài nguời ngó thấy đây để ảnh hưởng đến chơn tánh cao-thượng tạo-đoan ra không phải để chịu thống khổ mà thôi, phải có nguyên do gì chớ ? Bởi nguyên do phải có chủ hướng, vì lẽ đó mà nó giục nhân-loại tìm-tàng chí-hướng của con nguời sống để làm gì, là tìm hiểu đặng định phận của mình, liên-quan như thế nào trong cái sống, tức nhiên là thấu-đáo bản năng của mình, định-phần tương-lai giữa càn-khôn vũ-trụ trong vạn-vật đó vậy.

    Tương-lai của sự sống tức nhiên tương lai của loài người, tương-lai của loài người tức-nhiên tương-lai của Đạo. Con người đứng trước vạn-vật, thú cũng đồng thú, khác bởi người là Đạo, trong người Chí-Tôn đã để Đạo, Đạo khác với thú là vì trong loài thú Đức-Chí-Tôn không có để tánh linh như Đức-Chí-Tôn đã định tánh cho loài người, đặng loài người làm chúa vạn-vật, vật phải dựa vào trong tay loài người đặng duy-chủ đó vậy.

    Ấy vậy Bần-Đạo nói: có Thể-Pháp thì có Bí-Pháp, các vị Giáo-chủ cũng phải tùng theo khuôn-luật đó, một nền chơn-giáo có thể-pháp là cơ-quan giải-khổ cho chúng-sanh tức-nhiên phải có Bí-pháp đặng làm cơ quan giải thoát cho chúng-sanh, hễ độ phần Xác tức-nhiên phải độ phần Hồn cho toàn vẹn.

    Một nền Tôn-Giáo nào đã xuất-hiện tại thế gian này dầu Thể-pháp cao-siêu bao nhiêu đi nữa, nếu không có Bí-pháp làm tướng-diện căn-bản, thì nền Tôn-Giáo ấy chỉ là Bàn-Môn Tả-Đạo mà thôi.

    Kỳ tới Bần-Đạo sẽ giảng-tiếp Thể-pháp và Bí-pháp.

  • Sermon 03: The law of nature

    Sermon 03: The law of nature

    Lunar Calendar: 13th Day of the 4th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: May 10th 1949

    Before talking more about religious exotericism and esotericism, I remind you of what I said in the last sermon. God grants humans wisdom, so they study things and realize that there are two crucial ways of life: the material way and the path of the idealists.

    Therefore, humans adopt one of the major lifestyles. First, some people think material life is more important, trying to pursue worldly benefits. Second, others maintain that idealist values should be respected and they seek to perfect themselves morally.

    Both concepts are equally reasonable. The idealists establish their own exoteric and esoteric paths and the materialists create their paths as well. Their concepts, however, seem opposed to each other. When we realize that God makes that law which determines human destinies, we might say that the idealists attain their implementation before this law, whilst the materialists decide the law before their implementation.

    I am now telling you about religious theories first then the worldly ones later. Last time I promised to talk about esotericism, saying there are two major tendencies: materialism or exotericism and idealism or esotericism.

    Therefore, there are two important religious theories: First, religious exotericism, which is based on human life, aims at protecting human wisdom during lifetime or at least passing down for the future of mankind. It is undeniable that each individual living on earth has his own characteristics. Though newly born like an animal, a human is still wiser, having the wisdom handed down by their parents. It is that heredity that develops human races, so mankind becomes more and more civilized, not the other way round.

    Additionally, among various races on earth, those intelligent ones undeniably have intelligent children. Hence we cannot see the process of handing down wisdom, but it still takes place. Similarly, esotericism cannot be seen in the world, but we know it.

    Take the Buddha, Laozi and Jesus Christ, whose wisdom convincingly exceeds that of any humans on earth, those Holy Beings have accumulated wisdom for countless past lives. It is that accumulation that decides their religious leadership in the world despite the fact that they possess the same physical bodies as we do.

    Those two points belong to esotericism. Now I am discussing religious exotericism. How do religious scholars who study material life discover these laws? They find those laws that follow the laws of the universe.

    That is, they live according to natural laws. Nature decides that they have to do so to reserve human instinct. Humans live and pass down their ethical codes for human future. Humans have examined things, understanding that since they appeared on earth over a million years ago, they have made lots of progress thanks to wisdom granted by God.

    Taking orders from God, they make the material world better and better. They follow the motto "Nhựt nhựt tân hựu nhựt tân" (Every new day is better than the day before) by our Vietnamese forefathers. That is the law of progress in the universe.

    To protect material life, religions have introduced the law of love as their foundations. Based on love, life has been continuing so far. Religious people live their worldly lives, keeping themselves moral so that they can lead other beings. When they die, their second bodies or their peri-spirits will go to heaven. That is the esotericism God teaches humans on earth.

    Last time, I said a religion should be spiritual enough, should give concrete evidence of the spiritual world or should protect human souls, unable to do so, it is only a fake religion.

    Mankind has been shown to pursue that spiritual achievement though it is invisible. Caodaism is spiritually powerful enough to execute its responsibility of salvation. No one dares say Caodais Esotericism is invented by a person or a religious founder with a physical body.

    It is God, the Creator of the universe, who saves humanity with that esotericism.
    Vietnamese source

    03. Âm Lịch: đêm 13 tháng 4 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 10-5-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Sống là Đời thuộc Thể-pháp, Linh là Đạo thuộc Bí-pháp.

    Trước khi giảng tiếp Bí-pháp và Thể-pháp của Đạo, Bần-Đạo nhắc lại một lần nữa, kỳ rồi Bần-Đạo đã tỏ cho cả thảy đều biết, nhơn-loại đến giữa cơ Tạo-Đoan Càn Khôn Vũ Trụ huyền vi bí mật Tạo-Đoan đã cho một tánh-chất ly-kỳ bí mật, là khôn-ngoan hơn vạn-vật, do khôn-ngoan ấy mà tìm hiểu rằng cả cơ thể Tạo-Đoan có hai đặc-điểm trọng-yếu:

    • 1. Một là Sống
    • 2. Hai là Linh

    Biết được hai đặc-điểm ấy, thấy nhơn-loại có hai chủ-hướng: Một là nương với cái sống của mình, cho cái sống là hệ-trọng tức-nhiên là học-thuyết cơ-thể Tạo-Đoan của đời, hai là nương theo tinh-thần nhơn-loại, nương theo triết-lý nầy cho cái Linh là trọng-hệ, vì cớ nên xu-hướng theo phần hồn là tinh-thần thường tại.

    Bây giờ chia theo hai lẽ ấy.

    • 1. Sống tức là Đời.
    • 2. Linh tức là Đạo.

    Hai lẽ sống chia nhơn-loại ra hai đường căn-bản, đứng trung-tâm-điểm cũng do nơi trí-thức tinh-thần, mà trí thức tinh-thần ấy xu-hướng:

    • 1. Theo học thuyết Đời tức là xu-hướng theo cái Sống.
    • 2. Theo học thuyết Đạo, tức là xu-hướng theo Linh.

    Cả hai tinh-thần ta thấy không có lầm-lạc, nhứt là đàng nào cũng có nguyên-lý của nấy. Đời xu-hướng theo cơ-quan sống tức-nhiên cơ-quan Đời họ cũng có Bí-pháp và Thể pháp, xu-hướng theo Đạo cũng có Bí-Pháp và Thể Pháp.

    Nhưng hai lý-thuyết tương-đương như phản-trắc. Về phần Đạo, thì trí-thức tinh-thần nhơn-loại nhìn nơi vô biên biết càn khôn vũ-trụ tức là cơ Tạo-Đoan, nó định luật cho khối người, thành ra pháp chủ Luật, tức là Pháp trước Luật sau, còn cơ-quan đời tức là cơ-quan xu hướng theo cái sống, định luật được rồi, mới tìm-tàng pháp đặng thi-hành luật, thành ra Luật trước Pháp sau. Bây giờ Bần Đạo nói về thuyết Đạo-Giáo trước rồi mới giảng thuyết Thế-Đạo sau.

    Kỳ rồi Bần-Đạo hứa thuyết về Đạo-pháp tức-nhiên là Bí Pháp, Bần Đạo đã nói có hai chủ hướng :

    • 1. Sống tức nhiên là Thể-Pháp.
    • 2. Linh tức là Đạo thuộc Bí-Pháp.

    Chia rẽ rõ-ràng như vậy, rồi không còn bợ-ngợ gì mà không quyết-định, ấy vậy trong Đạo Pháp có hai thuyết:

    Thể Pháp là xu hướng theo sống, cái sống của vạn-loại tức là đồng sống với nhơn-loại, rồi do cái sống ấy tìm tàng Thể-Pháp trong tinh thần Đạo-Giáo, đặng bảo-thủ cho tồn-tại cái Linh, tức là bảo-thủ tồn-tại cái khôn-ngoan trí-thức của mình; buổi sống thế nào vẫn còn mãi-mãi đến buổi chết.

    Trái ngược lại dầu cho cơ-quan chết ấy do cái Linh ấy không có đại-diện của nó, ít nữa Linh ấy cũng để lại trong máu mủ chúng ta, tức là để lại cho nhơn loại tương lai còn tồn-tại đặng. Chúng ta không thể chối cãi được, tại sao chúng ta thấy hiện tượng trên mặt địa-cầu này con nguời có đặc điểm riêng, dầu cho kẻ sơ-sinh cũng sống với cái sống của con vật, mà con vật ấy cũng sanh như những con vật khác, có điều ta nhận thấy nó khôn ngoan hơn tức là Linh hơn vạn-vật.

    Linh ấy do nơi Linh của nhơn loại đoạt được với tinh thần Đạo-Giáo đặng truyền lại (droit d' hérédité) nếu Linh ấy nhơn-loại đọat được là do Cha Mẹ đã đoạt được trước, vì trẻ sơ sinh kể như con thú kia lấy gì khôn-ngoan hơn con thú được, nếu không nhờ cái Linh truyền thống lại, chúng ta ngó thấy Bí-Pháp ở giữa Thể-Pháp ta thấy nó bán thế, bán-lý, ấy là do sự truyền thống của tinh thần loài nguời ta chưa thấy một sắc dân nào đã tiến-triển, tức đã tiến bước trên đường văn minh hay là đã tiến bước trên con đường trí-thức tinh-thần mà thối bước trở lại, nhơn-loại mãi tiến tới không bao giờ thối.

    Chúng ta ngó thấy nữa: Mặt địa cầu nầy có nhiều sắc dân, sắc dân nào đã khôn ngoan thì họ truyền tử lưu tôn, khôn-ngoan đặc-biệt, điều ấy không ai chối đặng. Ấy vậy cái Linh của chúng ta không ngó thấy mà biết rằng có cái truyền thống cũng như Bí-Pháp là cơ-quan bí-mật ta không ngó thấy, không có gì tượng trưng cho nó nơi mặt địa cầu nầy, nhưng ta biết rõ nó vẫn tiến triển mãi.

    Ấy nhìn cao hơn chút nữa, giữa nhơn-loại đối-với cá-nhân hay đối với dân-tộc, chúng ta thấy trước sau đặc biệt không thể gì chối cãi được nữa, ta không thể nói mặt địa-cầu này, giờ phút này, có một nguời nào làm người như Đức Phật Thích Ca, như Đức Lão Tử, Đức Chúa Jésus Christ đã làm người, ta không thấy nguời nào dám nói là nguời có đủ sức đối thủ với các Đấng ấy, chưa có đặc-điểm gì khác, các Đấng ấy cũng là nguời như ta, tại sao lại được hơn ta vậy ?

    Tại khối Linh của họ đoạt-được muôn-muôn kiếp sanh, ta không đoán biết đặng đã lập vị cho họ đến đặc-điểm mà ta chưa hề biết tới, chúng ta đang còn ở hồi sau, khối Linh ấy định phận trong tinh-thần Đạo-Đức, định phẩm cho họ làm Giáo-Chủ nhơn loại.

    Hai đặc-điểm Bần-Đạo vừa nói thuộc về Bí-Pháp. Bây giờ nói Thể-Pháp tức là nói xu hướng của cái sống, các người đã tiềm-tàng học thuyết về cái sống mà họ có tinh-thần xu hướng về cái Linh của họ, họ đã làm thế nào tìm ra khuôn-luật, Bần-Đạo đã nói, họ tìm khuôn-luật cho hạp với cơ Tạo-Đoan Càn-Khôn Vũ-Trụ tức nhiên cái sống của họ phải thế nào cho phù-hợp với chơn-lý của vạn vật trước họ đặng đồng sống với vạn vật, đồng sống thì ta thấy có khuôn-luật đặc điểm như thế nào ? Tại sao vậy ?

    Tại luật thiên nhiên định cho họ bảo-thủ cái sống (Instinct de conservation) luật thiên-nhiên cho bảo-thủ cái sống là khuôn-luật định phận làm người giữa nhơn-loại vậy. Rồi đến bảo-thủ cái Linh cho tồn-tại tức-nhiên là bảo-thủ khôn-ngoan, cái khôn hơn vạn vật.

    Trước phải cung kỉnh cái sống ấy tồn-tại mãi, cái sống ấy vẫn còn về tương-lai Đạo-Đức tinh-thần của nhơn-loại để định phận cho nhơn-loại. Nhơn-Loại đã tìm-tòi và hiểu rằng: trên một triệu năm khi nhơn-loại để chơn nơi mặt thế này, cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại, tại thế này có thể thêm chớ không có bớt là do khôn-ngoan, biết bảo thủ cái sống tại mặt địa-cầu này thay-thế cho Đấng Chí-Linh mà sửa cải, tô-điểm các cơ-quan hữu-hình cho đặng tận-thiện tận-mỹ như Đấng Chí Linh đã định, họ theo khuôn-luật của mỗi ngày đi tới nơi, mỗi kiếp mỗi mới mãi thôi "Nhựt Nhựt Tân Hựu Nhựt Tân", ngày nay mới, càng ngày càng mới là lời Tiên-Nho của chúng ta để lại, đổi mới là khuôn-luật thiên-nhiên chỉ định cho họ mỗi ngày phải mới tùng theo khuôn-luật tấn hóa của vạn loại trong Càn-Khôn Vũ-Trụ này vậy.

    Muốn bảo-thủ cho cái sống tồn tại, Đạo Giáo lập ra cái thuyết "Ái Truất Thương Sanh" làm căn-bản, họ lấy yêu ái mà định-luật cho cơ-quan bảo-thủ cái sống tồn tại đến ngày nay, là do nơi đó mà tinh-thần của con-nguời định quyết rằng; khuôn-luật Tạo-Đoan có bảo-thủ mạng sống với khuôn-luật: Ái truất quần-sanh của họ đặng thi-thố định con đường, rồi họ quả quyết đi đến, tức nhiên sẽ đến cảnh Linh của họ giữa vạn-vật, họ sẽ thấy đặc-điểm của họ để làm chủ Vạn linh ấy.

    Giờ phút nào họ thấy được thì họ có quyền vi-chủ Vạn-linh, đương nhiên họ sống với hình xác thịt mà họ đã quả-quyết định quyền vi-chủ của họ giữa Vạn-linh được, buổi thoát xác tức là buổi lìa khỏi căn-bản nguyên sanh của họ, họ sẽ tới được cảnh giới Chí-Linh, ấy là Bí-Pháp Đức-Chí-Tôn để tại mặt địa-cầu này vậy.

    Kỳ rồi Bần-Đạo đã thuyết một nền Tôn-Giáo nào có đủ cái Linh tại thế giữa loài người, làm cho loài người biết ra một nền chơn-giáo có đủ bằng cớ là Huyền-Linh, đặng bảo-thủ phần hồn của loài người là căn-bản của loài người. Còn nền Tôn-Giáo nào không có cái Linh ấy, Bần-Đạo đã nói chỉ là Tả-Đạo Bàn-Môn mà thôi, bởi không có đủ quyền năng siêu độ chơn hồn của vạn loại, phải có cái Linh đủ năng lực độ hồn nhơn-loại, bằng không, Bần-Đạo nói lại, chỉ là Tả-Đạo Bàn-Môn đó thôi.

    Chúng ta thấy các nền Tôn-Giáo từ trước đến giờ dầu cho Linh ấy không ra tướng-diện từ buổi có loài người vẫn chạy theo Linh ấy, các nền Tôn-Giáo tại mặt địa-cầu này và các vị Giáo-Chủ tạo Đạo vẫn tìm cách làm cho cái Linh ấy được ra tướng diện.

    Bần-Đạo không cần tả nhiều e thiên hạ nói của mình trọng hơn của thiên hạ, đạo Cao-Đài có đủ quyền năng hiển hách anh linh của nó, không có nền Tôn-Giáo nào tại thế này khả dĩ đối thủ được cả thảy, tức nhiên Bí-Pháp của đạo Cao-Đài giờ phút này không có kẻ nào dám cả gan nói Bí-Pháp ấy do tay phàm hay do một vị Giáo-chủ mang xác phàm cầm nó mà chính trong tay của Đức-Chí-Tôn là Đấng tạo Càn-Khôn Vũ-Trụ, chúa cả vạn-vật, cầm Bí-Pháp trong tay đặng độ rỗi phần-hồn nhơn-loại, tức nhiên không có nền Tôn-Giáo nào dám đối thủ với đạo Cao-Đài cho bằng đặng.

  • Sermon 04: The laws constitute a true secular exotericism

    Sermon 04: The laws constitute a true secular exotericism

    Lunar Calendar: 12th Day of the 5th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: June 8th 1949

    In my last sermons, I sketched out religious exotericism and esotericism. I will discuss this in more detail and just now I am continuing my talk about secular exotericism and esotericism.

    Like I said, people pursue two major ways of life: the material life or the spiritual way. I told you about how people manage to survive; peace and war consecutively have influenced human development ever since.

    In prehistoric times, humans had a lot of difficulties. They did not know how to build houses, so they had to shelter in caves. They were easily killed by wild animals and natural disasters, so they grouped to fight. Then, they fought not only against wild animals but also against other people. Next, increasing population forced them to form nations. It was hard to keep a society in order because everyone wants to defend themselves first, that is why there are laws and law enforcers.

    Law enforcement, however, is so difficult because humans nowadays always prefer freedom. Intelligent enough, they find out various ways to fight against what deprives themselves of their freedom. Consequently, laws are always broken either directly or indirectly. As a result, it is extremely hard to ensure the security of the social realm.

    At first there were wars between tribes, then countries and then the whole world at last. The more population, the more wars! Like China, so crowded is it that wars were made throughout its history.

    Humans have defeated whatever deprives themselves of their own rights. They never give up until they attain that freedom. If brutal power is still used in self-defense, there is no peace in the world. Unfortunately, the present warlike world shows that there are no true laws - none which properly satisfy people's desire.

    Hence, it is those laws which elevate the people's wishes that will survive human advancements and eternally secure their happiness. Those laws constitute a true secular exotericism.
    Vietnamese source

    04. Âm Lịch: đêm 12 tháng 05 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 8-6-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Thể-pháp của Thế Đạo là bảo toàn sự sống của nhơn loại

    Đêm nay Bần-Đạo giảng tiếp Thể-Pháp và Bí-Pháp của Thế-Đạo. Mấy kỳ trước Bần-Đạo đã trình bày đại cương Thể-Pháp và Bí-Pháp của Đạo; bây giờ Bần-Đạo khởi tách ra từ chi tiết của nó.

    Bần-Đạo đã chán biết, có nhiều người ham nghe Bí-Pháp của Đạo lắm, nhưng Bần-Đạo phất ngọn lên đó để đặng cho họ theo đặng họ đi cúng, nếu không họ làm biếng đi cúng, họ ngủ hết.

    Bần-Đạo khởi thuyết Thể-Pháp của Đời, vả chăng Bần-Đạo đã nói rằng: do hai chủ yếu làm cho con người xu hướng theo hai lẽ.

    • 1. Yếu tố thứ nhứt: sống đeo đuổi theo sống, theo yếu-tố sống tức nhiên theo Đời.
    • 2. Yếu tố thứ nhì: đeo đuổi theo Linh tức-nhiên theo Đạo.

    Trước Bần-Đạo đã thuyết sống của Đời, chúng ta đã thấy luật định sống của con người, Bần-Đạo nói: muốn định sống cho có trật tự, cho có đẳng cấp, thì họ có hai cái hòa bình và tranh sống với nhau; cái khổ Thể-Pháp của Đời là vậy.

    Chúng ta thấy Thể-Pháp của Đời để đặng bảo toàn sự sống chung của nhơn loại, chúng ta thấy trước mặt không cần kiếm, muốn bảo toàn sanh mạng của loài người chúng ta thấy buổi Thượng-Cổ lúc còn ăn huyết ở hang chưa biết cất nhà cửa lầu đài đặng ở, phương sống của họ khó khăn lắm, chung quanh họ bao vây toàn những cơ quan tiêu diệt họ là thú dữ thiên tai mộc ách, họ muốn bảo toàn mạng sống, tức họ phải kiếm phương thế tự an tự lập, chỉ có hai bàn tay không thì làm sao kiếm cho ra sắt đặng làm binh khí tự vệ lấy mình; vì buổi ấy thú dữ mạnh hơn người.

    Người Mường-Mán tự vệ bảo toàn sinh mạng buổi đó cho còn tồn tại cho đến ngày nay không phải dễ. Chưa biết cất nhà, họ phải chun vô hang hố đặng bảo trọng lấy họ, rồi một người chiến đấu với thú mạnh mẽ không nổi họ phải chung hiệp với nhau, tức nhiên thành Mường Mán như chúng ta ngó thấy Mọi miền Cao Sơn của chúng ta vậy.

    Mường Mán ấy chẳng phải để chiến đấu với thú dữ, chiến đấu với thiên tai mộc ách mà thôi, họ còn phải chiến đấu với các cơ quan làm hại họ, tức-nhiên Mường Mán này muốn đè lên Mường Mán khác, buộc họ phải chiến đấu đặng giành quyền tự chủ của mình. Muốn chiến đấu cho đắc thắng họ phải chung hiệp lại đại đa số hơn, thành ra một quốc gia một xã hội, trong một quốc gia chúng ta thấy nhiều số nhơn sanh là vậy.

    Ngày nay định sống của họ cho có trật tự thì khổ lắm, bởi vì ai cũng muốn bảo-tồn mạng sống của mình trước đã, nhiều khi mình muốn bảo tồn mạng sống của mình chẳng kể mạng sống của kẻ khác; khổ là chỗ đó.

    Muốn cho sống có trật-tự thì phải định luật tức-nhiên họ phải bảo-vệ sanh-mạng của dân, đặng buộc người đồng sống trong khuôn khổ tự hữu của mình; muốn cho được vững chắc thì phải đặt ra luật pháp, có luật pháp thì phải có viên quan vua chúa.

    Định luật xã-hội phải như thế mà thi hành rất khó-khăn lắm, lúc tâm-lý nhơn-sanh còn đơn giản, thi-hành là muốn cho thiên-hạ bảo-vệ sự sống của dân trong một quốc gia mà thôi, rồi lần-lần họ khôn ngoan, họ lấy khôn-ngoan của mình đặng chiến-đấu với các cơ-quan nào làm cho mình mất tự do làm cho mình không được tự chủ.

    Nhơn-loại bây giờ cũng thế, họ phá rối luật-pháp buộc ràng họ bằng mọi cách gián tiếp hay trực tiếp, bởi vậy ngày nay một luật-định xã-hội bảo-toàn sanh mạng cho nhơn-loại đương nhiên bâygiờ khó khăn đáo-để.

    Đầu tiên khởi ra Mường Mán chiến-đấu với nhau, Mường Mán đó tiêu-diệt sang qua xã hội quốc gia, quốc gia bao giờ cũng muốn cường quốc đông dân số, như các nước mạnh kia vậy. Cũng như thể Trung-Hoa dân số có lối bảy trăm mấy chục triệu dân-tộc hiện tại thành thử họ thường-thường tương tranh với nhau luôn luôn, khuôn khổ kia xét lại đến ngày nay các liệt cường quốc gia liên minh của mặt địa cầu này, muốn bảo toàn mạng sống khó khăn lắm.

    Bần-Đạo nói cho mấy người nghe đặng mấy người theo, rán theo sau Bần-Đạo đặng hiểu Bí-Pháp của Đạo, Bần-Đạo cho biết rằng: Bí-Pháp của Đạo và Thể-Pháp của Đời có liên quan với nhau, nếu làm biếng không nghe Đời không thể gì biết đến Đạo.

    Bần-Đạo nói rằng: về Thể-Pháp, dù Thể-Pháp, dù Bí-Pháp nào nói rõ Thể-Pháp một quốc gia nào, một dân-tộc nào, mà phù hợp với tinh thần tiến triển của dân sanh nước ấy, tức nhiên phù hạp với tinh thần hữu nghị của họ, thì nó tồn tại bằng trái ngược lụng lại tinh thần của dân tức nhiên dùng cường quyền ép bức mà thôi.

    Bần-Đạo đã nói từ hồi nào đến giờ, con người bao giờ cũng chiến thắng với các trở lực làm mất tự do, mất quyền vi chủ của mình, tức nhiên tâm lý nhơn-sanh không buổi nào chịu thua một cuỡng bức nào làm cho họ đã mất quyền vi chủ, họ chiến đấu mãi thôi.

    Ngày giờ nào còn quyền áp bức dân tộc này, ép bức dân tộc khác, dùng quyền tàn sát đặng bảo thủ sanh mạng của họ, thì giờ phút đó chưa có hòa bình trên mặt địa cầu này, không hòa-bình là Tả-Đạo, là giả-pháp, không đúng với tâm-lý nhơn-sanh.

    Ấy vậy, chúng ta thấy những quyền luật nào lập ra tại mặt địa cầu này mà không trái với tâm lý của nhơn loại thì nó sẽ tiến triển theo sự tấn hóa của nhơn loại, đặng bảo tồn sinh mạng của nhân loại cho được vĩnh viễn và hạnh phúc.

    Ấy thế Đạo của Đời chơn chánh đó vậy.

  • Sermon 05: Secular esotericism

    Sermon 05: Secular esotericism

    05. Lunar Calendar: 22nd Day of the 5th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: June 18th 1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh

    Tonight, I will talk about secular esotericism because I have already spoken about secular exotericism the last time we met. I would like to elaborate upon esotericism so that you, the children of God, can tell the difference between truth and falsehood.

    It is generally thought that there is no esotericism in the secular world. Yet there is, but it is usually hidden, for example, those causes that have made great men and women improve the world. Those celebrated persons always have a wish: to be remembered and admired by younger generations before or after their death. To realize their dream, they try to serve their community, their country or the whole world. If they decide to serve people, they work based on their true heart. Their activities are relevant to religious practice because wholehearted service is actually a religious practice.

    God announces: - Without the secular life, religion lacks strength; without religion, secular life lacks power.

    The two concepts should be mutually compatible with each other all the time. They are absolutely inseparable. Lots of effort has gone into proposing theories to separate them but these have been in vain.

    Care Litaire [2], for instance, was desperate to leave the Roman Catholic Church, but completely failed. To put it another way, these people and the contemporary situation always wants to step away from religion and/or spiritualness, but they cannot.

    For a long time, the Russian government has adopted Communism and atheism, denying God. Against any moral codes, they have introduced the Three-No Policy Three-No Policy [3], the leading principle of which is atheism. They have decided to overthrow all religious ethics for their purpose of materialism. They, however, still have not been able to do so. Having gained power and established the Russian Soviet Republic in 1917, Stalin oppressed all religious activity in the country.

    Finally, all Christian churches are now being revived. In spite of constant human efforts to be independent from religion, they have never been able to succeed. They are surely aware that the people cannot be governed without religious morality - even though religion partly reduces their political power.

    Since time immemorial, nobody has been able to rule a nation on earth without the existence of religion. That is why our Vietnamese ancestors always emphasized morality when talking about politics. Based on Confucianism, they always taught the younger generations to carry out:

    • 1. The investigation of phenomena.
    • 2. Enthusiastic learning.
    • 3. Sincerity.
    • 4. The rectitude of purpose.
    • 5. Self-development.
    • 6. Family discipline.
    • 7. Local self-government, and,
    • 8. Universal self-government.

    It is thanks to the relation with religion that the greats are still remembered and admired. In Asia, the kings always canonized the mandarins who had died for the country; they had temples built for them. In Western countries, the statues of celebrated people are placed in public sites to serve as role models. This is a practice similar to religious ones, and so it can be dubbed secular esotericism.

    All the current rulers of the world dream of one thing: to be remembered for the good they have done. That is why a lot of people have been willing to suffer a great deal fighting for their fatherland. Despite unexpected setbacks that wish still forces them to continue their work.

    Hence, I again affirm that secular esotericism is being memorialized and admired by future generations. Additionally, there is an invisible, but frightening thing, which is word of mouth. Some events, which are by some means unable to be recorded in history, are spread by spoken communication. This is what prevents politicians from behaving badly. This precious sort of esotericism, which God grants humans, really lasts a long time. That is the utmost esotericism.


    [2] On occassion His Holiness Hộ Pháp makes references in his sermons to contemporary events. We suspect that this is what he is doing here with his reference to 'Care Litaire'. Unfortunately we could not find reference to this figure in our present research.
    [3] No family, no country, no religion.
    Vietnamese source

    05. Am Lich: đêm 22 tháng 05 Năm Kỷ-Sửu.
    Duong Lich: 18-06-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh

    Đêm nay Bần-Đạo thuyết Bí-Pháp của Thế-Đạo, vì kỳ trước Bần-Đạo đã thuyết Thể-Pháp của Thế-Đạo.

    Nay Bần-Đạo phải thuyết Bí-Pháp đặng cho toàn thể con cái Đức-Chí-Tôn biết định phận chơn với giả. Người ta tưởng Thế-Đạo không có Bí-Pháp; có chớ, tại Đời không đem ra để cho toàn thể nhơn-sanh hiểu biết.

    Có Bí-Pháp chớ; bởi những hạng vĩ-nhân tạo thời cải thế, đã lập công-trạng đối với nhơn-loại, nơi mặt địa-cầu này. Chủ hướng của họ tùy theo khuôn luật, khuôn pháp nào đặng họ tạo nên cơ nghiệp vĩ-đại nơi mặt địa-cầu này ?

    Thể-Pháp của họ chúng ta thấy họ mơ-ước một điều: trước khi quá vãng (chết) được nêu danh ư hậu thế hay là để lại một trang sử tốt đẹp cho đoàn hậu tấn của nhơn-loại.

    Xem ấy mà định-hướng chủ-tâm của mình hay định tương-lai của mình, tức nhiên thế-gian người ta thường gọi "Lưu-danh ư hậu-thế" để danh lụng-lại cho kẻ sau đó vậy.

    Lưu-danh ư-hậu-thế, họ đã dùng phương thế nào ; họ đã dùng chánh thuyết nào đặng họ phụng-sự cho thiên-hạ trong một nước, nếu họ không phụng-sự cho Tổ-Quốc ?

    Đối với Quốc-dân họ phụng-sự cho Quốc-dân, đối với toàn nhơn sanh nơi mặt địa-cầu này, họ có đủ chủ-hướng phụng-sự cho nhơn-loại. Đã định tâm phụng-sự tức nhiên nơi này là nơi bí-yếu hơn hết, xin để ý.

    Hể quyết tâm phụng-sự tức-nhiên họ phải lấy chánh tâm làm căn-bản, do chánh tâm ấy họ bước vô khuôn-khổ của Đạo, tương-liên với Đạo, chánh-tâm ấy để giá trị cho Quốc-dân. Thiên-hạ bước vô đường chánh tâm rồi tức-nhiên có liên-hệ với Đạo, họ phụng sự cho thiên hạ là chỗ liên hệ sự Đạo-Đức tinh-thần của toàn nhơn sanh đó vậy.

    Chúng ta đã thấy rằng lời của Đức-Chí-Tôn đã nói: "Đạo không Đời không sức mà Đời không Đạo không quyền", cả hai tinh thần ấy phải tương-liên mật-thiết cùng nhau không thể gì rời-rã với nhau đặng.

    Chúng ta đã thấy nhiều lý thuyết họ đã tiềm-tàng họ muốn thế nào Đời thoát-ly với Đạo mà như thể chúng ta ngó thấy các nền Tôn-Giáo như bên Thiên-Chúa-Giáo như Care Litaire muốn thoát ly ra khỏi Công-Giáo Gia-Tô mà họ chẳng hề thoát ly đặng. Họ muốn thoát-ly Công-Giáo, thoát-ly Công-Giáo tức nhiên họ tiềm-tàng đáo để họ kiếm phương-thế giải-thoát ra khỏi Đạo nhưng cũng không đặng.

    Giờ phút này chúng ta ngó thấy Nga-sô Viết lấy thuyết Cộng-Sản làm căn-bản, thuyết Cộng-Sản tức-nhiên thuyết Duy-Vật lấy vật-chất làm căn-bản, mà chối bỏ linh-hồn.

    Về thuyết vật hình, tức nhiên nghịch hẳn với tinh thần Đạo-Đức. Vật-chất họ phải đề xướng: "Tam vô" là vô thần đứng đầu hơn hết, nó phải đánh đổ tinh-thần Đạo-Đức đặng nó đi trọn con đường vật-chất. Phải chiến-đấu để vật-chật thắng tinh-thần. Giờ phút này nước Nga cũng chưa hề thoát-ly Đạo-Đức được phải đem Đạo-Đức làm căn-bản mà thôi.

    Tại Nga-Sô lúc Cộng-Sản chiến thắng đánh-đổ chánh-quyền rồi, tức-nhiên Staline không còn nhìn Đạo-Giáo nữa, không còn nhìn quyền Hội-Thánh La-Mã nữa.

    Ngày đánh đổ chánh-quyền khám-phá quyền-lực của nhà thờ, chỉ trích quyền-lực của Nhà Thờ, nhưng rốt cuộc ngày nay phải đem Đạo-Giáo đem Công-Giáo, tái lập các Đền-Thờ trở lại.

    Tuy vẫn không tùng quyền Ông Giáo-Hoàng La-Mã mà nó vẫn tùng quyền Ông "Got Oann" như Ông Giáo-Hoàng của nhà Thờ mà thôi.

    Còn nhiều nữa, nếu chúng ta quan sát từ thượng-cổ, bao giờ Đời cũng kiếm phương-thế thoát-lý Đạo, chiến-đấu để thoát-ly Đạo.

    Họ biết không tùng theo nó thì họ không quyền mà hể tùng theo nó thì mất tự-do tự-chủ của họ, nó mất thì nó chẳng khi nào mà trị thiên hạ được. ?

    Từ thượng-cổ đến giờ không một Quốc-Gia Xã-Hội nào nơi mặt địa-hoàn này vô Đạo mà cầm quyền thiên-hạ được, không thể có.

    Vì cớ cho nên cổ nhơn tức-nhiên Tổ-Phụ nòi giống Việt Nam trị dân vi đạo "Dĩ đạo vi tiên" tức-nhiên trị Đạo chớ không phải trị dân đó vậy.

    Có một điều Bần-Đạo chỉ chỗ chính giữa, muốn phụng-sự Quốc-dân hay Quốc-Gia cho đắc lực, phải có thành ý, rồi Chánh tâm; muốn có chánh tâm thì mình phải Tề-gia Trị-Quốc rồi mới đến Bình Thiên-hạ nghĩa là: tu thân, tức-nhiên nhơn-đạo đó vậy. Chính thiên-hạ có liên-quan mật thiết với Đạo mà lưu lại thanh-sử, nhưng cũng chưa đủ.

    Chúng ta ngó thấy họ muốn thoát-ly Đạo-Giáo, nói gần hơn nữa, ở cõi Á-Đông chúng ta thấy gì ? Như nhà Vua các công-thần "Vị-quốc vong-thân" nhà Nam ta có phong-thần nên buộc các Làng các Tổng, các Huyện, các Phủ, phải lập Đền Thờ, thờ các Đấng ấy, là Đình của chúng ta đó vậy.

    Thoát-ly, họ muốn thoát-ly Đạo, đặng họ lập khuôn-khổ riêng tư của họ, họ càng lập càng đội Đạo-Giáo trên đầu thêm nặng nữa.

    Bên Âu-châu chúng ta thấy gì ? họ muốn thoát ly Đạo-Giáo mà những công-thần ấy họ dựng hình để chỗ nào đông dân chúng, tùy theo công-nghiệp của mỗi người họ định chỗ dựng hình ảnh của họ để lưu lại cho hậu thế, dựng hình-ảnh ấy là gì ? Ấy là Bí-Pháp của họ đó vậy.

    Họ tưởng thoát-ly Đạo-Giáo là dễ nhưng mà hình cốt dựng lên họ để cả bài học cho hậu tấn; những cái hình ảnh còn tồn-tại đây, xác-thịt xương-máu của những kẻ ấy được lưu hình-ảnh tại mặt thế này là những Đấng để cả tâm-đức phụng sự cho Quốc-Gia và nhơn-loại đó vậy. Làm cho đặng họ ham lắm.

    Giờ phút này các Vị cầm quyền trị-thế trong một xã-hội nhơn-quần nào, cũng mơ-ước một điều là phải lưu danh hậu-thế mà thôi, lưu cả hình ảnh tôn-nghiêm của họ để hậu thế nữa.

    Vì cớ cho nên nhiều người nhiều khi khổ hạnh phải cực-khổ trong trường tranh-đấu vì Quốc-Gia Xã-Hội nhơn-quần khổ-não về tinh-thần nhọc-nhằn biết mấy. Có nhiều người thối chí mà nhờ cái năng lực và quyền-lực lưu danh ư-hậu-thế ấy buộc họ phải làm nữa, trong con đường phụng sự Quốc-Gia cho đến cùng. Vì thế phải có một tấm lòng chơn thật mới quyết-định được.

    Ấy vậy, Bần-Đạo lập lại một lần nữa, để lại một trang lịch sử tốt đẹp cho hậu-thế, để hình-ảnh tôn-nghiêm cho hậu-thế ấy là Bí-Pháp của Thế-Đạo.

    Còn nữa, ngoài ra nữa, còn có cái này; cái này không hình trạng mà đáng sợ hơn hết là miệng lưỡi của thế-gian. Có nhiều việc không để nơi trang lịch sử được, nhiều khi bất công của nhà Vua hay của nhơn-quần họ không để nơi trang sử được, họ chỉ để nơi miệng lưỡi thế gian mà thôi, đáng sợ hay chăng là chỗ đó. Hoặc là vì sự bất chánh yểm cả công-nghiệp công-thần của mình; nhưng công nghiệp ấy họ để nơi miệng lưỡi của dân, của thiên-hạ. Bí-Pháp ấy mới cao-thượng, mới bền bỉ, Bí-Pháp mà Đức-Chí-Tôn dành để đặng ban thưởng cho những kẻ vì Đạo nhơn-luân của con người biết quên mình vì Đạo. Vì Đạo mà tạo tinh-thần cho quần chúng đó, Bí-Pháp ấy cao-thượng hơn hết.

  • Sermon 06: Self examination

    Sermon 06: Self examination

    Lunar Calendar: 26nd Day of the 5th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: June 22nd 1949

    From now on, I will continue my talk by discussing religious exotericism and esotericism. Before dealing with this important philosophy, however, I would like you to carefully ponder where we live, what we are doing on earth and what is your viewpoint towards other beings.

    Each of you should examine yourself in order to comprehend the mystical secret of religious exotericism and esotericism. Self examination is the key that opens the door to your original soul. God's children, let us hold the key in our hand, opening that door to see the way of liberation, freeing ourselves from the cycle of reincarnation.

    I will first examine myself to see what my secular and religious life are. I will tell you why I joined Caodaist community and why I worship God. I think it is essential to answer such questions – such as why do we Caodaists enter this temple each night, saying prayers, and what benefits does God grant us when we belong to Caodaism? Without satisfactory answers, what you are doing now is just singing your favorite songs in a temple; it is not practicing Caodaism.

    How do you determine the worth of your religious practice, how do you dare to sacrifice your secular life and decisively live with other Caodaists? Some people practice a religion without knowing what the truth is. That is why some religions on earth have been abandoned.

    Now I am telling my story, hoping you will do the same for yourselves. This is the reason why I joined Caodaism. Before becoming a Caodaist, I had never believed anyone or anything except my own logical judgement. I had never let anyone brainwash me or fool me - although I was a Catholic then. Being a sickly child, whose other siblings had died of even minor diseases, I was taken to a Catholic priest to be his adopted son [4]. I grew up going to a Catholic school and I was a choirboy. I had, however, been sent to a school to learn Chinese-Vietnamese first before learning French.

    Though that mixed up my studies a little bit, I got into the good habit of learning everything I encountered. I always tried to study something without eating or sleeping until I thoroughly mastered it. The more complicated an issue was; the harder I tried to examine it. I felt somebody encouraging me to understand the secret of the universe.

    Having gotten a job, I saw my peers struggling to survive in a troublesome society. They, as well as I, struggled to move up the bureaucratic hierarchy without knowing whether that was happiness or suffering. On the way towards achieving happiness, we saw our beloved family and friends consecutively die. I cried my eyes out for them young and old, and I hated the invisible power that caused their death. Suffering forced me to seek some way to stop that series of unhappy events.

    I also thought there were billions of lives, including my own on earth who were equally unhappy. Sometimes people killed others just because they wanted to protect their own lives. Those who got killed were very, very sad, but the killers did not mind. I could witness those unjust situations all around me and I wanted to comfort the oppressed.

    I myself did not kill, but I did fight against other people for survival. Whenever I ate some food or wore some clothes, perhaps that resulted in my peers being deprived of those things at the same time. Instead of being helpful, I indirectly stole their things. I considered that a crime. Hence, I asked myself whether I could live without food or clothes.

    No, that was absolutely impossible! Eventually, my resolution was to put my soul in the hands of the Invisible Being, the Cao Đài or God, and thanks to His power I tried to seek a way to protect everyone.

    However, why Cao Đài? I have looked into other religions and felt unsatisfactory. Being a Buddhist, for example, you enter a pagoda, saying prayers and you live on offerings. That is the most evil way of life because you do not have to work; nevertheless you still live on things for which the needy are so desperate. Some cults are even worse in cleverly stealing people's possessions.

    Fortunately, while I was feeling very depressed, God came to me by spiritual means. Thanks to that experience, I did not need to seek any more. Without God, I would have gone mad thinking about this disgusting rat race. At first, though I did not know who He was, He ordained me as Hộ Pháp [5] and I accepted without any objection.

    Why was the Supreme Being able to convince lots of people including me? He introduced the cause that you should help rather than struggle against others. My friends, brothers, and my colleagues unanimously followed Him, I thought God called not only myself but also those who had the same religious view as I did and I thought there would be millions more who would follow Him.

    Therefore, I would not be an unhappy man nor a lonely Caodaist, there were people who knew my limitless love and intentionally helped the people who suffered much, that was the reason why I became one of God's disciples.

    I did not care whether Cao Đài was a genuine or fake religion, but I was interested in the fact that a Divine Being could collect a million disciples or so in such a short time, He must be the Supreme Being or God.

    I firmly believed I would see my best friends and my ancestors when I left my physical body and this planet to return to heaven, I believed I would know what heaven looked like when I get to it, that would prove my soul exists and disprove what has been always said in atheists' propaganda on this planet, I would be happiest to come back to heaven with millions of other souls. I did not know how powerful God was, but He would let me make friends with billions of divine beings in heaven.

    Therefore, I joined Caodaism to serve His children, that is to say to serve Himself, this is the reason why I have followed God ever since, now from this podium, I tell you the whole truth so that you can consider it for yourselves.

    My friends, I have used the key mentioned before to open the door to my soul, what about you? Do it for yourself – and then I will tell you more about Caodaist exotericism and esotericism.


    [4] In Asia, it is believed that evil spirits, who cause diseases, cannot harm a priest's adopted children.
    [5] The Law Protector, Guarder of the Law, Defender of the Law.
    Vietnamese source

    06. Âm Lịch: đêm 26 tháng 05 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 22-6-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Chìa khoá tinh-thần của Thể-pháp và Bí-pháp Thiên-Đạo

    Kể từ hôm nay Bần-Đạo giảng tiếp Thể-Pháp và Bí-Pháp của Thiên-Đạo.

    Trước khi Bần-Đạo giảng một cái triết-lý trọng-yếu ấy Bần-Đạo muốn cho cả thảy chúng ta mỗi người đều để tinh-thần trí não của mình tự xét lại coi đương nhiên chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào.... ? Chúng ta làm gì nơi cõi thế này ? Cái lập trương của kiếp sống ta đối với vạn-vật hữu-hình mà Đức-Chí-Tôn gọi là Vạn-linh ấy thế nào ?

    Mỗi người tự soát, tự soát đặng mới có thể hiểu đặng huyền vi bí-mật của Thể-Pháp và Bí-Pháp của Thiên-Đạo ấy là cái chìa khóa của chúng ta mỗi đứa mở lấy cái nguyên-linh của chúng ta vậy.

    Bần-Đạo rủ cả thảy con cái Đức-Chí-Tôn cầm chìa khóa nơi tay, đặng mở cả huyền vi bí-mật ấy cho thấu đáo; thấu đáo cho đặng rồi mới có thể biết được cơ-quan giải-thoát của mình.

    Bần-Đạo lấy của Bần-Đạo trước đã, Bần-Đạo tự mình, quan-sát của Bần-Đạo coi cái sống của Đời và cái Linh của Đạo tức-nhiên trí hóa khôn ngoan vô-đối của chúng ta thuộc về Đạo, như thế nào ?

    Linh ấy sống với phương pháp nào cho còn tồn-tại ?

    Tại sao chúng ta vào cửa Đạo, chúng ta vào đây chúng ta ngồi, tại sao chúng ta chung hiệp với nhau vô Đền-Thánh này mỗi đêm phải cầu-nguyện kinh-kệ với Đấng mà chúng ta gọi là Đấng Tạo-Đoan cả Vạn Linh tức-nhiên Đấng Chí-Linh đó vậy?

    Chúng ta tôn sùng Đấng ấy để làm gì ?

    Đấng ấy có hữu ích gì cho chúng ta hay chăng mà chúng ta phải phụng sự những điều chí thiết ấy ?

    Nên tìm tàng cái nguyên-lý của nó cho thấu đáo mới gọi rằng tu mà muốn tu phải biết huyền vi bí-mật ấy mới tu, còn không biết bất quá vô Đền-Thánh hát chơi vậy thôi.

    Hễ khi nào làm biếng không đi cúng rồi đổ thừa có chuyện này chuyện kia, tại mình không biết giá-trị của sự đi cúng, phải biết trọng đó cái đã.

    Bần-Đạo biểu tự soát mình coi, tại sao vô Đạo Cao-Đài, Đấng đã chung hiệp với con cái của Ngài là Đấng Chí-Linh tức-nhiên là Đức-Chí-Tôn chúng ta đang chiêm-ngưỡng tại Đền-Thánh này, phải biết giá trị đó mới dám can-đảm thí thân cho Đạo mới có thể cương-quyết đặng chung sống với con cái của Ngài, chớ không lẽ ngồi đó tu theo họ mà không biết chơn-lý ở đâu.

    Các nền Tôn-Giáo, chúng ta đã thấy chán-chường trước mắt vì lẽ đó mà vong phế.

    Bần-Đạo thuyết, bây giờ Bần-Đạo khai rõ cả tâm-lý của Bần-Đạo rồi cả thảy con cái Đức-Chí-Tôn cũng vậy tự mình cung chiêu của mình đi.

    Bần-Đạo theo Đạo Cao-Đài do lẽ này: kiếp sống của Bần-Đạo không có biết tin gì hết nhứt là đầu óc chỉ lấy triết lý học-thức làm căn-bản, không ai nhồi sọ đặng, nhứt định không để chủ quyền tinh-thần mình không bị ai lừa gạt, dầu cho Bần-Đạo đã theo Thiên-Chúa-giáo.

    Hồi thuở nhỏ nghe ra bị khó nuôi rồi Ông già Bà già sanh ra mấy người đều chết hết, đến nóng lạnh cũng chết, đến đổi thiên hạ sợ, tới phiên tôi Ông già Bà già bồng đem tôi đến Nhà Thờ Thiên-Chúa cho Ông Cha làm con nuôi ông ấy.

    Tôi lớn lên đi học trường mà cũng đi theo làm đồng nhi bên Thiên-Chúa-Giáo cũng như ai kia vậy; nhưng trước khi đi học Bà già cho vô trường học Nho trước, học chừng một năm ruỡi rồi cho vô trường Pháp nên không biết thêm gì hết, xét mình tự nhỏ đến lớn kỳ khôi hơn ai hết.

    Cái gì cũng muốn biết mà thôi, cho đến lúc khôn-ngoan trí-thức cũng vậy, cả cơ-quan của Đời tìm-tàng cho thấu đáo mọi điều, tìm cho hiểu, mỗi sự chi cũng tìm cho biết mà không biết được thì không ăn không ngủ. Khó lòng lắm, khó lòng quá, khó-khăn lắm, vậy phải tìm qua cho đặng hay biết cho đặng mọi việc ở Đời.

    Suốt một thời-gian, vẫn giục thúc tới chỗ bí mật huyền vi của Càn-Khôn vũ trụ, giục thúc Bần-Đạo một điều làm cho tinh-thần Bần-Đạo xốn xang biết bao.

    Bần-Đạo thấy chung quanh các bạn đồng sanh của Bần-Đạo dầu cho chí thân hay ngoại-tộc cũng vậy họ đương dung rủi trên con đường quanh co khúc khuỷu của Đời. Bần-Đạo cũng sống theo với họ trong con đường dục tấn, con đường ấy tức-nhiên chạy theo quan chức mỗi bước, mỗi ngày tình trạng khổ não, khó-khăn lắm, không biết họ làm cho tinh-thần đặng hạnh phúc hay đau khổ !

    Không thấy hạnh phúc gì hết; qua mỗi khoảng đường day lụng lại kẻ thương yêu của mình dầu lớn dầu nhỏ họ đã té quị theo dọc đường ấy nghĩa là họ chết.

    Những kẻ thương yêu Bần-Đạo, Bần-Đạo dòm lại một lần nữa họ đều chết hết dầu chí thân hay ngoại thân cũng vậy. Tức tối thay cho quyền-năng vô-đối của vô hình kia tại sao phải từ bỏ ? Không sanh sống cho vẹn toàn con người già hay trẻ đều lần lượt chết hết biết bao nhiêu giọt lệ của Bần-Đạo đã khóc với thân già và biết bao nhiêu giọt thảm của Bần-Đạo đã rưới trên thân trẻ.

    Tình trạng đau-khổ giục-thúc Bần-Đạo tìm hiểu coi cái phương pháp giải-kiết, phương-pháp giải-nạn coi có nơi nào hay chăng. Thử tự soát mình, tự xét nghĩ mình cũng một mạng sống cũng như mấy ngàn triệu mạng sống nơi mặt địa-cầu này, không kể các Vạn-Linh bao phủ, chung quanh họ, thấy họ khổ trong con đường sống ấy lắm. Có nhiều khi muốn bảo thủ mạng-sống họ mà họ phải tận diệt mạng sống khác, các mạng sống bị tận-diệt thì họ phải chịu đau-khổ thống thiết vô ngần vô-đối; trường đau khổ ấy trải trước mặt Bần-Đạo.

    Đối với vạn-vật thấy tình-trạng mạnh hiếp yếu, dữ ăn hiền, đối với loài người thì ngó thấy họ không kính nể mạng sống đồng loại đồng chủng với nhau, một tấn tuồng bất công trải trước mặt, muốn kiếm phương an ủi thấy mình cũng một kiếp sống như các người kia vậy.

    Mỗi chúng ta kiếm con đường hữu ích, cái hữu ích cho bạn đồng sanh của mình, hễ thấy mình ăn thì bạn mình mất ăn; mình mặc thì bạn mình mất mặc, tức nhiên chính mình, mình cũng giành sống với họ. Xét đoán mình không có hữu ích chi đối với họ cả, mà trái ngược lại mình làm tội ác, mình làm khổ-não cho họ mà thôi, bởi vì mình giành giựt cái sống họ để bảo thủ cái sống của mình, mình phải dành cái sống của họ kia kìa thành ra mình không hữu ích gì hết.

    Kiếm thế an ủi, có thể nào làm nô-lệ cho họ tôi không ăn mà tôi sống không, nói đến cái đó thì rất khó muốn làm cho đặng trọn trong con đường sống tức-nhiên tôi không thể làm được. Muốn kiếm giải-pháp ấy cho được thì tôi gởi cả tâm-hồn tôi vào tay một Đấng vô-hình, nương theo cái quyền-năng vô-hình làm Chúa của các mạng sống ấy đặng kiếm thế bảo-thủ mạng-sống của thiên-hạ.

    Triết lý ấy kiếm coi ở đâu, như bên Phật-Giáo biểu vô chùa mà tu, tụng kinh gõ mõ đặng ăn mà sống, sống riêng cho cá-nhân, như vậy thì còn tội ác hơn hết thảy bởi vì biểu họ bố thí cho mình ăn để mình sống, còn họ thì thiếu sống. Các nơi khác nữa, ngồi đó duy chủ cái quyền sống như các nền Tôn-Giáo khác họ giành cái sống ấy còn mạnh-mẽ hơn các thứ quyền giành sống khác nữa. Nếu tới một vài cửa khác họ lại giành sống xảo-trá còn tồi-tệ hơn nữa, kiếm phương thế giúp sống cho đồng sanh mà kiếm không ra.

    May thay trong buổi khuẩn bách tinh thần ấy, có Đấng Huyền-Linh đem lại với một phương pháp vô hình, không hình mà làm cho chúng ta thấy, không nói mà làm cho chúng ta nghe là Đức Cao-Đài Thượng-Đế, nhờ đó mà Bần-Đạo khỏi đi đâu hết. Nếu không có Đấng ấy thì có lẽ Bần-Đạo điên đi mà chớ; điên vì cái khổ não của Đời, điên vì gớm ghiết cái cơ-quan tranh sống của nó.

    Ban sơ Bần-Đạo chưa biết Ổng mà Ổng cho Bần-Đạo làm Hộ-Pháp, Bần-Đạo không biết gì hết, Bần-Đạo nhắm mắt Bần-Đạo theo.

    Tại sao Đấng ấy làm thiên-hạ nghe, thiên-hạ theo, chính mình cũng vậy. Lý lẽ của Ổng, Ổng đem đến cho thấy rằng: giúp sống chớ không phải giành sống. Các bạn của mình họ đùa họ theo; em út của mính dĩ-chí cho đến bạn đồng niên mình họ đùa họ theo, họ nghĩ rằng tôi gởi tâm-hồn tôi cho Ổng, một mình tôi, tôi thấy rằng không đủ, Đấng tạo Đạo không phải gọi một mình tôi mà chính gom góp đại đa số tâm-hồn như tôi và có thể đem gởi cả đôi triệu tâm-hồn khác nữa, vì vậy tôi có thể theo Đấng này được. Đấng đó tôi nên theo, theo có hai lẽ:

    • 1. Về phần Đời tôi khỏi cái bệnh đau thảm của tôi.
    • 2. Về phần Đạo tôi khỏi côi cút lẻ loi.

    Tôi có một đám người biết tình ái vô hạn của tôi, có một đám người cùng tôi gánh khổ của đời tức nhiên họ chịu nhiều khổ đặng họ giải khổ cho thiên hạ. Nói đó là nói của tôi, để tâm hồn theo Ổng về mặt Đời và về mặt Đạo mà thôi, tôi chỉ nghĩ có bao nhiêu, ngoài ra tôi không biết gì nữa.

    Bây giờ Đạo Cao-Đài không biết chánh hay là tà, tôi chỉ biết Đấng ấy có thể gom-góp đôi triệu tâm-hồn vào tay Đấng ấy là Đấng Chí-Linh. Bây giờ tôi không tin Đấng ấy nữa mà tôi chỉ tin một điều là ngày giờ nào cái linh hồn tôi thoát xác ra đi bỏ cái địa hoàn này, tôi sẽ gặp các bạn chí thân từ trước của tôi, Tổ-Phụ Ông Bà của tôi, tôi không biết cảnh hư linh như thế nào mà nếu tôi gặp được họ thì tôi mới chắc.

    Ngày giờ nào tôi về cảnh Thiêng-Liêng kia, quả nhiên linh-hồn tôi còn tồn tại chớ không phải tiêu-diệt như nhiều triết-lý vô-thần, nhiều nhà duy vật đã thuyết nơi mặt địa-cầu này.

    Giờ phút nào tôi thoát xác tôi về vơi hư-linh mà tôi được một vài triệu linh hồn về cảnh Thiêng-Liêng Hằng-sống thì tôi không còn hạnh phúc nào hơn chỗ đó nữa. Tôi không biết giá-trị, không biết quyền-năng ra sao, nhưng tôi ngó thấy Ổng có thể làm cho tôi làm bạn với cả trăm, cả triệu chơn linh trên cõi Thiêng-Liêng Hằng-Sống, vì cớ cho nên tôi phải vào Đạo Cao-Đài đặng tôi phụng sự cho Ổng tức nhiên tôi phụng-sự cho con cái của Ổng.

    Tôi nghĩ có bao nhiêu đó mà tôi theo cho đến ngày nay, tôi đứng giữa tòa giảng này để ngửa cái triết lý ấy đặng cho toàn thể con cái của Đức-Chí-Tôn rõ biết đặng suy xét.

    Đó tôi lấy chìa khóa mở tinh-thần của tôi rồi đó còn mấy bạn lấy chìa khóa mở tinh-thần mấy bạn đi rồi tôi tiếp tục giảng Thể-Pháp và Bí-Pháp của Đạo Cao-Đài.

  • Sermon 07: Caodaist Exotericism

    Sermon 07: Caodaist Exotericism

    Lunar Calendar: 29nd Day of the 5th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: June 25th 1949

    My friends, tonight I will discuss Caodaist Exotericism (Thể Pháp Thiên Đạo Cao Đài). Last time, you and I both examined our lives, we did this in order to see our true behavior to the universe, I think all of you can determine why we live on earth as I did on this podium last time.

    According to the teachings of God, all souls come down to this world for one of three of the following reasons:

    • 1). To pay off karmic debts. Most souls come to the earth as well as to other planets in the universe to pay back the karmic debts they generated in their previous incarnations. Generally, in the divine evolution of the universe, a soul is not powerful enough to control his/her behavior, so he/she may commit some crime.
    • 2). To further education. Some souls want to get more knowledge of their original incarnations or learn about the secret mechanism of creation.
    • 3). To gain higher divine status. The rule of the universe always forces every soul to develop itself on the Path to Eternal Life.

    Like I said before, life exists not only on this 68th planet but also on many other planets, and the rules of life are all the same, on some more advanced planet than ours there may be less crime but the reasons for souls to go there are unchanged.

    Having examined yourselves, you may realize you are not having a happy life at all. Actually, our life is only a program of study to take in the multi-class course that God (or any religious founder) holds for humans. And the first class is about how to beat the suffering that accompanies living, no one except God has been able to pass this class so far.

    The Buddha, who was the Religious Leader in the World of Ultimate Bliss, could elaborate the Four Sufferings but he could not eradicate these sufferings Himself.

    Hence, the first class is how to beat Suffering of Living (then Old Age, Sickness and Death). The laws which reduce people's suffering are good; those laws which cannot are bad or fake. As a result, any religious laws which are not useful in reducing human suffering are worthless.

    Let us look at contemporary religions to see what they have done to eliminate human suffering. God, together with other divine beings, has taught us that all the organizations of the universe should somehow serve living beings, based on that rule, we can determine whether a religion is good or bad, obviously, the religion which uses people for their own purpose is the fake religion.

    Presently, most religions on this planet do not serve people by eliminating human unhappiness, ironically, most priests think they can stop people's sorrow by just sitting and saying prayers!

    Eradication of unhappiness in life should be the top priority for a true religion to take. Speech is less important than action on this issue.

    In society, lots of organizations have been established to help reduce the Four Sufferings as elaborated by the Buddha, for example, maternity hospitals, nursing homes, general hospitals, and funeral homes are built everywhere, most of them, however, primarily serve political authorities.

    Now how about Caodaism? What does God want us to do? God wants us to devote our bodies, minds and souls to His Divine Body [6], which in turn serves His children. It is this practice that will really eradicate human suffering, being a Caodaist Leader, how have I put that theory into practice?

    At first, I have improved people's way of life by building a hospital, a nursing home, a maternity hospital, etc.. . these have been the tools for Caodaists, together with nonCaodaists, to help each other in the prevailing chaotic situation.

    The Caodaist community has become an extended family, whose number of members is now two million or so, living and old age are not focused on suffering anymore, but are now what makes our life more sophisticated, sickness and death are no longer the source of unhappiness, but are now what helps us gain higher status in heaven.

    We Caodaists spend our entire lives serving people up until we die. Generally, people are afraid of death, so they are always worried and unhappy. On the other hand, we know our lives are predestined by God, so we do not care about death. Death is considered the way of liberation.

    Being a Caodaist priest, we are willing to work like servants for humanity, so we do not need to indulge in a material life, our values of living are different from what others can imagine. Death means we have fulfilled our responsibilities as predestined by God, therefore, death means that we are free to return to heaven.

    We are now in God's temple, working to serve mankind. Death does not matter to us anymore, and neither do the three other sufferings (Living, Old Age and Sickness). Hence, Caodaism has eradicated our sufferings once and for all.

    We should live for God - it is not good to live for ourselves - we should devote ourselves to God's Holy Body. Belonging to the Caodaist community means that we are God. Since God is never unhappy, we avoid unhappiness for good, also we are so lucky to live in the unusual age of Caodaism, the age for greater values of religious morality, such a life cannot be considered the life of sorrow.

    In conclusion, at a secular level Caodaist Exotericism may be more suitable for mankind nowadays than other religions. We, however, should not be overconfident, we should always consider if we trying our best, each and every day, to do what God wants, if we are intelligent and competent enough to live as God wants us to do, the Four Sufferings depicted by the Buddha are not that important.

    By practicing Caodaist Exotericism, you can easily overcome suffering and if you succeed in practicing Caodaist Exotericism then you can succeed in practicing Caodaist Esotericism.


    [6] The Caodaist Sacerdotal Council.
    Vietnamese source

    07. Âm Lịch: đêm 29 tháng 05 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 25-06-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Thể-pháp Thiên-Đạo của Cao-Đài-giáo là cứu khổ

    Đêm nay Bần-Đạo thuyết Thể-Pháp Thiên-Đạo Cao-Đài. Kỳ trước Bần-Đạo và toàn con cái Đức-Chí-Tôn đã rủ nhau tự-soát cái kiếp sống của mình đặng thấu đáo hành tàng cả chơn tướng của mình, phải thế nào đối với Càn-Khôn Vũ-Trụ, đối với kiếp sống.

    Tưởng cả mỗi người chúng ta đều có trí định cái nguyên do căn-bản của sự sống mình, cũng như Bần-Đạo đã tự soát nơi giảng đài này bữa hôm trước đó vậy.

    Chúng ta đã thấu đáo cả chơn truyền của Đức-Chí-Tôn các huyền vi bí-mật cơ tạo-đoan càn-khôn vũ trụ, nó có ba điều trọng yếu là:

    • 1) Cái kiếp sanh của ta theo như chơn truyền Đức-Chí-Tôn các chơn linh đến tại mặt thế này hay là các địa giới trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, cốt để trả quả kiếp của mình, hoặc mình đã tạo căn quả, vì trong con đường tấn hóa chơn-linh của mình không đủ mực thước để điều khiển khối nguơn-linh yếu ớt, không đủ quyền duy chủ mà phải phạm thêm tội tình oan-nghiệt.

    • 2) Đến đặng tìm tàng cái học lực của mình, học lực của mình là điều mình muốn biết cả kiếp căn của mình, nếu không biết cũng đeo đuổi theo tìm tàng theo cho biết cả cơ quan bí mật tạo đoan.

    • 3) Là nên lập vị cao thăng hơn nữa tức-nhiên theo cơ Tạo-Đoan Càn-Khôn Vũ-Trụ về hữu-hình cốt yếu để giúp cho các chơn linh tấn-triển trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

    Bần-Đạo có cho toàn thể chúng ta thấy căn sống của mình chẳng phải nơi trái địa-cầu 68 này mà thôi, mà các mặt địa cầu khác trong Càn-Khôn Vũ-Trụ cũng đều một khuôn-luật ấy.

    Có nhiều trái địa-cầu tấn triển cao hơn khuôn khổ kiếp sống của con người, có thể giảm bớt tội nhưng khuôn-luật vẫn một mà thôi không có chi sửa đổi.

    Chúng ta đã thấy mình sống, kiếp sống của mình như thế; Bần-Đạo đã cho toàn thể con cái của Đức-Chí-Tôn tự soát mình lại không có hạnh-phúc chút nào hết. Thật sự ra đề mục chúng ta phải đi trong khóa học này của Đức-Chí-Tôn đến đặng mở khoa mục cho nhơn loại buổi này.

    Hay là mỗi lần các Đấng chơn linh cao-siêu hơn nữa đến tạo Đạo, cốt yếu đến mở khoa mục cho các chơn linh thì khi chúng ta đã ngó thấy khóa này là khóa đầu tiên hết thảy trong đề mục. Khóa ấy riêng từ mức, mới khởi mức số một, chơn linh kia trong vật-loại dĩ-chí đến Phật vị; đề mục ấy chưa có vị Phật nào đoạt vị dầu cao siêu đi nữa cũng chưa giải-quyết được.

    Chính mình các vị trong các vị Chí-Linh Hằng Sống chỉ có một Đấng giải quyết đặng đề mục "khổ sanh" của chúng ta tấn-triển là duy có Đức-Chí-Tôn mà thôi, ngoài ra nữa không có vị Phật nào giải quyết đặng.

    Đức Phật Thích-Ca lập vị cầm quyền chưởng giáo nơi Cực-Lạc Thế-Giái, chính mình Ngài đem thuyết Tứ-Khổ mà thôi, chính mình Ngài cũng không giải quyết được, chính mình Ngài không duy chủ cái khổ ấy đặng.

    Ấy vậy, đề mục khổ là khổ Sanh, trước là khổ Sanh, rồi tới Lão, Bịnh, Tử. Sanh trước là sanh sống, sống là khổ, hễ cái pháp luật nào làm giảm khổ của chúng sanh nó là chơn; cái pháp luật nào nó làm cho thống khổ chúng sanh là giả, pháp luật đạo giáo nào mà không hữu-ích gì cho cái khổ sanh của chúng ta thì không có giá trị gì hết.

    Chúng ta quan sát coi các nền Tôn-Giáo đã có phương giải-khổ cho chúng sanh hay chăng ? Tại sao chơn, tại sao giả, chính mình Đức-Chí-Tôn và các Đấng Thiêng-Liêng cũng như chúng ta thấy các cơ-quan trong càn khôn vũ tTrụ cốt yếu là phải phụng sự cho nhơn-loại, cho Vạn Linh, trái lại họ không phụng-sự cho Vạn-Linh mà lợi dụng Vạn-Linh chớ không phải làm tôi tớ cho Vạn-Linh, hễ lợi dụng là không phải phương-pháp giải-khổ tức nhiên là giả pháp.

    Quan sát lụng lại các nền Tôn-Giáo hết, chúng ta thấy không có phương-pháp để giải-khổ chúng sanh, bất quá là một lý thuyết mơ mộng mà thôi, giải khổ cái sống cái đã.

    Chúng ta thấy các nền Tôn-Giáo đương-nhiên bây giờ có nền Tôn-Giáo nào phụng-sự cho chúng sanh không ? Có nền Tôn-Giáo nào làm tôi tớ cho chúng sanh đặng giải khổ cho chúng sanh hay chăng ? Quan sát coi. Chưa có ! Chúng ta ngó thấy, chúng ta có một điều tức cười hơn hết là họ ngồi gõ mõ đánh chuông mà họ nói giải-khổ cho chúng sanh.

    Sanh trước cái đã, là mực thước đi từ khuôn-khổ của nó nếu nói phi lý không quan sát được, không thể công nhận được, nhưng đương nhiên chúng ta đã thấy gì ?

    Bần-Đạo đã thuyết kỳ rồi cái pháp-luật của Thiên-hạ là họ đã xu hướng theo "Tứ-diệu-đề" của Đức Phật Thích Ca; họ dong-rủi theo Tứ-Diệu-Đề để giải khổ cho chúng sanh là: Sanh, Lão, Bịnh, Tử, họ thi hành trong khuôn-khổ quyền pháp của họ mà thôi.

    • 1) Sanh, họ lập nhà Bảo-Sanh đặng giải khổ cho sự sống.

    • 2) Lão, họ lập ra cơ-quan Dưỡng-Lão để nuôi kẻ già, kẻ yếu.

    • 3) Bịnh, họ lập ra nhà thương khắp nơi cả thảy trên mặt địa-cầu này biết bao nhiêu nhà thương để chữa bịnh cho đời.

    • 4) Tử, họ cũng làm âm công, cũng bố thí, cũng làm phước vậy, nhưng có một điều là họ bố thí chớ không phải phụng-sự, họ lấy của người này đem cho người kia chớ không phải phụng sự cho nhơn-loại.

    Còn Đạo Cao-Đài Đức-Chí-Tôn đến biểu chúng ta làm gì ? Biểu chúng ta dùng cả xác thịt, trí-não, tâm-hồn, làm Thánh-Thể cho Ổng, làm đầy tớ cho cả con cái của Ổng, đó mới là thuyết giải khổ vậy, chính mình Bần-Đạo cầm quyền Hội-Thánh đem vào khuôn-khổ luật-pháp ấy thế nào ?

    Buổi ban sơ Bần-Đạo lấy cả pháp-luật làm chuẩn thằng, chỉnh đốn cả cơ-quan chính-trị của đời là: Sanh, Lão, Bịnh, Tử. Bần-Đạo lập nhà thương, nhà dưỡng lão, nhà bảo sanh là cốt yếu chỉnh đốn thân sống trong khuôn-khổ mực thước, tức nhiên họ giúp cho nhau trong khuôn-khổ Đạo-Đức, tức nhiên họ có cả cơ quan làm cho buổi thống khổ loạn-lạc phải tiêu hủy.

    Cơ-quan Đạo Cao-Đài cốt-yếu chỉnh đốn nhơn-quần xã-hội tăng-tiến trong khuôn-khổ nhơn-luân, nhơn đạo để trong tâm não họ đặng họ tương-trợ nhau họ xúm nhau trong một nhà để giúp nhau về mặt tinh thần.

    Bây giờ Bịnh, Tử cũng thế, về mặt xác thịt chuyển cả cơ-quan Thế-Đạo, cốt yếu để giải-khổ chúng sanh về sự sống đối với Sanh, Lão thì chúng ta đã lập thành đại gia-đình; như thân nầy khi già rồi còn em, còn bạn, còn con, còn cháu, một đại gia đình càng ngày càng lớn hơn nữa.

    Giờ phút này có hai triệu người chứ không phải như trong buổi tạo Đạo; chúng ta dầu sống đi nữa cũng không phải cô độc mà khi chúng ta phụng sự trong Thánh-Thể Đức-Chí-Tôn tức nhiên phụng sự cho Ngài, tuổi già chớ tinh-thần không già, không buổi nào chúng ta già hơn Đức-Chí-Tôn, nhỏ làm tôi mọi cho nhỏ, lớn làm tôi mọi cho lớn, già làm tôi mọi cho già, không buổi nào thấy cái già cái khổ cho chúng ta tức-nhiên giải-khổ rồi đó vậy.

    Sanh, Lão không phải khổ chúng ta, mà nó là một cơ-quan giúp cho đời được lịch duyệt. Bịnh, Tử không phải khổ của chúng ta, mà nó là cơ-quan giúp ta đoạt Thiêng-Liêng vị. Bịnh-Tử, bịnh chúng ta làm gì chúng ta bịnh, tại số chết của chúng ta, tại khối sanh quang của ta hết lực mà thôi.

    Kiếp sanh này làm tôi cho người, dầu cho có bỏ xác hay chết là cùng. Mạng sống kiếp sanh của mình do quyền Đức-Chí-Tôn định liệu, thì sợ gì cái chết; trái ngược lại thiên hạ sợ chết, là khổ mới chết, còn chúng ta không sợ chết vì chết là cơ-quan giải-thoát đó vậy.

    Giờ phút này người tu là đem thân làm nô lệ cho nhơn-loại, rồi có vui sướng gì với kiếp sanh mà cần sống, giá trị cái sống của ta khác hẳn hơn thiên hạ tưởng-tượng, mà tưởng tượng cái chết của ta là buổi nghỉ-ngơi, buổi hết cực; cái chết ấy chẳng phải do mình mà do nơi Đức-Chí-Tôn định là tới buổi Đức-Chí-Tôn nói các con đã làm xong phận sự, Thầy cho con về.

    Giờ phút này chúng ta đương ở Đền-Thánh của Ngài đây, đương phụng sự cho Ngài đây, thì cái sống chết của chúng ta không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa và trong Tứ-Khổ không còn giá trị gì đối với chúng ta nữa.

    Ấy vậy, "Tứ-diệu-đề" tức nhiên bài học, bài thi của đề mục Khổ duy có Đạo Cao-Đài giải quyết nó, đánh mất nó, làm cho nó không còn giá trị chi nữa, tức-nhiên là do chính mình và toàn cả con cái của Đức-Chí-Tôn hay tương lai tôi nữa cũng vậy.

    Chúng ta trọn hiến thân làm Thánh-Thể cho Ngài, mà ta sống cho mình chớ không sống cho Ngài là không đúng; sống không phải sống cho mình mà chính là sống cho Ngài, vì chính mình đem trọn cái sống ấy dưng nạp cho Ngài, mà tưởng tượng ta khổ thì tức nhiên Đức-Chí-Tôn khổ còn gì. Ổng không có khổ, mà lại sống vinh diệu quá, ta lại gặp thời kỳ này may duyên gặp được một cảnh sống lạ thường, sống về Thánh-chất, sống về Thiêng-Liêng, sống về Càn-Khôn Vũ-Trụ, sống về Trời Đất, sống dường ấy mà gọi là khổ sao đặng.

    Ấy vậy, Chơn-Pháp thuộc về Thể-Pháp của Thiên-Đạo Cao-Đài ngày nay có lẽ phù hợp với tinh-thần nhơn-loại hơn các nền Tôn-Giáo khác; có lẽ, nhưng chúng ta đừng ỷ mình.

    Mỗi ngày thường tự hỏi mình coi làm vừa sức của ta chưa ? Làm vừa sức của Đức-Chí-Tôn biểu mình làm hay chưa ? Sống của mình có vừa với cái sống của Đức-Chí-Tôn hay chưa ? Nếu chúng ta đủ tinh-thần, đủ trí não và đủ năng lực để thay thế cái sống của Đức-Chí-Tôn thì "Tứ-diệu-đề" của Đức Phật Thích-Ca để tại mặt thế-gian này không có nghĩa-lý gì và giá trị gì đối với chúng ta hết.

    Thể-Pháp của Đạo Cao-Đài chủ về sống mà đánh tiêu cả sự khổ tức-nhiên đánh tiêu cả Thể-Pháp, Thể-Pháp đánh tiêu được thì sẽ đánh tiêu Bí-Pháp được.

  • Sermon 08: How esotericism relates to exotericism

    Sermon 08: How esotericism relates to exotericism

    Lunar Calendar: 4th Day of the 6th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: June 29th 1949

    My friends, tonight I will discuss how esotericism relates to exotericism or, more understandably, how religious law relates to secular law.

    We know that the universal principle of God is that everything is created to serve living beings, I have reminded you that soil has to sacrifice itself to feed vegetation, then that vegetation is then fed to animals, including humans, who are even more superior, that is why ancient laws force animals to serve humanity. Unfortunately, humans erroneously think they should kill animals for food.

    Then at a higher level, humanity has to serve God, do you remember that people were killed, burned, and then offered to God in the distant past?

    According to religious history, sacrifice was practiced for a rather long time (40,000 years), as a result, the number of victims must have been too large to count! About 6,000 years ago, according to Hebrew law, animals were sacrificed and offered to God instead, somewhere on earth people are still doing the same today, is that God's requirement?

    No, I am sure it is not. God Himself creates and nourishes living beings, so it does not make sense that He requires us to sacrifice them. It is true that the universal law of service exists in all realms from material things to mankind.

    Take a beehive or a termite colony, the queen bee and the termite queen are the ones who serve their community the best because they lay eggs to preserve their species. 150,000 years ago, calling their ancestors "Manu" (Sanskrit for human progenitor), humans imitated the organization of the beehive and the termite colony to form their societies.

    Any nation in the world should have a law system by which it can operate, to execute that law there should be a governing body whose leader is the King, the President or whatever title, the governing body should help that national leader actually serve the people, politics is all about serving the people.

    Now what about God? How does He serve all living beings in the universe? His method is to have living beings serve themselves, God grows vegetation and animals in order to serve humans, God's service is like that of a national leader.

    In our time, Caodaism is established, it serves everyone on this 68th earth and God forms His court on earth - the Caodaist Sacerdotal Council.

    Now we realize what authority is like, the queen bee, the termite queen or the human king are supreme leaders thanks to the service that they give, even God has to serve all living beings, consequently, good service produces authority.

    The Caodaist Sacerdotal Council is actually God's court on earth, so it has all the titles of those in God's court in heaven; Caodaist Dignitaries are equivalent of Angels, Saints, Immortals and Buddhas in heaven, like a king, who pays his mandarins, God will pay the Caodaist Sacerdotal Council by giving them heavenly status.

    God came and urged humans, especially the Vietnamese people to sign the Third Covenant – this promises to give divine status as a payment - but on the condition that they are willing to serve all the living beings on this 68th planet.
    Vietnamese source

    08. Âm Lịch: đêm 4 tháng 6 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 29-6-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Sự liên-hệ giữa Thể-pháp với Bí-pháp là phụng sự vạn-linh, thì đạt vị Thần Thánh Tiên Phật

    Đêm nay Bần-Đạo thuyết Bí-Pháp có liên quan đến Thể-Pháp, nói rõ là cái luật Đạo có liên quan đến luật Đời đó vậy.

    Vả chăng chúng ta đã ngó thấy cái cơ-quan Tạo-Đoan Càn-Khôn Vũ-Trụ là cơ-quan Đức-Chí-Tôn để phụng sự cho Vạn-Linh, cái chơn-pháp nó vẫn vậy, Bần-Đạo có thuyết về thuyết ấy, Bần-Đạo nói đất phải hy-sinh đặng phụng sự cho cây, tức-nhiên là thảo-mộc, cây phải hy sinh đặng phụng sự cho thú, tức nhiên nó phải hy sinh đặng nuôi thú, mà loài người đứng đầu trong loài thú chớ không có chi khác nữa.

    Vì cớ cho nên cổ-luật lại buộc thú phải hy-sinh phụng sự cho người, phụng sự không đi quá sức, hy sinh đặng nuôi loài người, bởi vì lẽ lầm hiểu về chơn-pháp ấy mà nhơn-sanh đã thực nhục (ăn thịt).

    Giờ tới một mức nữa người phải hy sinh đặng phụng sự cho Trời; chắc là cả thảy đều nhớ cổ-luật của Thượng-Cổ khi tế Trời họ đem người ra họ giết, rồi họ thiêu như con thú kia vậy, con người có luật ấy một thời hạn cũng khá lâu, khi dùng người làm tế-vật đặng hiến cho Đức-Chí-Tôn nếu Bần-Đạo hiểu theo các Đạo-Sử thì đã có gần 40.000 năm về pháp-luật ấy; thử nghĩ coi các nhơn mạng buổi nọ đã đem làm con vật hiến cho Đức-Chí-Tôn nhiều lắm rồi vậy. Mới đây chừng lối 6.000 năm đời của Jacob trước 6.000 năm, theo đạo luật của Hébreu tức nhiên luật của Do Thái phải giết vật để tế Đức Chúa Trời, luật đó tới nay có lẽ vẫn còn đó vậy.

    Đức-Chí-Tôn có đòi hỏi chăng ? Không, tôi dám chắc không, vì chính mình Ngài tạo cho Vạn-Linh, chính mình Ngài làm tôi tớ cho Vạn-Linh và phụng sự cho Vạn-Linh, có lẽ đâu Ngài đòi nhơn-loại phải làm con tế-vật để tế cho Ngài.

    Bao giờ chúng ta cũng thấy luật phụng sự cho Vạn-linh đi từ vật-loại đến nhơn-loại, chúng ta thấy việc của con Ong, con Mối, con Ong chúa thật sự ra phụng sự đầy dẫy hơn hết, đứng đầu hơn hết, vì làm chúa nên phải có nhiều phụng sự, nó phải chịu sanh sản, làm giống nòi nó sanh sản mãi mà thôi cũng như thượng-cổ trước lối 150 ngàn năm và trước nữa thì loài người cũng vậy.

    Đạo-Pháp trong Phật-Giáo để lụng lại các Đấng duy-chủ của các sắc dân, chủng-tộc do tiếng Phạn gọi là "Ma-Nu" cũng một kiểu vở con Ong, con Mối, con Mối chúa phụng sự cho cả một ổ Mối hơn ai hết, bởi vì chính mình con Mối Chúa đã sản-xuất chủng tộc của loài Mối.

    Chúng ta thấy lụng lại một triều chính của xã-hội nhơn-quần đã lập quốc, tức-nhiên lập một nền chính trị tương-liên, một quốc-gia vô trong một khuôn-khổ của một quốc thể, một văn hiến đều chịu một luật pháp ấy, mà luật-pháp ấy muốn thi hành thì phải có triều-chính.

    Thật sự ra triều chính nhà Vua phải phụng sự cho quần linh, tức nhiên phụng sự cho lê dân, một mình Ổng phụng sự cho toàn thể lê dân không thể được nên phải lập triều chính, từ Tể Tướng, dĩ chí cho tới bực hạ quan, chánh trị một quốc gia là thay thế hình ảnh cho Vua đặng phụng sự cho lê dân mà thôi.

    Chúng ta ngó thấy trong vật loại như con Mối Chúa, con Ong Chúa cũng làm chúa, cũng phụng sự, trong phụng sự kia cũng lập một triều chính đặng có phương pháp phụng sự cho nó; nhà Vua cũng vậy, lập triều chính đặng biến thân cho muôn ngàn triệu, đặng phụng sự cho toàn thể lê dân, Mối Chúa cũng vậy.

    Bây giờ Đức-Chí-Tôn Ngài phụng sự cho Vạn-Linh toàn cả trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, Ngài đã dùng cái gì ? Ngài dùng phương-pháp phụng sự Vạn-Linh là lấy Đời, lấy Vạn-Linh phụng sự cho Vạn-Linh.

    Chúng ta ngó thấy Đức-Chí-Tôn nuôi cây, nuôi thú; thú để phụng sự cho người, Ngài dùng căn bản đó để phụng sự cho Đời, cũng như Nhà Vua dùng lê dân lập triều-chính đặng phụng sự cho lê dân, Đức-Chí-Tôn ngày giờ này đến lập Đạo muốn phụng sự cho cả toàn nhơn-sanh mặt địa cầu 68 này, Ngài phải làm thế nào ?

    Ngài cũng phải mượn loài người phụng sự cho Ngài, Ngài phải dùng loài người đặng làm Thánh-Thể cho Ngài là lập triều-chính của Ngài, chúng ta ngó thấy Đức-Chí-Tôn đến lập Đạo; lập Đạo phải lập Hội-Thánh đặng phụng sự cho Vạn-Linh trên mặt địa cầu 68 này.

    Chúng ta ngó thấy cái quyền rồi, ban cho cái quyền luật định phụng sự, vì phụng sự ấy mới làm Chúa như con Ong kia, con Mối kia vì phụng sự mới làm Chúa, ông Vua cũng vì phụng sự cho dân mới làm Vua, bây giờ Đức-Chí-Tôn vì phụng sự cho Vạn-Linh mới làm Trời.

    Ngài phải lập Hội-Thánh tức-nhiên Ngài lập Thánh-Thể của Ngài, triều chính tức nhiên Thánh Thể của Ngài chớ không có gì lạ, muốn cho Hội-Thánh cầm quyền thống-trị đặng phụng sự cho Vạn-Linh, Ngài phải lập triều-chính, triều chính là ngôi Thần, Tiên, Thánh, Phật đó vậy, Ngài lập Thánh-Thể cũng như thế ấy vì cớ cho nên chúng ta ngó thấy Thánh-Thể Đức-Chí-Tôn tức-nhiên Hội-Thánh có đủ các phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế này.

    Không có cái chi mà chúng ta cầu muốn hay là dùng công nghiệp mà Ngài không trả không bồi thường, vì Ngài đã mượn chúng ta làm Thánh-Thể cho Ngài đặng Ngài phụng sự cho Vạn-Linh thì Ngài phải trả, phải bồi thường; nếu muốn cho người ta theo thì phải lập vị cho họ, thì họ mới theo.

    Đức-Chí-Tôn Ngài đến ký hòa ước với loài người nhứt là dân-tộc Việt-Nam trước cái đã; mấy người làm Thánh-Thể cho tôi, đặng tôi phụng sự cho Vạn-Linh, thì tôi sẽ lập vị Thần, Thánh, Tiên, Phật lại cho mấy người, nếu các người chịu thì ký hòa-ước với tôi, kế các người làm tôi cho con cái của tôi cho vừa sức của tôi muốn, hay vừa ý của tôi định thì tôi sẽ trả lụng lại là lập ngôi vị cho mấy người trong Thánh-Thể ấy, tôi đã định phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, tôi đã lập vị sẵn cho mấy người, mà mấy người đoạt được tại mặt thế này, tới chừng về cõi vô-hình tôi không chối cãi gì hết, trái lại còn trả hơn khi chúng ta phụng sự cho Vạn-Linh tại mặt thế này nữa là khác.

  • Sermon 09: To liberate ourselves from the cycle of reincarnation

    Sermon 09: To liberate ourselves from the cycle of reincarnation

    Lunar Calendar: 8th Day of the 6th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: July 3rd 1949

    Tonight, before talking about how Caodaist Esotericism relates to Caodaist Exotericism, I again remind you of a vital thing which you must remember and follow.

    Last time I said that the basic law of the universe stipulates that mankind exists on earth in order to lead as well as to serve all living beings, consequently, our human fate is to serve other living beings, without this service, humans work themselves against morality and will not be able to free themselves from the cycle of reincarnation.

    I also elaborated upon the hypocritical intention of secular politics, politicians generally say they will help reduce the Four Sufferings and they woo the people in this way to achieve greater status, they borrow the idea of eradication of sorrow from religion, but they do not really serve the people. Unlike them, we religious men are predetermined to help reduce human suffering and we have to attain that goal without any demands.

    Our intention is different from that of politicians, so secular life (politics) can never conjoin with the religious life (religion), we religious people never want authority, we practice a religion because we want to fulfill our destiny, that's the only thing we want – even though politicians are always saying that we steal their authority.

    Actually, it is politicians that usually trick people into obeying their orders, well, I want to make it clear again that our duty is to serve the people, to help them get rid of the Four Sufferings as identified by the Buddha.

    Now that we understand the close relation between religious exotericism and esotericism, you may comprehend why I have forced you to constantly attend Caodaist services, I haven't done this for my own benefit, it's my responsibility to facilitate the achievement of your own enlightenment.

    Additionally, I previously told you there are three reasons why people incarnate on earth.

    • First, they have to pay off their karmic debts.
    • Second, they further their education for their evolutionary process.
    • Third, they want to attain higher divine positions.

    Regardless of what reason, people must serve all living beings in order to accomplish their mission.

    If you continue to listen to me further, you will see that God never uses His authority, he comes to give His children authority, but will not let them overuse it.

    Serving others is the way to liberate ourselves from the cycle of reincarnation, you surely do not know to whom you owed a debt from your previous lives, however, while you are serving other people, you may, if predestined by God, encounter your creditor and finally pay off your debt, for those who come to earth to study how heaven operates, these souls must also serve other living beings.

    Their work will show them what they want to achieve, nothing is better than serving living beings on behalf of God, to do so we are taught to offer our three treasures (physical body, mind and soul) to God so that these may be used as tools to serve all living beings.

    Every day, we pray to God and to the Tam Giáo [7] that we offer our body, our mind and our soul to God and so they are not our own anymore, this will mean that now we only pay back rather than cause more karmic debts.

    Being a member of His Holy Body (the Caodaist Sacerdotal Council), we are now part of God, if something bad happened to us it will not be our fault, when we return to heaven, we can say we have offered ourselves to God, so what we have done on earth will not be our selfish actions anymore, the only thing we need to do now is observe the Caodaist Canonical Codes.

    Taking God's orders, we become a servant to all living beings, we commit no more crime and we become liberated from karmic debts.

    God tells us not to live for ourselves and we obey Him, it is that we determine our fate and free ourselves from the cycle of birth and death.


    [7] Three Religions: Confucianism, Taoism and Buddhism.
    Vietnamese source

    09. Âm Lịch: đêm 8 tháng 6 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 3-7-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Bí-pháp Thiên-đạo của Cao-đài giáo là giải-thoát

    Đêm nay trước khi Bần-Đạo thuyết Bí-Pháp chơn-truyền của Đạo, tương-liên Thể-Pháp của Đạo thế nào, trước khi thuyết Bần-Đạo nhắc lại nữa, nhắc một điều cần yếu cho cả thảy đều nhớ, nhớ để đi theo.

    Trước khi trong tinh-thần Đạo-Đức kia chỉ dẫn chơn-pháp Càn-Khôn Vũ-Trụ cốt định cho loài người có hiện-diện tại nơi thế này đặng phụng-sự cho Vạn-Linh, mà cũng là dẫn đạo cho Vạn-Linh.

    Phụng-sự đặng dẫn đạo cho Vạn-Linh, ấy vậy chơn-pháp có ảnh-hưởng là quyết-định thiệt phận của loài người là phải phụng-sự mà thôi, hễ không phụng sự tức-nhiên là vô Đạo, mà vô Đạo thì không thể gì đoạt được cơ giải-thoát hết.

    Bần-Đạo đã chỉ rõ tương quan của luật-pháp Đời cốt yếu nương theo "Tứ-diệu-đề" tức nhiên Tứ-Khổ, đặng rồi thiên-hạ dầu quốc gia xã hội nào cũng kiếm phương giúp đở tinh thần loài người hay là toàn dân trong nước đặng lập vị của mình.

    Thật sự ra, nói rằng: Họ đã tạo dựng Đạo-Giáo đặng phụng sự cho dân, nhưng thật sự đi trong đường nào ? Lấy tinh thần cứu khổ của Đạo-Giáo mà kỳ trung họ không phụng sự Quốc dân, chỉ tạo quyền cho họ mà thôi, tức nhiên họ không phải vì sở định cứu khổ mà đến để lập quyền cho vững chắc.

    Nhưng Đạo-Giáo chúng ta thì khác, Đạo-Giáo chúng ta buộc phải định phận mình là giải-khổ tức-nhiên phải làm thế nào cứu vớt quần linh cho khỏi "Tứ-diệu-đề" tức nhiên Tứ-Khổ của kiếp sanh đó vậy.

    Hai cái tinh thần ấy dầu trong hành tàng cũng vậy, vẫn khác hẳn với nhau vì cớ cho nên Đạo với Đời không có bao giờ tương đắc với nhau đặng, Bần-Đạo nói Đạo không phải giành quyền, mà chỉ tạo Đạo đặng định phận mà thôi, bên kia họ cho rằng: Đạo giành quyền của họ, trái hẳn chúng ta vẫn thường thấy, chính mình Đức-Phật Thích-Ca đến khi Ngài có quyền, chính cha của Ngài còn tranh giành cái quyền ấy.

    Về quyền hành có điều khó giải quyết hơn hết là; cả tinh thần chúng sanh, cả thảy đều biết rằng Đạo phải phụng-sự cho nhơn-loại, vì đấy mà bên Đời dầu thế nào đi nữa bất quá là lòe con mắt đặng cho người ta theo, chớ không phải như bên Đạo phải phụng sự, bởi cớ cho nên mới dục ra tấn-tuồng giành quyền với nhau là vì chỗ đó.

    À ! Bây giờ Bần-Đạo nói rõ phải ra phụng sự đặng giải khổ tức-nhiên giải quyết "Tứ-diệu-đề" của Đức Phật Thích-Ca đã để nơi mặt địa-cầu này.

    Bần-Đạo thuyết cả Bí-Pháp Đạo-Giáo có liên-quan mật thiết với Thể-Pháp rồi cả thảy đều nghĩ từ thử đến giờ, Bần-Đạo buộc phải đi cúng, phải hành Đạo là thế nào, không phải buộc mấy người mà Bần-Đạo hưởng một quyền lợi gì riêng hết, mấy người suy đoán chơn-pháp rồi mấy người mới biết, Bần-Đạo vì phận sự muốn cho con cái của Đức-Chí-Tôn tạo cơ giải thoát nên mới buộc gắt gao như vậy thôi.

    Vả chăng trong chơn-pháp, con người nơi mặt thế này có ba điều:

    • 1) Hoặc là phải trả quả kiếp xuống tại mặt địa-cầu này để trả.
    • 2) Hoặc muốn học hỏi thêm, muốn tấn hóa tới nữa về phương lược địa vị tinh-thần của mình còn thiếu kém, học thì đến mặt địa-cầu này đặng học.
    • 3) Các vị đã được địa vị cao siêu nơi cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống đến mặt địa-cầu này đặng lập vị mình thêm cho đặng cao trọng.

    Ba điều ấy muốn đoạt được thì phải phụng-sự Vạn-Linh mới được, Bần-Đạo thuyết tới con cái của Đức-Chí-Tôn sẽ ngó thấy Đức-Chí-Tôn không dùng quyền Chí Tôn của Ngài, Ngài đến đặng lập quyền cho con cái của Ngài mà thôi, không phải đến lập quyền hành hoặc bảo-vệ con cái của Ngài, Ngài không thế gì để cho con cái Đức-Chí-Tôn lạm quyền đặng.

    Cơ quan giải-thoát là phụng sự, dầu cho quả kiếp mà đến cũng vậy; dầu cho vì học hỏi mà đến cũng vậy; dầu cho lập vị mà đến cũng vậy, chúng ta phải phụng sự cho Vạn-Linh mới được, trong phụng sự ấy chúng ta không biết chúng ta bị quả kiếp nơi nào, người nào, nhưng nhờ phụng sự ấy mà mình gặp được người mình muốn trả nợ tiền khiên, biết đâu nhờ hồng ân Đức-Chí-Tôn định cho mình gặp đúng người để đặng trả, tóm lại, cũng phải phụng sự mới có.

    Bây giờ về học hỏi thì chúng ta muốn gì ? Muốn biết mọi điều về huyền vi cơ-tạo, muốn biết cho đặng thì phải phụng sự cho Vạn-Linh mà thôi; rồi trong phụng-sự ấy nó sẽ chỉ điều cho chúng ta muốn biết mà lập vị và có gì hơn thay thế cho Đức-Chí-Tôn mà phụng sự cho Vạn linh lập vị ấy không thế gì ai chối cãi được.

    Muốn làm cho đặng như Đức-Chí-Tôn đã làm ta phải làm gì ? Ngài biểu chúng ta hiến ba món báu trong mình chúng ta là Tam-Bửu.

    • 1) Xác thịt.
    • 2) Trí não.
    • 3) Linh hồn.

    Tức nhiên thân thể và phàm thể của chúng ta, Đức-Chí-Tôn biểu ta hiến cho Ngài đặng Ngài phụng sự cho Vạn-Linh.

    Chúng ta thấy gì ? Mỗi ngày ta kêu Đức-Chí-Tôn làm chứng, kêu Tam-Giáo làm chứng, giờ phút này con nguyện dâng cả xác thịt, trí não và linh hồn của con cho Thầy đặng Thầy làm lợi khí mà phụng sự cho Vạn-linh.

    Hễ dâng rồi còn gì của mình nữa, có trả nợ tiền khiên chớ không có tạo nữa; nếu có tạo mà giờ phút này mình đến Đền-Thánh này đây, ngồi trong lòng của Đức-Chí-Tôn đứng trong phần tử Thánh-Thể của Ngài tình cờ mình bị quả kiếp gì xảy đến, mình không biết, vì thân thể mình không biết duy chủ nữa mà chính Đức-Chí-Tôn duy chủ, vì mình giao cả thân-thể mình nơi tay Đức-Chí-Tôn thì mình không còn biết gì nữa, ngày kia mình có thể nói mỗi hành tàng của con làm, con đã tạo, con giao cả trong tay Đại-Từ-Phụ, quyền hạn xử định do nơi tay Thầy chớ con không biết.

    Mình giao cả hình hài đó cho Ngài xử dụng, nếu sự thật có gì không hay xảy tới cho mình, mình không hiểu, mình giao cả thân thể mình cho Đức-Chí-Tôn đặng Đức-Chí-Tôn phụng sự cho vạn linh quyền xử dụng ấy do Đức-Chí-Tôn quyết định, mình đừng làm trái với mặt luật của Ngài định.

    Ấy vậy, mỗi ngày từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya tới sáng, mình vô Đền-Thánh kêu Đức-Chí-Tôn, kêu Tam Giáo và các Đấng Thiêng-liêng mà phân chứng trước; thân tôi không còn của tôi nữa, tôi đã hiến cho Đức-Chí-Tôn làm tôi tớ cho Vạn-Linh thay thế cho Đức-Chí-Tôn, giờ phút đó chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội mà chúng ta không làm điều gì thêm nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt không thể gì định tội được.

    Đức-Chí-Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta; mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy không phải là của chúng ta tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát, quyền ấy chính của ta chớ không phải của Đức-Chí-Tôn.

    Lấy quyền của ta mà cho ta, mình đã định quyền cho mình, chớ không phải Ngài định; Ngài định cho có quyền giải thoát, quyền Thiêng-Liêng không có tạo, chính ta tạo quyền giải thoát đó do nơi ta mà thôi.

  • Sermon 10: Holy Body

    Sermon 10: Holy Body

    Lunar Calendar: 11th Day of the 6th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: July 6th 1949

    Tonight, I will resume talking about the relation between Caodaist Exotericism and Esotericism. First, I will tell you why God established Thánh Thể (the Holy Body) or the Caodaist organization.

    You should understand what the Holy Body is and why our Tam Bửu (three treasures) are used within this Holy Body, the three treasures are combined into one, that is our selves, it is similar to the three powers of the universe Phật, Pháp, Tăng (Buddha, Dharma, and Humans), which are combined into one - this is God.

    • The first treasure is our physical body.
    • The second treasure is our mind, which is also called the perispirit, this part comes from Kim Bàn (the golden vessel) or to put it another way, is born by Phật Mẫu (God the Mother).
    • The third treasure is our soul, which comes from God.

    These three parts constitute a human, the Buddha from India said a human is made up of three parts and called our original self "ego", Confucianism calls it Tâm [11], in short, that is our soul which is granted by God.

    Because we are composed of those three parts, we have three debts from the moment we are born in this world, we cannot attain enlightenment, enter the eternal realm or have a higher divine status without paying off these debts.

    First, we have to pay off the debt we owe to our parents, this is the same debt our parents had to paid because of what they owed to our grandparents and it is fair for everyone to repay this obligation. Additionally, thanks to society, we have the necessary things for our life to continue, so this is another debt to pay. God says, by serving people, we can pay off all of these debts and He established Caodaism to enable us to serve people. It is, of course, natural for people to try to avoid paying their debts, they are always trying this, now God urges people to fulfill their obligations in service to humanity and to facilitate their payment, God established Caodaism.

    Secondly, we also owe a debt to God the Mother, for she gives birth to our perispirit or our second body, that is why we Caodaists worship God the Mother, when we respectfully genuflect and pray to Her, we offer our physical body, mind and soul to be used for the purpose of a great salvation.

    Our third creditor is God, who shares out His great soul for all of us, thanks to this, we humans are more sacred than the other animals, therefore, remember that God is always inside us and we have to imitate what God has done in order to follow His footsteps.

    Reality proves beyond any doubt that God serves all living beings, so we should work the same way, having paid off these three debts, we will be free to return to the eternal realm after death.


    [11] The heart (scholars tend to translate this as "heart/mind" in English).
    Vietnamese source

    10. Âm Lịch: đêm 11 tháng 6 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 6-7-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Thánh-thể là gì ? Tại sao lấy Tam-bửu làm Thánh-thể ?

    Đêm nay Bần-Đạo giảng tiếp sự liên quan Thể-Pháp và Bí-Pháp của Đạo, trước khi Bần-Đạo giảng tại sao Đức-Chí-Tôn lập hình thể hữu-hình đặng Ngài tạo Đạo.

    Đêm nay Bần-Đạo giảng đặng cho cả thảy đều hiểu rõ Thánh-Thể là gì ? Tại sao lấy Tam Bửu ấy là trong người của ta để làm Thánh thể, cả thảy Tam bửu là có một, mà một do ba người hiệp nhứt, cũng như Càn-Khôn Vũ-Trụ sản xuất ba quyền Phật, Pháp, Tăng trong đó có ba người, nhưng trong ba người chỉ có một là Đức Chí Tôn mà thôi.

    • Người thứ nhứt là ta hay là thể chất tức-nhiên thân-thể của ta đây.
    • Người thứ nhì là chơn-thần tức là trí-não của ta hay là pháp thân, pháp thân ấy do nơi Kim-Bàn phát hiện, tức nhiên do nơi Phật-Mẫu sanh đẻ ra đó vậy.
    • Người thứ ba là chơn linh tức linh-hồn của ta hay linh-thể của chúng ta do nơi Đức-Chí-Tôn sản-xuất, ba món ấy hiệp lại mới thành người.

    Linh thể của chúng ta từ trước Đạo-Giáo của nhà Phật do Ấn-Độ sản-xuất, Đức-Phật Thích-Ca đã minh tả thể-chất có ba người, Ngài gọi nguyên chất là Égo, là người thiệt của chúng ta, tới chừng đem qua Bắc Tông, tức qua Nho Giáo, Nho-Giáo không có tên mới đặt linh thể ấy là Tâm, lấy Tâm đặt tên chơn thể, Tâm ấy do tướng hình thiên lương vi bổn.

    Một vật hễ sản xuất tại mặt địa cầu nầy đứng trong khuôn-khổ Đạo Giáo, tức Thiên-Lương của mình, Thiên Lương ấy không hình tướng nên để chữ Tâm. Ấy vậy, chữ Tâm ở bên Bắc Tông Phật Giáo là tả hình linh thể của chúng ta đó vậy, tức tả hình chơn linh của chúng ta do nơi Đức-Chí-Tôn sản xuất; ấy vậy ba người trong thân thể chúng ta đang gánh chịu đó, khi được hình rồi, có hiện hữu tại mặt thế này rồi thì chúng ta ngó thấy chúng ta có ba mối nợ.

    Mối nợ của cha mẹ thân sanh ra ta, sản xuất ra ta, là mối nợ trước phải trả, nếu khi ta đoạt kiếp được, lập vị Thiêng liêng của mình đặng vô cửa Thiêng liêng Hằng Sống mà đàng sau lưng của mình có mang ba mối nợ thì vô cửa ai cho, phải trả cho rồi mới vô đặng.

    Vì cớ cho nên Đức-Chí-Tôn biểu mình phụng sự cho Vạn-Linh đặng trả nợ thi hài của mình, tức trả nợ máu thịt của mình, nợ ấy ta nhận là công chánh hay oan khúc cho ta ?

    Thì chúng ta ngó thấy nó rất công chánh, một giọt máu, một điểm tinh của chúng ta thọ nơi phụ mẫu chúng ta, rồi cha mẹ của ta đã thọ của người trên trước nữa, cũng một giọt máu, cũng một điểm tinh mà tạo nên thi hài cha mẹ đã thọ nơi Ông Bà Tổ Phụ của chúng ta, rồi giọt máu, điểm tinh ấy truyền đến cho chúng ta, ta phải chịu, khi ấy phải trả, mà trả thì phải khổ cho ta lắm, nếu chạy thì cha mẹ chúng ta phải trả.

    Rồi khi cha mẹ sanh ra ta, ta phải nhờ ai mà sống, nhờ ai mà nên người, nhờ ai mà có, chúng ta sản xuất tại mặt thế gian này tức nhiên nhờ xã hội nhơn quần, nhờ ăn mới sống, thi-hài thân thể mới giữ đặng giọt máu, điểm tinh, để truyền thống ? Trả đủ nợ ấy cho xã-hội nhơn-quần mới về cảnh Thiêng-Liêng Hằng Sống được.

    Quả nhiên chúng ta thiếu nợ hay là Tổ Phụ Ông Bà chúng ta thiếu nợ nên chúng ta phải trả; muốn trả phải phụng-sự cho xã-hội nhơn-quần, Đức-Chí-Tôn coi trọng hệ nhứt, nên Ngài mới lập trường công quả này đây, chỉ có làm công quả nơi của Đạo Cao-Đài nầy mới trả hết số nợ đó mà thôi.

    Tiếp sau đây Bần-Đạo sẽ giảng tại sao có mở trường công-quả trong thời buổi này ? Ấy là nơi để chúng ta tạo công, rồi lấy công trả nợ máu thịt mà trả nợ máu thịt tức trả cho xã hội nhơn quần đó vậy, phụng thờ Tổ Tiên Ông Bà và Song Thân đó, do đạo nhơn luân vi bổn, mang nợ máu thịt ấy phải trả, tức làm công quả để lấy công quả trả nợ máu thịt đó vậy.

    Xã hội chúng ta vẫn thấy từ thử đến giờ, chúng sanh vẫn chạy nợ, dầu muốn dầu không họ vẫn trốn nợ bất kỳ là nợ gì, cho nên Đức-Chí-Tôn vi chứng rằng: Bây phải trả nợ mà bây đã vay từ trước.

    Ngài truyền tức nhiên Ngài truyền cho xã-hội nhơn-quần, vì trong thiên tánh của Ngài định cho chúng ta trả nợ, mà muốn cho ta dể trả nợ Ngài bảo chúng ta phải làm thế nào ? Chúng ta duy có phụng sự mà thôi, vì cớ cho nên Ngài lập Đạo là vậy, trả nợ nhơn quần xã hội rồi mới chỉ có một mối, còn hai mối nợ nữa phải trả chớ; nợ của người sản xuất ra chơn thần, là Mẹ đẻ pháp thân tức là Phật Mẫu đó vậy.

    Bây giờ Đức-Chí-Tôn, Ngài đến đặng Ngài nhìn nhận con cái của Ngài, Đức-Chí-Tôn bảo Đức Phật-Mẫu bà là chủ nợ Bà phải đòi, kêu chúng nó đến trước mặt Bà mà trả cho Bà, Bà đừng để cho nó thiếu nợ mà nó giải thoát không đặng.

    Ngài đến mở Đạo nhìn chúng ta là con cái; con cái của Ngài nhìn chủ nợ là Bà, thì chúng ta phải trả, vì cớ cho nên chúng ta thờ phượng Phật-Mẫu là vậy, chúng ta đến bái lạy Ngài thì chúng ta cũng nguyện dâng cả thi hài, chơn-thần và chơn-linh của ta đặng làm môi giới cho Ngài tạo Đạo, cũng như đối với Đức-Chí-Tôn vậy, chúng ta trả nợ Đức-Chí-Tôn ra sao thì đối với Phật-Mẫu cũng như thế ấy.

    Còn nợ thứ ba nữa là: nợ đối với Đức-Chí-Tôn, Ngài đã ban cho ta một điểm chơn linh của Ngài, tức nhiên chúng ta do nơi Ngài mà sản xuất, linh tánh của chúng ta linh hơn vạn-vật, vì có tánh Trời ở trổng.

    Bần-Đạo thuyết minh rằng: Con thú này có Ông Trời ở trong, Ổng đồng sống với nó, có Ông Trời đồng sống trong tánh Linh ấy, mà muốn trả nợ với Đức-Chí-Tôn do nhứt điểm chơn-linh của Ngài sản-xuất thì chúng ta phải làm như Ngài đã làm, đặng kế nghiệp cho Ngài, mà làm như điều của Ngài đã làm.

    Ở chúng ta không thể gì định được sự trả nợ của các Ngài, sự làm của Ngài có ảnh hưởng thanh túy, tức là hy sinh Vạn-Linh mà phụng sự Vạn-Linh, chúng ta phải học ở Ngài, cái tánh chất mà Ngài đã làm để chúng ta phụng sự cho Vạn-Linh, như Ngài đã phụng sự chúng ta thấy trước mặt không thể gì chối cải đặng.

    Chúng ta thiếu nợ Nhứt Điểm Linh, chúng ta muốn trả nợ phải trả như Ngài; mà muốn trả nợ Vạn linh, Ngài phải làm tôi tớ cho Vạn-Linh như chúng ta vẫn ngó thấy, chúng ta muốn trả nợ cho Ngài thì chúng ta phải làm tôi-tớ cho Vạn-Linh như Ngài đã làm, chúng ta phải làm thầy Vạn-Linh như Ngài đã làm thầy của Vạn-Linh.

    Chúng ta trả ba món nợ ấy được rồi, tới ngày chúng ta giải thể của chúng ta, trở về cảnh Thiêng-Liêng Hằng Sống nhập vô Niết-Bàn-Cảnh, không còn ai níu lưng nữa, phải trả nợ ấy rồi mới vô bởi vì chúng ta đã trả rồi.

  • Sermon 11: The opposition of Religion and Secularity

    Sermon 11: The opposition of Religion and Secularity

    Lunar Calendar: 18th Day of the 6th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: July 13th 1949

    Previously, I told you religion and secularity are two opposing factors, that opposition comes from the nguyên khí [12] of all beings and of all things in the universe. Philosophically speaking, our body appears on earth because of desire, which is the most important of the seven human feelings (joy, love, satisfaction, anger, hatred, sorrow and desire), the feeling of desire controls all of the other feelings.

    The souls of the universe can be put into two categories: Tiểu Chơn Hồn (junior souls) and Đại Chơn Hồn (senior souls), the former includes the souls of the material world, the souls of vegetation, and the souls of animals, the latter includes the souls of gods, the souls of Saints, the souls of Immortals and the souls of Buddhas.

    Human souls are a little special because they can be either junior or senior, depending on an individual's desire, obviously, a person can decide to become an animal or a Buddha, so there is a constant struggle between animal (evil) and Buddha (good) in our mind.

    Similarly, there is the same conflict in human society, religious people want to follow the Buddha while secular people want to follow the animalistic, the fact that theism remains in opposition to materialism has been an unsolved problem so far, even the Buddha could not solve it.

    You may want to know if it is solved this time when God comes and founds Caodaism? Yes, it surely is! God distinctly shows these two ways of life to His children, telling them to make a sensible choice according to their true soul, they can become whatever they want to be, a Buddha or an animal.

    Presently, mankind is suffering so much, it is even on the verge of self-destruction, but the problem still has not been solved yet, besides, the force of the animal is still more powerful than the force of a Buddha.

    Founded more than 2,500 years ago, Buddhism is losing its control over the animalistic tendencies inside humans, therefore, people around the world struggle like animals and self-destruction will be inevitable sooner or later, if humans become wise enough, we can prevent that.

    The Caodaist esotericism I am discussing is nothing less than the offering of directions to you so that you can make a proper self-evaluation, imagine a prince, who will succeed his father – he does not know what a king should be or what a king should do, how then can he be a good ruler ?

    As soon as God's children understand His teachings, make proper self-evaluation and take their religious responsibilities seriously, the Caodaist community is kept in order and the security that God grants humans is ensured.

    Presently the Caodaist community is too chaotic, that's why people thought it was a superstitious organization, as bold as brass, some groups of Caodaist adherents established the so-called Tả Đạo Bàng Môn [13], they make a false self-evaluation and have the mistaken idea that they are major saviors of the world.

    Since esotericism is extremely important, I want to publicize it as much as possible, from now on, I will only preach about it on the days of Sóc Vọng [14], when more Caodaist adherents attend the ceremonies, if you are too lazy to come, I will only tell you these things when you are let into Nhà Tịnh [15].


    [12] Primordial energy.
    [13] A fake religion.
    [14] The first and fifteenth days of a lunar month.
    [15] The Caodaist Meditation House.
    Vietnamese source

    11. Âm Lịch: đêm 18 tháng 6 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 13-7-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Sự phản-khắc giữa Đạo và Đời

    Trước khi Bần-Đạo thuyết về Bí-Pháp chơn truyền của Đạo, Bần-Đạo đã kết luận cái phản khắc Đạo-Pháp, Thể-Pháp, tức sự phản khắc của Đời và Đạo; sự phản khắc ấy do nơi Nguyên-khí mà ra, không phải vì Nguyên-khí trong Vạn-Linh mà thôi, Nguyên-khí của vạn loại nữa, chính Nguyên-khí ấy trong mình của chúng ta đã chuyển xuất ra vậy.

    Bần-Đạo cần thuyết cái thi-hài này lấy triết lý chớ không phải lấy bí truyền mà luận, thì thi hài chúng ta đã có nơi mặt địa cầu này, do nơi nguyên căn vật dục xuất hiện ra, tức là trong Thất tình nó đi đến cái tình chót hết là tình quyết định, tình duy chủ, cả mối tình kia thường phản khắc nhau còn cái tình Dục cốt yếu duy chủ định hướng của nó mà thôi.

    Chúng ta ngó thấy trong Vạn-Linh nó chia ra hai phần chơn hồn: Tiểu-Chơn-Hồn và Đại-Chơn-Hồn, Tiểu-Chơn-Hồn chia ra làm ba thuyết, mà tối tiểu là Vật-Chất-Hồn, Thảo-Mộc-Hồn và Thú-Cầm-Hồn nó thuộc Tiểu-Hồn.

    Nhơn-Hồn thì có thứ Tiểu và có Đại tức-nhiên tình dục định phận nó, muốn Tiểu thì Tiểu, muốn Đại thì Đại.

    Đại-Hồn là Thần, Thánh, Tiên, Phật bốn cái Đại Hồn định thiêng liêng vị cho cả Vạn-Linh, chúng ta ngó thấy trong mình chúng ta có Thần, có Thú; vì cớ cho nên triết lý Thất Tình định duy chủ, muốn làm Phật thì làm, muốn làm Thú thì làm, bởi nó định theo tình dục của nó, bây giờ trong thân thể của chúng ta, trong nguyên-bổn của chúng ta, vẫn thường chiến đấu, Phật chiến đấu với thú, thú chiến đấu với Phật.

    Hai hình-trạng của Đời và Đạo, Đạo xu-hướng theo Phật, Đời xu hướng theo Thú, hai tương-quan phản-khắc ngang nhau, vì cớ cho nên thuyết Duy-Tâm và Duy-Vật nó hay tương-đối với nhau.

    Tình-dục duy-bổn thì thấy trong mình nếu chúng ta muốn thành Phật thì chúng ta làm đặng, muốn đi theo Phật lập vị mình thì trong Đại Hồn giúp ta làm đặng, hai là tình dục ấy muốn đi theo đám Tiểu-Hồn, vì ảnh hưởng trong cá nhân ta mà ảnh hưởng ấy chẳng phải của chúng ta mà thôi.

    Chúng ta ngó thấy trong Vạn-Linh nó có hai con đường đi đặc biệt, không thế gì chối cãi được, thành thử cái phản-khắc tương liên của Đời và Đạo nó đi từ trong cá-nhân của chúng ta mà ra cho tới xã-hội nhơn-quần.

    Nhân-loại phản-khắc ấy không thể gì tưởng được, từ thử tới giờ lập-vị Phật như Đức-Phật Thích-Ca cũng chưa giải quyết được; Đức-Chí-Tôn đến kỳ này chúng ta thử hỏi giải quyết hay không ? Cũng phải giải quyết chớ, Ổng đến vạch ra lẽ Phật với Thú ấy để chán chường trước mắt, con cái của Ổng, Ổng biểu lấy trí khôn-ngoan, lấy huệ khiếu của mình làm môi giới, tùng theo Nguơn Linh làm căn bản.

    Định Phật, muốn Phật, sẵn được Phật; muốn thú được thú, Ông chỉ hai con đường rõ rệt để cho con cái của Ổng quyết-định cho mình, sự tương-tranh tương-đấu bây giờ trong các xã-hội nhơn-quần trong mặt địa-cầu này, đương nhiên bây giờ cũng tấn tuồng ấy làm hình trạng của nó ra lớn vĩ-đại, chúng ta không để ý mà thôi, muốn tìm tàng chơn-lý thì rõ-rệt không có gì lạ lùng hết.

    May sao, giờ phút này nhơn-loại đương bị trong thảm cảnh khốn-khổ không biết chừng nào; thảm cảnh ấy xô đến cảnh diệt vong của họ nữa mà chưa giải quyết được, vì cả tinh thần bên Phật yếu ớt bên Thú đương tráng kiện, hùng hổ dữ tợn, mà bên Phật thì yếu ớt quá.

    Đạo Phật truyền tại mặt địa-cầu này đương nhiên bây giờ vô giá trị; mà hể Đạo hết quyền tức nhiên con vật kia không có kỷ cương muốn chạy đâu thì chạy, muốn làm gì thì làm; muốn làm ngần nào thì đặng ngần ấy; nếu không duy chủ đặng nó, tánh đức không mực thước, không chuẩn thằng, không biết định phận mình thì sẽ xô đẩy đến cảnh diệt vong chớ không có gì lạ hết.

    Bởi vậy cho nên Đức-Chí-Tôn đến kêu gọi cả toàn nhơn-loại chỉ con đường diệt vong trước mắt, khôn thì dừng bước lại để biết lấy phận mình đứng mực nào, rồi mình mới phân định được.

    Bí-Pháp chơn-truyền Bần-Đạo thuyết không gì khác hơn là chỉ đường, biết giá trị mỗi cá nhân, mình biết mình, nếu vị Hoàng Tử con của Ông Vua kia lên ngôi Cửu-ngũ trị vì thiên hạ mà không biết giá trị tương lai làm Chúa thì tưởng lại họ như kẻ thường dân hèn-hạ, họ tập thành theo tánh đĩ thõa, điếm-đàng buông lung, thì chẳng khi nào làm Vị Đế Vương xứng đáng đặng, mình phải biết địa vị mình thế nào, rồi mới thi-hành theo khuôn-luật định của mình, Bí-Pháp chơn truyền là vậy.

    Ngày giờ nào cả con cái Đức-Chí-Tôn biết đoạt Pháp, biết mình, biết định phận cho mình, biết ngôi vị của mình, biết giá trị của mình là giờ ấy trật tự an ninh trong cửa Thiêng-Liêng Hằng-Sống Đức-Chí-Tôn để tại mặt thế này, tức trong cửa Đạo đây mới thiệt giá trị.

    Giờ phút này ngó thấy tấn tuồng hỗn độn, con người họ tưởng Đạo Cao-Đài như thầy chùa, thầy pháp, bóng chàng, nói cái nào cũng được, vì cớ mới có đảng phái dám cả gan bày ra Tả-Đạo Bàn-Môn, nếu biết đâu dám làm, vì họ lầm tướng diện của họ cho nên ngày nay mới có cái cảnh tương tàn đánh sát họ kia kìa, bằng đi tới nữa thì không còn chơn tướng nào tồn tại được.

    Ấy vậy, Bần-Đạo đã nói rõ, bây giờ có một điều trọng yếu trong cái Bí-Pháp chơn-truyền nói cho mấy người nghe mà thôi, mấy người được đặc ân gì mà hưởng riêng như vậy.

    Kể từ đây đến sau, họa may Bần-Đạo có thuyết, là thuyết trong ngày Sóc-Vọng mà thôi, hễ đi cúng nhiều thì nói, bằng không thì thôi, còn nữa, nếu con cái Đức-Chí-Tôn còn làm biếng đi cúng nữa thì vô nhà tịnh rồi sẽ hay chớ không thuyết nữa.

  • Sermon 12: The esotericism of God

    Sermon 12: The esotericism of God

    Lunar Calendar: 29th Day of the 7th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: August 8th 1949

    Tonight, I will resume my talk about Caodaist esotericism, to understand the mystery of esotericism, we must first figure out what we are and how we are affected by esotericism.

    What are we as humans? How important are we in the universe? Where are we from? God has come and taught us that the secret mechanism of the universe is represented by the composition of a human. A human is the combination of three elements called Tam Bửu (three treasures): the body, the perispirit, and the soul.

    I affirm that nothing in the universe is not created by the limitless power of God and everything has to be active for our eternal evolution. All the planets, as well as ours, have to spin and rotate forever - or life comes to an end.

    Their movement is from the explosion of Thái Cực (The Absolute) at the beginning of the universe, this explosion created innumerable planets, including our 68th planet, which gradually cooled off and then life began, all of us humans came from and are affected by the energy of that explosion.

    When we grow old and die, we return to that boundless primeval energy, the power of Thái Cực causes both visible and invisible beings and things in the universe to transform endlessly, so I will tell you what our three treasures are.

    Firstly, our body is actually an animal, biologically, it is true that our body is the same as a monkey, a dog, a cow or a water buffalo.

    Secondly, in addition to our physical body, God the Mother grants us a perispirit when we are a fetus; when our father's sperm combines with our mother's egg in her uterus, it starts developing our physical body, at that time, our perispirit is still outside, following our Mother everywhere, that is why a morally upright pregnant mother is always protected wherever she goes.

    As soon as we are born, our perispirit combines with our physical body to form a complete human, this perispirit is still at the first stage of development called Tiểu Hồi [17], all perispirits in the universe tend to develop from the lowest level (material) to the highest one (Buddha).

    When our perispirit combines with our physical body, it is forced to forget all of our experiences from former incarnations by God the Mother, then it, together with our body, grows as a normal human.

    It is interesting that the more moral we were in former incarnations, the nicer our perispirit looks in the present incarnation, therefore, our Confucian forefathers said, "It's hard to live a moral life, if you were moral enough in all of your incarnations, you will have a beautiful appearance" and according to Buddhism, sinners can never escape the appropriate punishments in hell even though their perispirits are also created by God the Mother as with everyone.

    Thirdly, the last treasure is our soul which is granted by God, it is the soul that decides whether a human is good or evil, if our soul is powerless, we become evil beings; the soul is also the force that motivates a person to attain Buddhahood.

    Generally, mankind will stay on this planet until they attain enlightenment, humans have been on earth for 1,500,000,000 years or so, for the first 100,000,000 years they were dã nhơn (anthropoids), who could not live with the soul granted by God, having evolved into humans, now they can.

    The perispirits created by God the Mother have been with humans since the creation, but the souls granted by God have only been with them for 50,000 years, God came with us after God the Mother, similarly, only when we are ten years old we become close to our father.

    God the Mother gives us a perispirit, which is the lowest level of evolution called Tiểu Hồi, as soon as God grants us a soul, we attain a higher level called Đại Hồi [19].

    A typical adult has a physical body, a soul and a perispirit, the perispirit acts like a translator for the body and the soul, take an airplane for example, its wings and fuselage are the body, the propellers are the perispirit and the pilot is the soul.

    To understand God's esotericism, study how our soul influences our body and perispirit; next time I will begin discussing esotericism.


    [17] Or Tiểu Chơn Hồn, which have the same characteristics as those of material objects, vegetation, and animals.
    [19] Tiểu Hồi and Đại Hồi or Tiểu Chơn Hồn (junior souls) and Đại Chơn Hồn (senior souls). The former includes the souls of material objects, the souls of vegetation, and the souls of animals. The latter includes the souls of gods, the souls of Saints, the souls of Immortals, and the souls of Buddhas.
    Vietnamese source

    12. Âm Lịch: đêm 29 tháng 7 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 8-8-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh

    Đêm hôm nay Bần-Đạo khởi giảng tiếp Bí-Pháp chơn-truyền của Đức-Chí-Tôn; trước khi chúng ta muốn hiểu, cái huyền vi của Bí-Pháp ấy thì chúng ta phải tìm coi con người của ta đây có chịu ảnh hưởng với Thể-Pháp ấy thế nào và ta là gì trước đã.

    Ta là gì ? Và có trọng hệ trong cơ-quan bí-mật, Tạo-Đoan Càn-Khôn Vũ-Trụ và tạo hình thể chúng ta có tại mặt thế này, nguyên do đâu sản-xuất ? Chúng ta đã ngó thấy Đức-Chí-Tôn đến Ngài để trước mặt chúng ta một cái huyền-bí tạo Càn-Khôn Vũ-Trụ.

    Bần-Đạo thuyết về "Tam-Bửu" tức nhiên là:

    • 1) Thi-Hài
    • 2) Chơn-Thần
    • 3) Chơn-Linh

    Đức-Chí-Tôn gọi chung là xác thân, chơn-thần và chơn-linh, Bần-Đạo xin nói quả-quyết rằng: không có một vật-loại nào trong Càn-Khôn Vũ-Trụ này mà không do quyền năng vô-tận của Đức-Chí-Tôn sản-xuất, cái nguyên do thế nào chúng ta đã ngó thấy; vạn-vật trong Càn-khôn Vũ-Trụ này phải hoạt động mãi thôi không ngừng, nó nhờ hoạt động chuyển luân mà tấn hóa mãi mãi.

    Vạn-vật trong Càn-Khôn Vũ-Trụ dù trái địa-cầu thấy trước mắt hay địa cầu chúng ta đương cư ngụ đây, phải vận hành luôn; ngưng là chết mà cả vạn-vật loài người cũng phải vậy; nó có lưu động là nhờ khí nổ Thái-Cực buổi nọ, Thái-Cực nổ thành khối lửa; khối lửa nổ trong Càn-Khôn Vũ-Trụ hiện ra muôn muôn triệu triệu ức quả địa-cầu trong Càn-khôn Vũ-Trụ, quả cầu ấy nguội lại thành địa-cầu chúng ta đương ở đây, là quả địa-cầu 68, quả cầu ấy là vậy.

    Bần-Đạo nói thật không có vật loại nào, chúng ta nam nữ cũng vậy, cũng đồng trong khối chất ấy mà biến ra; Bần-Đạo đứng giữa tòa giảng này, nói tất cả đều chịu ảnh-hưởng Thái-Cực đó định mà có.

    Ngày giờ chúng ta chết, chúng ta trở về Nguơn khí vô cùng vô-biên ấy, cũng do nơi quyền-năng vận-chuyển của Thái Cực; cái Nguơn-Linh của chúng ta cũng do quyền năng Thái-Cực mà nó nắm cả Nguơn-linh tạo nghiệp ấy trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, cả cơ-quan hữu-hình, nó tạo Bí-Pháp vô-biên là chuyển luân trong Càn-Khôn Vũ-Trụ hoặc là chuyển luân hình thể, hoặc là chuyển luân Ngươn khí, hay chuyển luân Bí-Pháp Thiêng-Liêng của Ngài.

    Ấy vậy, Bần-Đạo khởi giảng trong ba món bửu-bối chúng ta là gì? Thi-hài chúng ta đồng mạng như sống theo vạn-vật hữu-hình là vật thú; thật sự nó vậy chớ không gì khác hết; nếu chúng ta kiếm theo cái phương pháp "Cách vật Trí-tri" chúng ta đã ngó thấy quả quyết rằng: con người chúng ta không có gì khác hơn con Khỉ, con Chó, con Bò, con Trâu, thật sự nó vậy.

    Duy có một điều trọng hệ hơn hết là do nơi quyền năng Tạo-Đoan của Đức-Phật-Mẫu đã tạo chơn-thần chúng ta và hình thể chúng ta, khi con người mới thai-bào, con tinh trùng (spermatozoaire) ở trong Nguơn khí Cha nhập vào lâm bồn của Mẹ, kết hợp với noản châu (ovule) của Mẹ; dương trùng của cha tạo biến thành hình hài xương cốt chúng ta, còn noản châu của Mẹ biến ra máu thịt của chúng ta đó vậy; hai vật ấy phối hợp lại với nhau thành tượng biến hình hài.

    Hai cái tinh trùng và noản châu hiệp lại khác hẳn với cái hình tướng tinh-trùng đơn-sơ, khi nhập vào làm một, cái buổi tượng hình của chúng ta thì chơn-thần của chúng ta còn ở ngoài thân, ngoài cốt hài của hài chúng ta; nó vơ-vẩn hoặc là quanh theo bà Mẹ chúng ta ở dựa bên, nhứt là bà Mẹ đi nơi nào nó đều theo nơi đó. Chơn-thần đến theo người Mẹ có chửa, nếu người Mẹ có Đạo-Đức dám chắc đi đâu chưa có sự gì rủi ro đến đổi thiệt hại, bởi cớ cho nên đứa con theo mãi, theo cho đến khi tượng hình chúng ta ra khỏi lòng bà Mẹ, chơn thần ấy mới nhập vô làm khuôn viên cho anh hài đó.

    Tượng hình khuôn-khổ chơn-thần Đức Phật-Mẫu đã tạo cho nó đi bực Tiểu-Hồi nó đi trong thú chất không có chơn-thần nào tạo nhứt phẩm liên-hoa mình cho trọn vẹn. Họ có can-đảm dám đầu kiếp từ vật-loại đi lên, tạo đến Phật-Vị đặng tạo nhứt phẩm liên-hoa. Phật-Mẫu tạo ra họ buộc họ phải quên cả kiếp trước, bỏ cái cũ nhập vô cái mới đi từ Tiểu-Hồi Vật-hồi đến Nhơn-Loại, chơn-Linh ấy biết làm người rồi đó, làm cũng như khuôn-khổ chúng ta biết vậy; ngộ nghĩnh thay nếu chúng ta ngó thấy tinh thần chúng ta đầy đủ Đạo Đức chừng nào thì chơn thần anh hài càng ngày càng đẹp càng tăng tiến.

    Bởi thế Tiên-Nho chúng ta có nói: rủi sanh chỗ bất phước, Tiên-Nho ta cho rằng: kiếp tu không có dễ dàng, ít có người tu thiệt tâm-tu, nếu tinh-thần đầy đủ là kiếp sanh mình tạo đầy đủ Đạo-Đức, mỗi kiếp tu của chúng ta mỹ-miều đẹp-đẽ lắm.

    Hại thay !!! Chúng ta đã ngó thấy trong nhà Phật, chúng ta quả quyết rằng: những chơn-thần nào bị tội đọa xuống phong-đô trong Kim-Bồn Phật-Mẫu xuất hiện thế nào mà bị đọa xuống cửa Địa-ngục rồi hại thay! Quả kiếp ấy quỉ quái thì thành quỉ quái không thoát.

    Cả tinh thần ấy biến tướng do Nguơn-linh mà ra, vì Nguơn-linh không đủ quyền năng tạo dựng, tạo dựng Nguơn-linh ấy phát động thế nào thì Nguơn-linh biến động ra thế ấy, loài người ở tới chừng nào đoạt được Đạo nơi mặt đia cầu này mới thôi.

    Kể từ ngày có nhơn-loại nơi mặt địa cầunày đến nay chừng một ngàn năm trăm triệu năm, nếu đoạt được phẩm vị đó là nhơn-phẩm chớ không phải là giả-nhơn; chịu trong phẩm giả-nhơn ít nữa một trăm triệu năm, xác thịt họ mới có phương thế dung-nạp nguơn linh Đức-Chí-Tôn.

    Chơn-Thần Phật-Mẫu đến theo loài người từ buổi mới tạo ra loài người, còn Nguơn-Linh Đức-Chí-Tôn đến loài người chừng năm chục triệu năm Nguơn linh có trong thân thể của loài người.

    Đức-Chí-Tôn đến sau chớ không đến trước như Đức Phật-Mẫu, khi mẹ chúng ta sanh ta ra, nuôi gần năm sáu tuổi cũng chưa biết cha là gì; chưa biết theo cha, nghe hiểu nhìn cha là gì; bảy, tám, chín, mười tuổi mới biết, buổi ban sơ loài người cũng thế đó.

    Phật-Mẫu sanh ra chỉ biết nuôi nấng theo bực Tiểu-Hồi, chớ Đại-Hồi chưa có, ngày giờ có Đại-Hồi là Đức-Chí-Tôn giáng linh trong thân-thể loài người.

    Thánh-Giáo Gia-Tô nói: hình-hài người là đất, Ngài nắn Ngài thổi ra mới biến người. Không phải vậy đâu; nếu nói thân-thể con người thú chất là đúng, duy có Đức-Chí-Tôn đến ở cùng nó mới là Thánh thôi, Đức-Chí-Tôn ở cùng nó thì là Đại-Hồi (Ego) chớ không phải Tiểu-Hồi (Monad).

    Bây giờ ta sống với cái Nguơn-linh mà cái Nguơn-linh xác thịt ấy là Phật và thú; chơn-thần chúng ta làm trung-gian cho thi hài, làm trung gian cơ cũng như làm thông ngôn cho Chơn-linh và xác thịt chúng ta vậy.

    Bần-Đạo lấy cái thí-dụ trắng như: cái máy bay, cánh đuôi và mình là xác thịt, cái chong-chóng quây đi được đó là chơn-thần, người cầm lái điều khiển cho vận hành là cái linh-tánh định cái sống đặc biệt nó là Ngươn-linh.

    Bần-Đạo nói lại nữa: cái máy bay, mình, đuôi nó chẳng khác chi như xác chúng ta, chong-chóng quây chạy đó là chơn-thần; người cầm máy làm cho máy bay vận hành theo ý người muốn là Nguơn-linh đó vậy.

    Muốn hiểu Bí-Pháp Đức-Chí-Tôn thì xem cái xác thịt của chúng ta và chơn-thần của chúng ta phải chịu ảnh-hưởng thế nào thì cái Bí-Pháp thế ấy, linh hồn trúng là chơn pháp, trật là giả pháp.

    Kỳ tới Bần-Đạo kết vô Bí-Pháp Đức-Chí-Tôn.

  • Sermon 13: The esoteric dharma of Hội Yến Diêu Trì

    Sermon 13: The esoteric dharma of Hội Yến Diêu Trì

    Lunar Calendar: 15th Day of the 8th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: October 6th 1949

    Today is the Ceremony of Hội Yến Diêu Trì [20], which manifests the esotericism established by God for His genuine religion. On this occasion, I want to elaborate on it so you, God's children, can understand how it affects our religious achievements on earth. What's more, I want to tell you about my extraordinary belief in God, the Beloved Being, the Creator of the universe, the Eternal Being and Mighty Lord so that you know how much love He gives us.

    In the Year of the Buffalo (1925), coming to us as a friend, God adopted a pseudonym which I dare not now use, he made friends with us (the Thượng Phẩm [21] and myself the Hộ Pháp [22]).

    In a séance during the 12th lunar month of that year, He ordered us to pray to Him for a new religion, it is extremely surprising that we had such strong belief in God that we obeyed immediately, it turned out that God ordered not only Thượng Phẩm and Hộ Pháp but also all the humans on earth, especially the Vietnamese people, this event was witnessed by Mrs. Hương Hiếu, Chánh Phối Sư [23] (who was also Mr. Cao Quỳnh Cư's wife), who thoroughly understood how we felt at that time.

    Without any fear or shame, we knelt down, praying for a new religion in the street while lots of passers-by were curiously watching us, remember that all this took place within a modern and luxurious city. What a challenge it was! We sought to do it because we believed in God, however, we thought we would have been so embarrassed if people had known the reason of what we were doing.

    Then, a friend of mine, a celebrated poet in the south of Vietnam, whose pen name was Bồng Dinh, came along. Surprisingly, he had been very fond of the poems granted by God in previous séances and often made verses with the same rhyme scheme; though I was rather uneasy, he boldly recited those poems in front of the altar table we had set on the pavement.

    Attracted by the odd activity, lots of passersby stopped and watched us curiously, suddenly the table, which we had used as a tipping table in séances, began to rap, innumerable Deities, including Religious Founders, came, preaching.

    Once we had got used to the new Holy Teachings, we were ordered to organize a vegetarian feast for ten divine Beings, who were God the Mother and the Nine Female Buddhas. Mrs. Hương Hiếu [24] was the host and Thượng Sanh, Thượng Phẩm and I were also guests, an altar for God the Mother and nine chairs for the Nine female Buddhas were arranged with dinner plates.

    When I asked what the purpose of the feast was, God replied it was Hội Yến Diêu Trì [25]. I received this answer but without understanding what it was, I just did as God asked because it would be good for the future of the new religion.

    We enjoyed the feast while Mrs Hương Hiếu serve food into the bowls for the invisible guests, I still remember a strange thing, which was absolutely confusing at that time.

    After the feast, the Deities all left and God came, Thượng Phẩm and I curiously asked:

    - Were you there when Diêu Trì Cung [26] came to the feast, Lord?

    - Yes. I have been here since then.

    - Did you see them?

    - Yes. I myself served them.

    Thượng Phẩm asked: - Did Diêu Trì Cung see you, Lord?

    - No, they didn't.

    - Why?

    - I hid myself using a mysterious mechanism.

    I asked with curiosity: - Can I attain a divine position like my sister's, the Seventh Female Buddha [27]?

    - Yes, you can.

    Thượng Phẩm asked: - How, Lord?

    - Practice religion, you can not do it without practicing a religion.

    I asked: - How long?

    He kept silent, I asked for a year? Five years? A thousand years? Ten thousand years? A hundred thousand years? He still kept silent, so I stopped asking, thinking that the answer was unknown, female Caodaists, I have just explained what Hội Yến Diêu Trì is, try to memorize it.

    Caodaist Dignitaries and believers, remember this: since the Đạo (Tao, religion) was closed, the Ngọc Hư Cung [29] nullified the divine law and Cực Lạc Thế Giái [30] refused admission to heaven, few people have attained enlightenment due to the inappropriate methods that were being used.

    According to the ancient divine law, in the ceremony of Nhập Tịch (Divine naturalization), the souls who return to Diêu Trì Cung [32] can enjoy heavenly peach and wine festival in Hội Yến Bàn Đào [33] before entering Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống (Eternity). Alas! Hardly any souls have been able to achieve this privilege thus far.

    Nowadays, God chooses to save all of His children, so He makes God the Mother display the esoteric dharma of Hội Yến Diêu Trì in the earthly world – this means that His children can be saved and not have to wait until they return to Diêu Trì Cung, only God can do such a thing!

    Today is the day God the Mother shows the esotericism of salvation to Caodaist believers only, because of its significance, I always pay much attention to this day annually and hope you all will do the same, since the creation time, no one has been allowed to have the same period of salvation as we have been granted, we have to be extremely grateful to God and God the Mother.


    [20] Hội Yến - banquet. Diêu Trì - the gem pond (the realm of God the Mother)
    [21] Mr Cao Quỳnh Cư, one of the Caodaist Leaders in the Caodaist Judicial Body.
    [22] Mr Phạm Công Tắc, the Leader of the Caodaist Judicial Body.
    [23] A Caodaist Senior Dignitary of the Caodaist Executive Body.
    [24] Mr Cao Quỳnh Cư's wife, later a female Caodaist Senior Dignitary.
    [25] The Banquet of Gem Pond (lit.)
    [26] The Palace of God the Mother.
    [27] In former séances, the Seven Female Buddha had called Hộ Pháp, Thượng Phẩm and Thượng Sanh sworn brothers.
    [29] The palace where God and His court rule the universe.
    [30] The Paradise of Ultimate Bliss - for those souls who attain Buddhahood.
    [32] The palace of God the Mother.
    [33] The Peach and Wine Feast.
    Vietnamese source

    13. Âm Lịch: đêm 15 tháng 8 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 6-10-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh, lễ Hội Yến Diêu Trì Kim Mẫu.
    Bí-pháp Hội Yến Diêu-Trì

    Hôm nay là ngày Lễ kỷ-niệm Bí-Pháp, Bí-Pháp Hội-Yến Diêu-Trì, Đức-Chí-Tôn đã lập trong nền chơn-giáo của Ngài, Bần-Đạo nhân dịp này thuyết minh cho toàn cả con cái Đức-Chí-Tôn hiểu rõ cái huyền-vi bí-mật ấy, bởi có ảnh hưởng với cơ-quan đoạt Đạo chúng ta tại mặt thế-gian này.

    Hơn nữa Bần-Đạo có phương-tiện tỏ ra một đức-tin dị thường của một Đấng yêu-ái, một Đấng tạo Càn-khôn Vũ-Trụ, Đấng Tự-Hữu Hằng-Hữu, Đấng quyền-năng Vô-tận vô-biên, cốt để cho con cái của Ngài thấu đáo cái tâm tình của Ngài đối với ta và ta đối với Ngài dường nào.

    Đoạt-đặng đức-tin phi-thường ấy, năm Ất-Sửu, năm một ngàn chín trăm hai mươi lăm (1925), Đức-Chí-Tôn đến với chúng ta, nhưng Ngài đến với một tình bạn mà thôi, đến với một danh hiệu, giờ phút này Bần-Đạo không dám nói, Ngài đến cũng làm bạn Thượng-PhẫmHộ-Pháp.

    Tháng hai năm ấy Ngài dùng cơ bút huyền-diệu, Ngài dạy vọng Thiên-Bàn Cầu Đạo (điều mà chúng ta không thể tưởng tượng đây là một cử chỉ) ai cũng lấy làm lạ, nhiều người muốn tầm Đạo phải để một dấu hỏi; hỏi tại sao buổi ấy Thượng-PhẩmHộ-Pháp có một đức-tin vững-vàng nghe theo lời Ngài vọng Thiên-Bàn Cầu-Đạo, điều mà chúng ta không thể tưởng-tượng, đây là một cử-chỉ chung chớ không phải cá-nhân Thượng-Phẩm hay Hộ-Pháp mà lời huấn-giáo của Ngài cốt-yếu để cho toàn thể nhân-loại nơi mặt địa-cầu này, mà nhứt hơn hết là nòi giống Việt-Nam chúng ta.

    Bần-Đạo nói đây còn có Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương-Hiếu là người bạn Cao-Thượng-PhẩmBần-Đạo buổi ban sơ thấu hiểu điều ấy, Ngài đến với một tình cảm đáo để, một đức-tin vững-vàng làm sao đâu ?

    Không thể sợ đặng; không còn biết vị kỷ nhục nhã chi hết, giữa khoảng đường nơi Châu Thành Sài-gòn thiên hạ tấp nập mà Đức-Chí-Tôn buộc phải quỳ ngoài đường dựa bên lề ấy, quỳ đặng cầu-nguyện xin Đạo cho chúng sanh, tội nghiệp thay !!!

    Ngài thử thách cho đến nước thoảng như mình quỳ đó mà thiên hạ không hiểu mình quỳ làm gì thì cũng ít mắc cở chút mà cũng có thể quỳ, còn làm mà người biết thì nhột nhạt khó chịu lắm, nhưng sợ Đức-Chí-Tôn phải rán mà làm.

    Ngoài ra có ông bạn ai cũng đều biết danh của người là nhà thi sĩ danh tiếng, Bần-Đạo dám chắc nội trong nam bộ chúng ta đây chưa có ai bằng, nổi danh thi sĩ đứng đầu hết thảy là người ấy, không biết chứng cớ gì mà người mê thi-phú của Đức-Chí-Tôn quá chừng quá đổi, đến nước người thuộc lòng thi phú của Đức-Chí-Tôn rồi người họa lại với Đức Chí Tôn, người làm như mê man vậy.

    Bần-Đạo thì nhột nhạt, duy có sợ mà vâng mạng lịnh thi hành quyền giáo hóa của Đức-Chí-Tôn, còn người "Thi sĩ Bồng Dinh" họa theo đó mà ngâm, thiên hạ thấy tấn tuồng dị hộm tụ lại xem đông lắm, đằng trước ngay chính giữa để một cái bàn vọng thiên cầu Đạo, coi bộ dị-hộm lắm, Bần-Đạo mới gát hai tay lên cho đở mắc cỡ, vừa gát tay lên thì cái bàn quây gõ nói chuyện.

    Các Đấng Thiêng-Liêng đến không biết bao nhiêu, đến các vị Giáo-Chủ cũng xuống giảng dạy chúng ta và làm nhiều kiểu lạ lắm: cũng lúc này Đức-Chí-Tôn đã giáo hóa khá lâu, các Đấng Thiêng-Liêng cũng đến cùng Thượng-PhẩmHộ-Pháp, tuy mới mà đủ đầu óc có một đức-tin vững-vàng, đức tin ấy có thể nói rằng: tuy buổi ban sơ mà dường như khối óc đã thâm hiểu nhiều rồi; nên Đức-Chí-Tôn mới ra lệnh biểu làm một cái tiệc.

    Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Đấng vô hình, đãi 10 người: Đức Phật-MẫuCửu-Vị Tiên-Nương, phần hữu-hình có 3 người Thượng-Sanh, Thượng-PhẩmHộ-Pháp, sắp tiệc ấy do tay Bà Nữ Chánh-Phối-Sư Hương-Hiếu vâng mạng lịnh tạo thành một tiệc, trên bàn thờ Phật-Mẫu, ở dưới sắp 9 cái ghế cũng như có người ngồi vậy, chén, đũa, muỗng, dĩa, bất kỳ cái gì cũng giống như đải người hữu hình vậy, duy có 3 người có xác thịt là Thượng-Sanh, Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp.

    Bần-Đạo mới hỏi tiệc này là tiệc gì ? Ngài nói là Hội-Yến Diêu-Trì, Bần-Đạo nghe nói vậy thì hay vậy chớ không biết giá trị Hội-Yến là gì cả, nghĩ chắc cũng có ảnh-hưởng gì cần-yếu đến tương-lai của Đạo mà vâng lịnh thôi, chớ không hiểu nghĩa lý cho cùng cạn gì hết.

    Ba người sống đồng ngồi ăn, còn Bà Phối-Sư Hương-Hiếu gắp đồ ăn để vào chén cho 9 vị và trên bàn thờ cho Đức-Phật-Mẫu cũng như người sống kia vậy.

    Bần-Đạo còn nhớ một chuyện lạ lùng, lúc đó lấy làm kỳ quái không hiểu gì hết, giờ biết Đạo mới hiểu Đức-Chí-Tôn buổi nọ lấy một tên riêng đối với Bần-Đạo, bây giờ Bần-Đạo không dám nói lại, Ngài đến làm bạn cùng Thượng-PhẩmHộ-Pháp.

    Chừng Hội-Yến Diêu-Trì rồi các Đấng Thiêng-Liêng và các vị Giáo-Chủ ra từ giã (thăng) kế Đức-Chí-Tôn đến nhập cơ, Thượng-PhẩmBần-Đạo tọc-mạch hỏi: - Khi nãy Diêu-Trì-Cung đến có Ngài đến ở đó không?

    Đức-Chí-Tôn trả lời: - Có chớ, ta ở đây từ khi ban sơ đến giờ.

    - Ngài có thấy Diêu-Trì đến không ?

    - Có chớ, chính mình ta tiếp đãi !

    Cao Thượng-Phẩm hỏi: - Diêu-Trì-Cung ngó thấy Ngài không ?

    - Không ngó thấy.

    Cao Thượng-Phẩm hỏi: - Sao vậy ?

    Ngài trả lời: - Ta dùng phép ẩn thân.

    Bần-Đạo tọc mạch hỏi tiếp: - Như đứa em của tôi là Thất-Nương Diêu-Trì có thể đoạt đặng chăng?

    - Đoạt đặng chớ !

    Cao Thượng-Phẩm hỏi: - Phải làm sao ?

    Ngài nói: - Phải tu, bằng không tu thì chẳng đoạt đặng.

    Bần-Đạo hỏi: - Tu chừng bao lâu mới đoạt đặng ?

    Cái đó Ngài làm thinh, Bần-Đạo hỏi một năm, năm năm, một ngàn năm, mười ngàn năm, một trăm ngàn năm, Ngài cũng làm thinh, rồi thôi không hơi sức nào hỏi nữa, không biết chừng nào mới đoạt đặng, nghe vậy hay vậy, các vị Nữ Phái rán nhớ Diêu-Trì-Cung, Bần-Đạo có giải nghĩa Hội-Yến Diêu-Trì là gì rồi đó.

    Toàn Thánh-Thể Đức-Chí-Tôn và con cái của Ngài rán để ý cho lắm: Từ khi Đạo bị bế Ngọc-Hư-Cung bác Luật, Cực-Lạc Thế-Giái thì đóng cửa nên chúng sanh toàn cả Càn-Khôn Vũ-Trụ có tu mà thành thì rất ít, bởi phương pháp khó khăn lắm, muốn đoạt Pháp không phải dễ.

    Cổ-Pháp định cho các chơn hồn về nơi Diêu-Trì-Cung hưởng được Hội-Yến Bàn-Đào tức là hưởng được Hội-Yến Diêu-Trì, ăn được quả Đào-Tiên, uống được Tiên-Tửu mới nhập vô cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống gọi là Nhập Tịch. Ôi thôi ! Từ thử đến giờ có ai đặng hưởng, nếu có đặng hưởng cũng một phần rất ít.

    Giờ phút này Đức-Chí-Tôn quyết-định tận độ con cái của Ngài, thay vì Bí-Pháp ấy độ con cái của Ngài ở nơi Kim-Bàn đặng hưởng đặc ân Thiêng-Liêng của Đức-Chí-Tôn, Đức-Chí-Tôn buộc Phật-Mẫu phải đến tại mặt thế gian này để Bí-Pháp Hội-Yến Diêu Trì tại cửa Đạo này cho con cái của Ngài giải-thoát, ấy là một Bí-Pháp Thiêng-Liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng.

    Hôm nay là ngày Phật-Mẫu đem Bí-pháp đặng giải thoát chúng sanh, tận độ toàn Vạn-linh sanh chúng, Ngài để tại mặt thế này trong cửa Đạo này mà thôi, hôm nay ngày Lễ của Ngài mà cũng là ngày trọng hệ trong cửa Đạo; xin toàn cả con cái của Ngài nhớ và để nơi tâm mình, bởi thế năm nào Bần-Đạo cũng để ý đến Lễ của Ngài hơn hết, từ tạo thiên lập địa đến giờ chưa có ai hưởng được thời kỳ này, Ngài đến tại mặt địa-cầu 68 này đặng tận-độ con cái của Ngài.

    Chúng ta phải chiêm ngưỡng ơn vô biên vô tận của Ngài, chúng ta phải chiêm nghiệm Lễ này để làm mật niệm cám ơn Đức-Chí-Tôn và Phật-Mẫu ấy là Bí-Pháp của chúng ta đó vậy.

  • Sermon 14: Why does God only teach Hộ Pháp about esotericism ?

    Sermon 14: Why does God only teach Hộ Pháp about esotericism ?

    Lunar Calendar: 1st Day of the 9th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: October 22nd 1949

    I have promised to preach esotericism on the days of Sóc Vọng [35], so today I begin to talk about it. I have to elaborate on some points so that all of God's children can understand the significance of esotericism.

    First, I will talk about the fact that God establishes Caodaism for the salvation of all living beings, to achieve that goal, God assigned the Hộ Pháp [36] to incarnate in the world and then used the Cơ Bút (psychic pen) to teach him about esotericism. (some friends of mine in Hiệp Thiên Đài [37] wonder why God taught only the Hộ Pháp and not all of His children!).

    This salvation is actually an examination for all souls in the universe to regain their divine status in heaven after each chuyển (a religious era), God calls it the examination of meritmaking, during which God assigned Hộ Pháp and Thập Nhị Thời Quân [39] to the world in order to open the door to esotericism – this will permit people to attain enlightenment.

    Remember that before the Creation, God wanted Vạn-Linh (all souls) to unite with Nhứt-Linh (God), as soon as God (Buddha) thought this He has held the Pháp (Dharma), then using the Pháp, God created beings and things (the Sangha).

    Thus, Pháp is the master of Vạn-Linh or the material world, that is why traditional religions say that the Hộ Pháp has authority over Tam Châu Bát Bộ (the full title is Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn).

    Tam Châu [42], including Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu and Nam Thiệm Bộ Châu are controlled by the Hộ Pháp, the last of the set Tứ Đại Bộ Châu [43], which is Bắc Cù Lưu Châu - this is for evil spirits only; they are there to make atonement and morally perfect themselves for a divine status, the Hộ Pháp is responsible for instructions within the Tam Châu but he lets evil spirits do whatever they want in Bắc Cù Lưu Châu.

    Bát Bộ is the eight categories of soul: these are the souls of material things, vegetation, animals, humans, gods, saints, immortals and buddhas, the Hộ Pháp also takes charge of the promotion of the divine positions for these eight categories of souls.

    How happy mankind is! How happy all beings are! God has granted humanity on this 68th planet a great privilege, but why did God assign the Hộ Pháp to this task? Truthfully, without esotericism, Caodaism has nothing but a completely fake power, if we practice Caodaism without achieving the ultimate goal, we cannot escape the cycle of reincarnation.

    Consequently, we only waste our present incarnation, the Hộ Pháp comes to the world for the promotion of all kinds of souls, a soul can be promoted by one level, for example from a material thing to a piece of vegetation, even to a buddha, that is what the Hộ Pháp is assigned to do, however, God says, "The greater the authority, the more serious the punishment", the Hộ Pháp and Thập Nhị Thời Quân have such authority not only on this planet but also in eternal life.

    Now I think we should figure out the relationship between God and humans, seeing what God told us to do and what we have done so far, God wants us to be His visible body or the Caodaist Sacerdotal Council, to put it another way, we work for God to save all living beings, how does God pay us? He shows the way of liberating our souls and grants us divine status.

    God requires us to offer up our three treasures: Tinh, Khí, Thần (body, mind and soul), only with those treasures can God establish the Caodaist Sacerdotal Council, God uses flower, wine and tea to represent our body, mind and soul respectively, to tell you the truth, these are the only things we possess that can be considered of worth.

    It is interesting to note that God tells us to offer our Tinh, Khí, Thần every day, but we offer only Khí and Thần, Tinh is only offered in Tiểu Đàn (a lesser ceremony) or Đại Đàn (a major ceremony), God knows for sure that we cannot control our body, so He does not insist on it, He allows the body to decide what to do, what mercy our God has for us!

    Next time I will talk about our mind and soul.


    [35] Sóc - the first day of a lunar month. Vọng - the 15th day of the lunar month.
    [36] Dharma Guardian (lit.) the leader of the Caodaist Judicial Body.
    [37] The Caodaist Judicial Body.
    [39] The Twelve Zodiacal Lords, the twelve senior dignitaries under the Caodaist Judicial Body who are said to have been ordained by God.
    [42] The three divine continents.
    [43] The Four Great Continents (lit.), which is said to be a realm in heaven, according to Caodaism.
    Vietnamese source

    14. Âm Lịch: đêm 1 tháng 9 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 22-10-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Tại sao Đức Chí-Tôn chỉ giáng bút truyền Bí-pháp cho Hộ-Pháp ?

    Bần-Đạo hứa mỗi kỳ Sóc-Vọng thì thuyết Bí-Pháp, hôm nay Bần-Đạo khởi thuyết về Bí-Pháp, có nhiều yếu tố Bần-Đạo phải minh bạch ra cho toàn con cái của Đức-Chí-Tôn hiểu cái sơ-yếu của Bí-Pháp đối với ta và đối với Đức-Chí-Tôn.

    Bần-Đạo khởi giảng cho hiểu tại sao Đức-Chí-Tôn mở Tam-Kỳ Phổ-Độ gọi là mở Cơ-quan tận độ chúng sanh ? Đức-Chí-Tôn sai Hộ-Pháp giáng thế; tại sao Ngài không dùng cơ bút để truyền Bí-Pháp cho con cái của Ngài; Ngài chỉ giáng bút truyền cho Hộ-Pháp mà thôi, vì cớ cho nên bạn của Bần-Đạo nơi Hiệp-Thiên-Đài có lắm người thắc mắc về vụ đó.

    Không có lạ chi; mở cơ-quan tận độ chúng-sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam Chuyển tái phục Thiêng-Liêng vị nơi cảnh vô hình; mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa-mục của các Đẳng Chơn-hồn cần phải thi đặng đoạt vị: Thăng hoặc Đọa.

    Bởi cớ cho nên Đức-Chí-Tôn gọi là trường thi công-quả là vậy, Đức-Chí-Tôn cho Hộ-Pháp và Thập-Nhị Thời-Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí-Pháp ấy đặng cho Vạn-Linh đoạt vị, cả thảy đều hiểu rằng Đức-Chí-Tôn buổi mới sơ khai chưa tạo thiên lập địa, Ngài muốn cho Vạn-linh đặng hiệp cùng Nhứt-Linh của Ngài do quyền-năng sở-hữu của quyền hạn Thần-Linh.

    Ngài vừa khởi trong mình quyết-định thi-hành điều ấy thì Ngài nắm cái Pháp, trước Ngài chỉ là Pháp, vì cớ cho nên ta để Phật tức nhiên là Ngài; kế thứ nhì là Pháp hễ nắm Pháp rồi Ngài phán-đoán vạn-vật thành hình; Ngài muốn vạn-vật thành hình tức nhiên Tăng, cả Vạn-Linh đều đứng trong Tăng.

    Ấy vậy, Pháp là chủ của Vạn-Linh, bởi do nơi Pháp, Vạn-Linh mới chủ tướng biến hình do nơi Pháp, mới sản xuất Vạn-Linh, cả huyền-vi hữu-hình Đức-Chí-Tôn tạo Đạo do nơi Pháp, chúng ta biết Pháp thuộc về hình-thể của Vạn-Linh, vì cớ cho nên Đạo-Giáo minh tả rõ-rệt Tam Châu Bát-Bộ thuộc về quyền Hộ-Pháp. (Tam-Châu Bát-Bộ Hộ-Pháp Thiên-Tôn).

    Tại sao gọi Tam-Châu Bát-Bộ là: Đông Thắng Thần-Châu, Tây-Ngưu Hóa-Châu, Nam Thiện Bộ-Châu, đều thuộc quyền hạn của Hộ-Pháp, còn Bắc-cù Lưu-Châu để cho các phẩm chơn hồn Quỷ vị nó định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó, nó có một quyền năng vô định chẳng cần chỉ giáo; để đặc biệt một châu cho quỷ vị ăn năn tu học đặng đoạt vị; ba bộ châu kia thuộc quyền hạn Hộ-Pháp giáo-hóa, duy có Bắc-Châu Ngài không thường ngó tới lắm, để cho nó tự-do làm gì thì làm, khôn nhờ dại chịu.

    Bát-Bộ là gì ? là nơi Bát Phẩm chơn-hồn chớ có chi đâu, tám hồn là gì: là Vật-Chất hồn, Thảo-Mộc hồn, Thú-Cầm hồn, Nhơn-hồn dĩ chí cho đến Thần, Thánh, Tiên, Phật, tám bộ ấy thuộc về quyền hạn Hộ-Pháp, thiên vị nơi Đức-Chí-Tôn gọi đến tạo cơ-quan tận độ chúng-sanh không còn ai khác hơn Hộ-Pháp, chính Hộ-Pháp trách-nhiệm ấy.

    Hạnh-phúc thay cho nhơn-loại! Hạnh phúc thay cho Vạn-Linh! Đức-Chí-Tôn đã đem một hồng-ân tối đại để nơi mặt địa-cầu 68 này, tại sao Đức-Chí-Tôn giao cho Hộ-Pháp ? Bần-Đạo nói thật giờ phút nào Bí-Pháp duy-chủ quyền Đạo là giả tướng mà thôi, không có chơn thật gì hết, nếu chúng ta tu mà không đoạt Pháp được tức nhiên chúng ta không giải thoát đặng, thì kiếp tu chúng ta không hữu-ích chi hết.

    Hộ-Pháp đến cốt yếu đem Bát-Phẩm chơn-hồn thăng vị: nhiều hoặc ít, có thể một đẳng cấp từ Vật-Chất, Hộ-Pháp đem lên Thảo-Mộc, Thảo-mộc đem lên Thú-Cầm, Thú-Cầm đem lên Nhơn-Loại dĩ chí Phật-Vị, Hộ-Pháp có thể chỉ định cho họ đặng.

    Bởi trong quyền ấy Đức-Chí-Tôn nói trọng quyền thì trọng phạt, quyền hành nắm chẳng phải nơi mặt thế gian này mà thôi, Hộ-Pháp và Thập-Nhị Thời-Quân, không phải quyền tại thế gian này, quyền nơi cửa Đạo Cao-Đài này, cũng không phải tại đây nữa, Bần-Đạo nói đây là quyền Đạo Cao-Đài cả Thiêng-Liêng Hằng Sống.

    Cao-Đài Đại-Đạo cảnh vô hình kia y như lời tiên tri của Công-Giáo tức nhiên Thiên-Chúa-Giáo nói: Trên nước Thiêng-Liêng Hằng Sống kia Đức-Chí-Tôn gần đến và đã đến, đến thời buổi này; ấy vậy, bây giờ chúng ta tìm coi cái tương-liên chúng ta đối với Đức-Chí-Tôn, Đức-Chí-Tôn biểu chúng ta làm gì, và chúng ta đã làm gì ?

    Đức-Chí-Tôn muốn ta làm thi hài hữu hình của Ngài, tức nhiên Ngài đến lập Thánh-Thể của Ngài là Hội-Thánh, Hội-Thánh của Ngài để thay hình ảnh cho Ngài, muốn thay hình ảnh cho Ngài thì phải đổi cho Ngài cái gì ?

    Ông đem cơ giải thoát, đem phẩm vị Thiêng-Liêng cho chúng ta, đem tận nơi tay cho chúng ta đặng chúng ta định vị; rồi Ổng đòi chúng ta đổi chọn cái gì ? Ổng đòi chúng ta đem đổi ba món Báu là "Tam-Bửu" là Tinh, Khí, Thần, cái liên-quan mật thiết Tinh, Khí, Thần là gì ? Đối với thi-hài chúng ta nó bảo-trọng thế nào mà Đức-Chí-Tôn đòi đó mà thôi ?

    Nếu không có nó chẳng hề khi nào Đức-Chí-Tôn tạo thành Thánh-Thể của Ngài đặng, Ngài lấy ba cái vật tỷ như: ba món báu trong mình chúng ta:

    • Hoa, Ngài tỷ như thân-thể chúng ta;
    • Rượu, Ngài tỷ như trí-thức tinh-thần khôn-ngoan của chúng ta;
    • Trà, Ngài tỷ như linh-hồn của chúng ta,
    mà thật ra trong mình của chúng ta có ba món ấy là báu mà thôi.

    Ngộ-nghĩnh thay chúng ta nên để ý điều này, Đức-Chí-Tôn biểu chúng ta mỗi ngày phải dâng ba món ấy: ba món trọng hệ hơn hết là Tinh, Khí, Thần. Thường ngày chúng ta chỉ lấy Khí, Thần dâng mà thôi, còn Tinh thì Tiểu-Đàn hay Đại-Đàn mới có, Ngài biết rõ thi-hài của chúng ta chẳng phải chúng ta làm chủ nếu đòi quả-quyết nó thì nó đi đặng phụng-sự cho Vạn-Linh thì không có làm gì được, nên Ổng không buộc mà để cho nó có quyền tự-do định-phận của nó.

    Nội bao nhiêu đó chúng ta cũng ngó thấy cái lòng Đại-Từ Đại-Bi của Ngài đến thế nào, thể-chất kia mà Ngài không ràng buộc không ép bức để cho nó định phận, tưởng coi ai có nhân từ đến mức đó không ?.

    Kỳ tới Bần-Đạo sẽ giảng tiếp về trí-não và tâm-hồn như thế nào.

  • Sermon 15: Harmonization between Spiritualism and Materialism

    Sermon 15: Harmonization between Spiritualism and Materialism

    Lunar Calendar: 30th Day of the 10th Month, Year of the Buffalo.
    Gregorian Calendar: December 12th 1949

    Tonight, I stop discussing esotericism, I will explain to you the reason why.

    Our society is now descending into chaotic because of the fight between materialists and idealists, we Caodaists, dignitaries and believers, belong to God's holy body (the Caodaist community).

    By His love, God grants us divine status here on earth, God tells us to sign the Third Covenant, showing the spirit of love and justice on behalf of God, so we have to help unite Vạn Linh (all living beings) and Nhất Linh (the soul of God or God), our assignment is to help secular and religious communities harmonize with each other.

    Materialism shapes the way of life in secular communities while idealism affects that of religious communities, logically, we should support idealists due to our religious beliefs, but in this we should not be heavily biased.

    Having pondered, we determine that Caodaism needs no supernatural powers for its system of belief, we only need to preach its true philosophy to the world, since lies have made a terrible mess around the world, we do not need to move with the times anymore. Additionally, as the peacekeeper between materialists and idealists, we'd better not take advantage of any supernatural strength to overcome the power of evil which is dominating the human spirit, it is rumored that some evildoers are planning to devalue God's religion (Caodaism), frankly, it is not easy to beat those evil doers.

    It is that I have a supernatural power which easily strengthens people's belief in God, but I never use it because I consider it immoral and cowardly to do so, I firmly believe this, so I must stop preaching about esotericism, I just want to be a friend to you, not a leader in the Caodaist community, I do not even accept the title of Buddha, which God has granted me, hence there is no need to have a supernatural power in Caodaism, I promise to give you Caodaists good religious instructions only.

    Now, I'd like to talk about the significance and enjoyment of human life, born to be a human in this world, we should thoroughly know what our life is and how interesting it is, since prehistory mankind has been trying to understand it, so lots of religions have been founded.

    Generally, there are two major lifestyles, some people follow materialism while others adopt idealism, there has been a constant conflict between the two groups. Studying human history, we know such conflicts are due to the different ideologies that have been developing throughout the ages of the world.

    In ancient Europe, Socrates' belief turned prominent Athenians against him and they accused him of wrongdoing, in a trial he was sentenced to death by drinking hemlock. Before drinking the poisonous mixture, he calmly said goodbye to his friends: - Beyond this world, there is eternal life, I firmly believe that, so I've been looking forward to my death because it is then that I can talk to philosophers.

    While dying, he was asked what he would do and where he would go after death. He smilingly answered: - I don't know whether I would be the Lord reigning the universe or just the leg of a grasshopper, I will be whatever God decides.

    Mastering the essence of Bát Quái Đồ [48], Laotzu [49], retreated to Côn Lôn Sơn [50]. When asked if he would be happy there, he replied: - My knowledge gives me my own enjoyment of life, which cannot be explained to everyone".

    When Confucius [51] resigned from the government and returned home to preach to his adherents, lots of people considered it a disaster. Actually, it was when he had worked as a mandarin that was really his time of dissatisfaction, the happiest time was when he lived a moral life with his 72 sages and 3,000 followers.

    Conversely, Tần Thủy Hoàng [52], the most powerful and cruelest Chinese emperor, had everything except immortality, he was so obsessed with acquiring it that he was fooled by many cunning medicine men into drinking weird elixirs, eventually, he died, of course, like everyone else.

    Napoleon Bonaparte had the opportunity to become Emperor of the French and he conquered all of Europe, but he died in loneliness in prison on the island of Saint Helena in the Atlantic Ocean.

    The richest King was Louis XIV - known as the Sun King (Le Roi Soleil), he was the most admired man in all Europe in his time but he could not prevent death - not even with his innumerable and loyal guards, most of his heirs had died before him, so his only heir was his great grand-son.

    Like a tiger, a cruel dictator can scare other people, but he will never win the people's hearts, on the contrary, a whale always saves fishermen, so whales are usually worshipped in temples in fishing villages, the former is materialistic and the latter idealistic, seeing that, you Caodaists must think twice, deciding what way of life is the best for yourselves.


    [48] Bagua or the Eight Trigrams.
    [49] An ancient Chinese philosopher, the founder of Taoism.
    [50] Kunlun Shan, a mountain in Chinese mythology.
    [51] Chinese philosopher, the founder of Confucianism.
    [52] Qin Shi Huang or Shihuangdi, was the founder of the Qin dynasty and was the first emperor of a unified China.
    Vietnamese source

    15. Âm Lịch: đêm 30 tháng 10 Năm Kỷ-Sửu.
    Dương Lịch: 12-12-1949
    Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
    Chúng ta phải giữ công-chánh dung-hoà giữa Duy-tâm và Duy-vật (Tâm vật bình hành)

    Hôm nay Bần-Đạo đình thuyết Bí-Pháp; cái nguyên do như thế nào Bần-Đạo xin biện ra.

    Vả chăng chúng ta ở trong hoàn-cảnh náo nhiệt, vì hai thuyết Duy-Tâm và Duy-Vật đương chiến-đấu với nhau, chúng ta dầu Chức-Sắc Thiên-Phong hay là mấy em Nam Nữ Lưỡng-Phái cũng thế, là một phần tử trong Thánh-Thể Đức-Chí-Tôn, Ngài đã tạo tinh-thần cho chúng ta vì sự thương yêu của Ngài nên Ngài lập Thiên-vị tại mặt thế này cho con cái thương yêu của Ngài, Ngài biểu chúng ta ký hòa-ước với Ngài để thay thế hình ảnh cho Ngài, đem hết tinh thần từ-bi công chánh của Ngài đối đãi với Vạn-Linh tức nhiên chúng ta phải thay thế hình-ảnh cho Ngài, dung hòa Vạn-Linh hiệp với Chí-Linh, tức nhiên Ngài cho chúng ta cái sứ-mạng để dung-hòa Đời với Đạo.

    Cái lý thuyết Duy-Vật, là cái lý thuyết sống của Đời, còn cái lý-thuyết Duy-Tâm phải chăng là cái sống của Đạo, đáng lý ra chúng ta phải tùng bên mặt Duy-Tâm thì phải ? Bởi chính mình chúng ta có sứ mạng thay-thế duy-chủ của Duy-Tâm tức nhiên chúng ta phải ngã bên mé Duy-tâm hơn hết, vì đã có ký hòa ước với Đấng Chí-Linh kia giữ công-chánh đặng dung hòa tinh-thần Đời và Đạo, vì mức sống ấy chúng ta không nên nghiêng đổ đó vậy.

    Chúng ta tìm-tàng, chúng ta định ngược lại là có cái lý do này Đạo Cao-Đài không cần dùng mê-tín dị-đoan làm cho sự tín-ngưỡng được mạnh-mẽ của nó, không cần !!! ngược lại, Đạo Cao-Đài đem hết triết-lý chơn thật để tại mặt thế này mà thôi.

    Bởi vì dối-trá dầu cho Đạo hay Đời, trường dối-trá ấy đã làm cho cơ thể Tạo-Đoan nghiêng-ngửa; chúng ta không cần xu-hướng theo cái dối trá thường tình nữa, chúng ta phải tiêu-diệt cái sự dối trá. Lại nữa, trong hoàn-cảnh chúng ta đương làm trung-gian dung-hòa cho Đạo và Đời chúng ta chẳng nên mượn thế-lực mê-tín dị-đoan để làm khiếp phục, đặng quyết thắng tà quyền đương làm tinh-thần loài người điên-đảo, một trường ngôn luận xì xào đã kiếm thế hèn tiện của thiên hạ đặng tính tạo thành một phản động lực đặng làm mất giá trị một nền Tôn-Giáo của Đức-Chí-Tôn.

    Bần-Đạo nói thật muốn đánh tiêu cả sự dối trá gian ngược ấy chẳng phải dễ, người có thể làm cho thiên hạ mê tín dị đoan được là Bần-Đạo mà Bần-Đạo không làm, bởi vì Bần-Đạo coi sự làm ấy hèn tiện và vô Đạo-Đức.

    Bần-Đạo chỉ lấy một cái triết lý chơn thật của Đức-Chí-Tôn để giáo Đạo cho con cái của Ngài mà thôi, Bần-Đạo duy muốn làm bạn với con cái của Ngài, nên phẩm vị Phật sống của Đức-Chí-Tôn để cho Bần-Đạo mà Bần-Đạo chưa có ngồi, ấy vậy, mê-tín dị-đoan trong cửa Đạo Cao-Đài không có và không cần có, quả quyết hẳn vậy, nên đình lại, đình Bí-Pháp Chơn-truyền, nếu thuyết ra là lấy cái quyền-năng mê-tín dị-đoan mà thắng thiên hạ là một điều hèn nhát nên Bần-Đạo không dùng, Bần-Đạo hứa chắc sẽ giáo hóa cho con cái của Đức-Chí-Tôn mà thôi.

    Bây giờ Bần-Đạo xin thuyết ý vị và cái nghĩa lý sống của con người; vả chăng chúng đến với một phần xác ở tại thế này, chúng ta phải biết cái sống của nó ý vị gì ? Đã sanh đứng làm người tại mặt thế này, chúng ta nên tìm hiểu cho thấu đáo cái ý vị cái sống ấy và nghĩa lý của nó có thế nào trước cái đã, vì thế mà từ Thượng-cổ đến giờ tinh-thần loài người vẫn đeo đuổi mãi mà thôi, vì cớ cho nên tượng trưng các hình-tượng, các nền Đạo, các Tôn-Giáo.

    Chúng ta quan-sát cả triết lý cái sống phải có lý do nào ? Sống đương nhiên của chúng ta có hai sống:

    • 1) Sống về vật-chất mà nói rõ ra là sống về phương-pháp thú chất.
    • 2) Sống về tinh-thần tức-nhiên sống về cái phương-pháp hiển hách anh linh của nó.

    Chúng ta thấy hai cái quyền-năng ấy nó tương tranh với nhau mãi mãi mà thôi, vì cớ cho nên mới nảy sanh ra hai thuyết: Duy-Tâm và Duy-Vật, chúng ta thử giở lịch-sử của loài người thì chúng ta biết loài người như đã nói cái thuyết kia là phải "Connais toi, toi même" nghĩa là người biết người hơn hết, mình biết mình đặng chi ? Đặng tìm tàng cho thấu đáo cái nghĩa-lý sống của mình.

    Chúng ta ngó thấy Thượng-Cổ, bực cổ-nhân là hàng vĩ-nhân, dân Âu-châu thì có "Socrate" cũng do thời đại nhơn-sanh đó, chính Ngài lấy thuyết Đấng Chí-Linh trong Càn-Khôn Vũ-Trụ cái thuyết làm cho các phản động-lực coi Ngài như kẻ thù-nghịch, đến nước cái quyền năng buổi nọ mạnh-mẽ thế nào, chúng tử-hình Ngài cho Ngài lấy chén thuốc độc mà tự-tử.

    Khi giam Ngài trong ngục Ngài có phương-thế hội-đàm với các nhà triết-học, tới giờ chót chúng đem chén thuốc độc đưa trong tay của Ngài biểu Ngài uống, Ngài bưng chén thuốc độc ấy để từ giả các bạn của Ngài mà Ngài nói như nói chơi vậy, Ngài nói: "- Tôi biết rằng ngoài cơ thể tạo đoan này của Đời này, nó còn các cơ-quan vô hình tối trọng kia, tôi quả-quyết rằng có, thì cái chết ta mong lắm chớ, giờ phút ta cầm chén "Suré" này ta uống, thì ta sẽ được hội hiệp với các vị hiền triết, được làm bạn với họ thì có gì hơn". Nói rồi Ngài bưng chén "Suré" Ngài uống.

    Giờ chết của Ngài, giờ ngặc mình của Ngài, thì môn-đệ của Ngài hỏi: "- Ngài chết đây rồi Ngài sẽ đi đâu hay sẽ làm gì ?"

    Ngài cười nói: "- Ta chưa biết ta sẽ làm Chúa cả cơ-thể Tạo-Đoan này để điều-đình cả cơ-quan vĩ-đại của Càn-Khôn Vũ-Trụ hay ta sẽ làm chân của con châu-chấu ? Dầu thế nào cũng có Đấng cầm mực thước định cho ta làm cái gì thì ta làm cái nấy". Cái chết đối với Ngài không có nghĩa lý gì hết.

    Đức Lão-Tử khi đoạt được bí-mật của Bát-Quái-Đồ rồi Ngài từ giả nhà Châu, Ngài về Côn-Lôn-Sơn mà an nghỉ, môn đệ của Ngài hỏi: "- Ngài về Côn-Lôn-Sơn để làm gì ? Có hạnh-phúc hay không ?"

    Ngài trả lời: "- Duy có cái biết cuả ta mà đã làm cho ta có thú vị sống đặc biệt, không cần nói rõ hạnh phúc ấy ra thế nào, nhưng ta chỉ nói rằng cái biết cuả ta nó làm cho ta hưởng thú-vị an vui của cái sống ấy".

    Đức Khổng-Phu-Tữ từ giả quan trường về giáo đạo dạy các môn-đệ của Ngài, thiên hạ gọi là vô phước mà cảnh thiệt vô phước của Ngài là lúc Ngài làm quan cho nhà Châu, làm quan cho nước Tề, nước Yên và lúc châu lưu trong lục quốc. Bây giờ sống với Thất-Thập Nhị-Hiền, Tam-Thiên Đồ-Đệ của Ngài, là Ngài hạnh-phúc hơn hết, vì Ngài biết cái thú vị cái sống của Ngài thế nào; cái sống của Ngài vui về Đạo mà thôi.

    Giờ trái ngược lụng lại sống, chúng ta ngó thấy trước kia sống của Tần-Thủy-Hoàng, sống của Sở-Bá-Vương hai tay trắng lập nên nghiệp đế đè nén cả tinh thần dân chúng buổi nọ, vị chúa của họ sanh sát tàn ác không có điều gì mà họ không làm, quyền hành của họ tàn ác lắm.

    Cái sống của Tần-Thủy-Hoàng thế nào, dòm lụng lại cái chết rồi Ngài than: "- Các tài tình thâu nghiệp để ta thắng được duy có cái chết ta thắng không được". Vì thế mới cho người đi kiếm thuốc trường-sanh bất-tử, mê-tín đến nước người ta cho ăn "dương khí ngựa" (nước dái con ngựa) mà cũng ăn nữa, ăn đặng sống mà anh ta cũng chết.

    Nã-Phá-Luân đã được cơ-hội làm nên nghiệp-đế, hồi buổi đó làm cho toàn cõi Âu-Châu các nước chư-hầu đều cúi đầu hết thảy, đến chừng chết, chết trong ngục Ile de Saint Hélène.

    Ông Vua giàu có sang trọng hơn hết là Louis XIV (Louis 14) thiên hạ thế-kỷ đó cho là Ông Vua Trời (Le Roi Soleil) cả thiên-hạ đều tùng-phục kính-trọng, kiêng-nể. Âu-Châu buổi nọ có thể nói Ngài là một vị bá-chủ của thiên-hạ không có cái gì mà anh ta không có "Tứ-Hải Phú-Hữu" sang trọng vô-biên có một điều là đền Vua của Ngài "Palais Louis 14" quân lính canh tuần bảy vòng mà ngăn cấm cái chết vô trong hoàng gia của Ngài không đặng; chết cả con cháu của Ngài cho đến nỗi gần hết trong hoàng-gia, rốt chuyện Ngài truyền Ngôi báu lại cho đứa cháu nội mà thôi.

    Ngài than:"- Hại thay! hoàng thành của ta mấy vòng canh nghiêm nhặc mà nó không cản được cái chết đến nhà ta".

    Chức vị sang trọng của mình sống như con cọp vậy, bắt được thịt ăn cho đã rồi nằm ỳ ra đó ngủ mà chúng cũng kiên cũng sợ nhưng chúng chưa biết thương; sống như con cá Ông không ai thấy mà chiếc ghe nào chìm thì có người ta đỡ, cái sống con cọp không có ai thờ, còn cái sống của con cá Ông có người ta thờ.

    Hai cái sống đặc biệt ấy là cái sống Duy-Vật và cái sống Duy-Tâm, Bần-Đạo tả ra cho con cái của Ngài lấy đó mà suy gẫm.

  • References

    References


    Translators:

    • Dr. Christopher Hartney
    • Từ Chơn
    February 8th 2018
    Source: https://sites.google.com/site/caodaismmeditation/Home

    References:
    • Wikipedia
    • Cao Đài Tự Điển - HT Nguyễn văn Hồng
    • Caodaipedia - Lê kim Liên & Từ Chơn
    • Từ điển Việt Nam - Hội Khai Trí Tiến Đức
    • Từ điển Hán Nôm - Thiều Chửu
    • Bí Pháp - HT Nguyễn văn Mới, ban Tốc Ký Toà Thánh Tây Ninh.