Results from 1 to 88 results
Page :   Results per page:  
7. Quan niệm Linh Hồn theo Phật Giáo?
ID027767 - Category: Chương 🖶 Print this Chương
Phần : II. Quan niệm Linh Hồn theo các tôn giáo
Sách : 54 Câu Hỏi Đáp Về Linh Hồn và Con Nguời
Tác Giả : Tùng Thiên Từ Bạch Hạc

7. Quan niệm Linh Hồn theo Phật Giáo?

Đức Phật, tuỳ căn cơ tùng đệ tử đã tiến hành song song hai phương pháp giảng giáo: Đối với quần chúng Ngài dạy Hiển Giáo hay Quyền Giáo, tức là dạy về phần Hình, Danh, Sắc, Tướng của vũ trụ và của con người.

Còn đối với những đệ tử có thượng căn, Ngài dạy Mật Giáo hay Thực Giáo, tức là dạy về Chân Tướng vũ trụ và con người.

Ngài cho thấy rằng: Dưới những lớp lang hiện tượng biến thiên của vũ trụ và của tâm thân con người, sinh sinh diệt diệt, khổ ải lao lung, biến thiên, còn có Chân Tâm hằng cửu của trời đất, bất sinh, bất diệt.

Trong suốt đời Đức Phật, Ngài đã tránh né không trả lời, hoặc không đưa ra một lập trường dứt khoát về những vấn đề triết học trọng đại như:

- Vũ trụ vô hạn hay hữu hạn?
- Vũ trụ có vô thỉ vô chung?
- Con người có Ngã hay không có Ngã.

Đối với những vấn đề trên, Ngài thường hoàn toàn yên lặng, khi có người chất vấn. Sự yên lặng của Đức Phật được hiểu như đó là những vấn đề "bất khả tư nghị". (Chữ Sanskrit dùng để chỉ bất khả tư nghị là Avyakata hay avyakrtavastuni).

Yên lặng sẽ tránh được tranh chấp, tuy nhiên yên lặng không có nghĩa là phủ nhận, cũng không có nghĩa là tán đồng.

Trong quyển Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, nơi trang 199-200, ta thấy bác sĩ Kimura Taken nhận định như sau:

Bây giờ nếu đem tất cả những điều đã trình bày ở trên mà nghiên cứu một cách thấu triệt, thì ít nhất mọi người phải thừa nhận những sự thực sau đây:

· Vạn hữu tuy là lưu chuyển, song trong cái lưu chuyển đó vẫn có cái phép tắc thường hằng.
· Trong lưu chuyển giới này vẫn có Niết Bàn giới thường hằng bất biến.
· Dù là Lưu chuyển giới hay Niết Bàn giới, nếu truy nguyên ra, thì rốt ráo cũng chỉ là cái tâm của chúng ta.
· Sau hết cái chân tướng kể trên chỉ được nhận ra khi nào chính trí và chính niệm đã xa lìa sự thiên kiến và chấp kiến...

Bà Rhys Davids, một học giả lỗi lạc về Tiểu Thừa, và thông thạo tiếng Pali, đã chứng minh rằng Đức Phật không bao giờ dạy rằng Chân Tâm là hư ảo, hay Atman là hư ảo, mà chỉ dạy rằng không thể tìm thấy được Chân Thường Hằng Cửu, hay Chân Tâm, Chân Ngã, trong cái tâm thân phiến diện, kết cấu bởi Ngũ Uẩn.

Bà Rhys Davids và ông Humphreys đã chứng minh rằng trong Tạng Kinh viết bằng tiếng Pali, nhất là trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada), Đức Phật đã dạy con người có hai thứ Ngã: Đại Ngã và Tiểu Ngã, và không hề dạy rằng Đại Ngã hay Atman là hư ảo.

Bà Rhys Davids và ông Humphreys cho rằng thuyết An-atta (không có Ngã = Not Self) là do một sự hiểu lầm của nhiều người theo Tiểu Thừa, hay Nguyên Thủy.

Bà Rhys Davids chủ trương dứt khoát rằng:

– Đức Phật không nói rằng không có Đại Ngã, mà chỉ nói rằng Đại Ngã không phải do Ngũ Uẩn cấu tạo nên, Đại Ngã không phải là thân là ý, mà Đại Ngã siêu xuất lên trên Ngũ Uẩn, lên trên thân ý.

– Đức Phật chấp nhận cái tinh hoa của Bà La Môn giáo, chấp nhận Đại Ngã (Atman) nội tại là lý tưởng cuộc đời, và dạy làm thế nào để đạt tới Atman nội tại, thực hiện Atman nội tại. Ngài cho rằng phương pháp để đạt tới Atman nội tại là giới, định, tuệ, chứ không phải là hình thức lễ nghi bên ngoài.

Bà dịch mấy câu quan trọng sau đây trong kinh Mahaparanibbana Sutta (Đại Niết Bàn) 11-13:

Attadipa viharatha attapatisarana. Dhammadipa viharatha, dhamma patisarana, n'anna patisarana

«- Các thày hãy lấy Đại Ngã là đuốc sáng, lấy Đại Ngã làm nơi nương tựa, hãy lấy Giáo luật (các định luật thiên nhiên, vĩnh cửu) làm đuốc sáng, làm nơi nương tựa, chứ đừng cậy trông chi khác.»

Bà Rhys Davids là một người rất giỏi tiếng Pali, và đã để cả đời nghiên cứu về Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) mà chủ trương chính yếu là không làm gì có "hồn vĩnh cửu".

Bà đã lẩy ra rất nhiều đoạn kinh Tiểu Thừa để chứng minh rằng Đức Phật không hề dạy rằng Chân Ngã con người là hư ảo, mà chỉ dạy rằng không thể tìm thấy Chân Ngã đó, không thể tìm thấy được Chân Thường hằng cửu, trong cái thân phiến diện kết cấu bởi Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, bởi Ngũ Uẩn biến thiên.

Bà Rhys Davids tóm tắt sứ mạng của Đức Phật như sau:

«Ngài bắt đầu sứ mạng Ngài bằng cách khuyên mọi người tìm cho ra Chân Tâm, Chân Ngã (Atman), sau đó kết thúc bằng lời chỉ dạy con người phải lấy Chân Tâm, Chân Ngã mình, làm đèn soi, và làm nơi nương tựa cho mình.» Và bà dẫn chứng bằng hai câu kinh Pháp Cú: «Đại Ngã là Chúa của tiểu ngã, và là mục đích của nó.»

Phật giáo mới phân Chân Tâm, Vọng Tâm, Chân Ngã, Vọng Ngã.

Vọng Tâm, Vọng ngã gồm tất cả những trạng thái biến thiên của tâm hồn, gồm thất tình, lục dục, tri giác, cảm giác, hoài bão, lý luận, tư tưởng, sinh sinh, diệt diệt với các hiện tượng bên ngoài. Còn Chân Tâm, Chân Ngã thời tế vi, huyền diệu, bất biến trường tồn.

Chân Tâm, Chân Ngã còn gọi là Đại Ngã, Vọng tâm, Vọng Ngã gọi là Tiểu Ngã, Đại Ngã là có, Tiểu Ngã là không.

Tìm ra được Chân Tâm tiềm ẩn dưới lớp Vọng Tâm, các hiền triết Phật Giáo mới chủ trương con người ngoài ngũ quan và ý thức, còn có đến tám thức:

. Nhãn thức
. Nhĩ thức
. Tị thức
. Thiệt thức
. Thân thức
. Ý thức
. Mạt Na thức
. A lại Da thức

Ý thức là Vọng Tâm, mà A Lại Da thức chính là Chân Tâm, còn Mạt Na thức ở giữa đóng vai môi giới.

Khi mê thì Mạt na đóng vai vô minh chỉ liên lạc được một chiều từ Chân Tâm ra Vọng Tâm, thành thử Vọng Tâm không bao giờ nhìn nhận ra được Chân Tâm.

Khi Ngộ thì Mạt Na đóng vai Bát Nhã, thành con thuyền đưa người từ bờ Vọng Tâm cho tới bến Chân Tâm, lúc ấy sự liên lạc sẽ hoàn tất cả hai chiều.

Đại Ngã là Phật Tính, là Chân Như, là căn cốt của tạo vật và của con người; vĩnh cửu, trường tồn, chân thường, bất biến, bất hoại.

Còn Tiểu ngã là vọng tâm của mỗi người, kết cấu bằng những tầng lớp hình ảnh, tư tưởng, dục tình, biến thiên, vô thường, vô định.

Trở về Đại Ngã Đại Đồng, Chân Ngã vô tướng, tức là không còn cái mình nhỏ nhoi, hèn mọn nữa và sẽ trở thành Pháp Thân uy nghi, trang trọng, phổ biến, phổ quát, đạt tới Đại Ngã là đạt tới Niết Bàn.

Nhiều người theo Phật giáo chỉ chú trọng đến vô thường, vô ngã (Anatta, Anatman) mà quên mất Chân Thường, Chân Ngã. Như vậy mới là biết Biến Thiên chưa biết Hằng Cửu, mới biết hiện tượng chưa biết Bản Thể, mới biết Luân Hồi chưa biết Niết Bàn.

Biết Hiện Tượng, chưa biết Bản Thể gọi là Mê; thấy Bản Thể mà không thấy hiện tượng cũng chưa gọi được là Ngộ. Giác Ngộ là phải thông suốt lẽ biến hằng, thông suốt hai phương diện thể dụng trong trời đất và lòng người.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết:

Thất nhữ Nguyên Thường, cố thụ luân chuyển.
失 汝 元 常 故 受 輪 轉
Không biết căn nguyên vĩnh cửu nên bị luân chuyển..

Chân Tâm là Phật Tánh, là Chân Như bất biến, hằng cửu lồng ngay trong vạn hữu và trong tâm hồn ta, chẳng ở đâu xa. Phải đi sâu vào đáy lòng mới tìm ra Chân Tâm, mới tìm ra Niết Bàn, mới tìm ra hạnh phúc, tự do, giải thoát.

Ngài Lục Tổ Huệ Năng nói: "- Tự mình tu, tự mình hành, thấy Pháp Thân của mình, thấy Phật ở Tự Tâm mình, độ lấy mình mới được".

Theo giáo lý Phật giáo, con người có cái năng lực vi diệu được chuyển từ kiếp này qua kiếp khác, cái năng lực ấy được gọi là Yid Kyi Mawpar Shespa, một danh từ rất đặc biệt phức tạp mà thông thường được hiểu như cái gọi là Linh Hồn. Đó chỉ là danh từ tạm dùng để hiểu thuyết luân hồi theo luật Karma (nghiệp).

Vì con người thường hiểu nhầm chữ Linh Hồn với Thân Trung Ấm hay Thân Thức là phần lìa khỏi thân xác sau khi chết. Để dễ hiểu khi giải thích sự chuyển hóa của hiện tượng luân hồi, tái sinh, linh hồn được xem như cái cầu nối, là cái chuyển sinh là cái để đầu thai, trả nghiệp, vì thế nhiều sách Phật giáo thỉnh thoảng vẫn thấy bóng dáng chữ Hồn hay Vong Hồn. (theo BS Nguyễn văn Thọ)


a). Phật giáo (Thích giáo) :

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Phật Thích Ca giáng cơ dạy sau đây:

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 22 : “ Chư sơn nghe dạy : Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh pháp đã bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật, buộc mối đạo Thiền. . . . .

Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. . . . Ôi !Thương thay ! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế, hiếm bậc Thần Thánh Tiên Phật phải đọa trần, Ta đương lo cứu vớt.

Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Độ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật. Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo.

Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tự như Tả đạo Bàng môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương, mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi đâu mà biết chắc vậy ?

Ta đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau, đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền.

Chư tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa.”

“ Đạo Thích bày dị đoan từ đời Thần Tú, làm mê hoặc chúng sanh. Vậy cũng phổ độ, cũng giựt giành, mà chỉ đem con người vào đường u ám lạc lầm. Kinh sám truyền lại mà không khảo cứu kiếm tầm cho ra Chơn lý, chẳng định trí tham thiền, không gom Thần mà nhập định.” (Đại Thừa Chơn Giáo. 101)

Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Phật giáo
ID025971 - Category: Thiên Kinh 🖶 Print this Thiên Kinh
Kinh : Giải Nghĩa Kinh Thiên-Đạo
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

1. Kinh Phật Giáo.

Kinh Phật giáo
Nhiên Ðăng Cổ Phật chí tâm qui mạng lễ

KINH: GIẢI NGHĨA:
1. Hỗn Ðộn Tôn Sư. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn.
2. Càn Khôn Chủ Tể. Ngài làm Chúa Tể Càn Khôn Vũ Trụ.
3. Qui Thế giới ư nhứt khí chi trung. Gom 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô.
4. Ốc trần huờn ư song thủ chi nội. Nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay.
5. Huệ đăng bất diệt chiếu Tam thập lục Thiên chi quang minh. Ðèn trí huệ cháy hoài không tắt, rọi 36 từng Trời cho sáng tỏ.
6. Ðạo pháp trường lưu. Ðạo pháp như dòng nước chảy hoài không dứt.
7. Khai cửu thập nhị tào chi mê muội. Khai hóa 92 ức nguyên nhân còn đang mê muội nơi cõi trần.
8. Ðạo cao vô cực. Ðạo pháp cao siêu không cùng tận.
9. Giáo xiển Hư linh. Dạy cho biết rõ cõi Hư linh.
10. Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên Thổi ra một chất khí biến thành cái móng trời, làm một cây cột, chống vững bầu trời.
11. Hoá kiếm thành xích nhi tam phân thác Ðịa. Biến cây kiếm thành cây thước mà 3 phân đỡ vững giềng Ðất.
12. Công tham Thái Cực. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật góp công cùng Ðức Chí Tôn.
13. Phá nhứt khiếu chi Huyền quan, Tánh hiệp vô vi. Khai phá cho thông suốt một khiếu Huyền quan, để cho Chơn thần huờn Hư.(đắc đạo).
14. Thống Tam Tài chi bí chỉ. Chưởng quản Tam Tài: Thiên, Ðịa, Nhơn, trong ý chỉ nhiệm mầu.
15. Ða thi huệ trạch, Vô lượng độ nhơn. Nhiều lần ban bố ơn huệ, Cứu giúp người đời nhiều không kể hết.
16. Ðại bi, Ðại nguyện, Ðại Thánh, Ðại từ. Ðức bi lớn, Lời nguyện lớn, Ðức Thánh lớn, Ðức từ lớn.
17. Tiên Thiên Chánh Ðạo, Nhiên Ðăng Cổ Phật. Ðạo chánh có trước Trời Ðất. Ngài là Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.
18. Vô Vi Xiển Giáo, Thiên Tôn. Dạy dỗ cho sáng tỏ Ðạo Vô Vi, Ngài là Ðấng Thiên Tôn.

(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát)

Câu 1: Hỗn Ðộn Tôn Sư,.

GIẢI NGHĨA

Hỗn Ðộn: Hỗn là lộn xộn không rõ ràng, Ðộn là lộn lạo với nhau. Hỗn Ðộn là thời kỳ mà các chất khí còn ở trạng thái lộn lạo với nhau, chưa phân thanh trược.

Tôn Sư: Vị thầy đáng kính. Tôn là kính trọng, Sư là thầy.

Câu 1: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn.

Thời Hỗn Ðộn ở đây là thời kỳ sau khi đã xuất hiện ngôi Thái Cực rồi, đến khi Thái Cực phân ra Lưỡng Nghi Âm Dương. Ðó cũng là thời Tiên Thiên, tức là thời kỳ trước khi tạo dựng Trời Ðất.

Như vậy, Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế (Ngôi Thái Cực) được Khí Hư Vô hóa sanh ra trước, sau đó mới hoá sanh ra Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

Câu 2: Càn Khôn Chủ Tể.

GIẢI NGHĨA

Càn Khôn: Hai quẻ trong Bát Quái, Càn chỉ Trời, Khôn chỉ Ðất. Càn Khôn là Trời Ðất, chỉ toàn thể vũ trụ bao la, nên thường nói là Càn Khôn Vũ Trụ.

Chủ Tể: Chủ là người đứng đầu cai quản và quyết định mọi việc trong phạm vi quyền hạn; Tể là đứng đầu. Chủ tể, còn đọc Chúa Tể là vị đứng đầu có quyền thống trị hết thảy.

Câu 2: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là Ðấng Chúa Tể Càn Khôn Vũ Trụ.

Quyền hành nầy có được là do Ðấng Ngọc Hoàng Thượng Ðế giao phó cho Ngài. Ngài thay mặt Ðấng Thượng Ðế chưởng quản cả Càn Khôn Vũ Trụ.

Câu 3: Qui Thế giới ư nhứt khí chi trung.

GIẢI NGHĨA

Qui: Gom vào một chỗ.

Thế giới: Càn Khôn Vũ Trụ của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế gồm có Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Chữ Thế giới trong câu kinh trên là chỉ 3000 Thế giới.

Ư: Ở tại.

Nhứt Khí: Một chất khí nguyên thủy, đó là Hư Vô chi Khí.

Chi: Tiếng đệm.

Trung: Ở trong.

Câu 3: Gom 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô.

Câu 4: Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

GIẢI NGHĨA

Ốc: còn một âm nữa là Ác, nghĩa là nắm giữ, cầm giữ.

Trần: Bụi bặm.

Huờn: hay Hoàn là vùng đất lớn. Trần huờn hay Trần hoàn là chỉ các cõi trần, đó là các quả Ðịa cầu có nhơn loại ở. Có tất cả 72 Ðịa cầu (Thất thập nhị Ðịa) mà Ðịa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Ðịa cầu số 68. (Xem trở lại Câu 18 và 19 KNHTÐ)

Ư: Ở tại.

Song: Hai.

Thủ: Tay. Song thủ là hai tay, hai tay: mặt và trái, nên Song thủ có hàm ý nói về Âm Dương: Khí Âm và Khí Dương.

Chi: Tiếng đệm.

Nội: Trong, ở trong.

Câu 4: Nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong hai bàn tay.

Tóm tắt 4 Câu kinh 1-2-3-4:

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị thầy đáng kính, được sanh ra vào thời Hỗn Ðộn, làm Chúa tể Càn Khôn Vũ Trụ, tóm thâu 3000 Thế giới vào trong một Khí Hư Vô, nắm giữ 72 Ðịa cầu vào trong 2 bàn tay.

Chúng ta nhận thấy, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được Ðức Chí Tôn ban cho quyền hành thay mặt Ðức Chí Tôn cai quản Càn Khôn Vũ Trụ hữu hình gồm: Tam thiên Thế giới (3000 Thế giới) và Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu).

Câu 5: Huệ đăng bất diệt, chiếu Tam thập lục Thiên chi quang minh.

GIẢI NGHĨA

Huệ: Trí não sáng suốt, thường nói là Trí huệ.

Ðăng: Cây đèn. Huệ đăng là cây đèn Trí Huệ, đốt lên để soi sáng, đẩy lui sự u mê vô minh. Huệ đăng là cây đèn Phật, đèn vô vi, đốt lên để soi sáng cái Tâm.

Bất: Không.

Diệt: Mất đi.

Bất diệt: Không mất, trường tồn mãi mãi.

Chiếu: Soi sáng.

Tam thập lục Thiên: 36 từng Trời.

Chi: Tiếng đệm.

Quang: Sáng.

Minh: Sáng.

Quang minh: Sáng tỏ.

Câu 5: Cây đèn trí huệ cháy hoài không tắt, rọi sáng 36 từng Trời.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật có cây đèn trí huệ cháy hoài không tắt, luôn luôn chiếu sáng 36 từng Trời. Cũng vì lẽ đó mà Ðức Phật ấy có hiệu là Nhiên Ðăng.

Câu 6: Ðạo pháp trường lưu.

GIẢI NGHĨA

Trường: Lâu dài.

Lưu: Chảy, nước chảy.

Trường lưu: Nước chảy hoài không dứt.

Ðạo pháp: Chánh pháp của Ðạo.

Về chữ ÐẠO, Ðức Chí Tôn có giảng giải như sau: "Ðạo, tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Ðạo, nghĩa lý rất sâu xa, nhưng phải hiểu trước bao nhiêu đó, rồi mới học các nghĩa huyền bí khác cho đích xác đặng." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 3)

(Xem thêm: Giải nghĩa chữ ÐẠO trong Kinh Tiên giáo).

Về chữ PHÁP, ý nghĩa rất rộng. Bất kỳ việc chi, dù nhỏ dù lớn, hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, chơn thật hay hư ảo, đều có thể gọi là Pháp. Những nguyên tắc, những luật lệ, những qui luật trong Càn Khôn Vũ Trụ, cũng được gọi là Pháp.

Thông thường, Giáo lý của Phật được gọi là Phật Pháp; thuyết giảng giáo lý được gọi là Thuyết pháp.

Tóm lại, Ðạo Pháp là Chánh Pháp của Ðạo. Ai tu đúng theo đó thì nhứt định đắc quả, giải thoát khỏi luân hồi.

Câu 6: Ðạo pháp trường lưu là Chánh pháp của Ðạo như dòng nước chảy hoài không dứt.

Bất cứ vào thời kỳ nào, xưa cũng như nay, Chánh pháp của các nền tôn giáo mở ra như dòng nước chảy, liên tục mãi mãi, để giúp chúng sanh gội sạch bợn trần, cuốn trôi phiền não, tẩy sạch nghiệp chướng, rửa trí não vô minh ra sáng suốt, mà lần vào nơi Cực Lạc an nhàn, để mình vào chốn thanh cao, thoát khỏi cửa Luân hồi ràng buộc.

Câu 7: Khai cửu thập nhị tào chi mê muội.

GIẢI NGHĨA

Khai: Mở ra.

Cửu thập nhị: 92.

Tào: Bọn, đám, nhóm người.

Cửu thập nhị tào: Ý nói đám 92 ức Nguyên nhân đang còn trầm luân nơi cõi trần.

Chi: Tiếng đệm.

Mê muội: Mê là mơ hồ không rõ, muội là tối tăm. Mê muội là đầu óc tối tăm, không phân biệt chánh tà, thiệt giả, ...

Nguyên nhân: Những chơn linh được sanh ra từ lúc khai Thiên, được Ðức Phật Mẫu cho đi đầu thai làm người nơi cõi trần để khai hóa cho nhơn loại được tiến bộ văn minh.

Theo Triết lý Nhơn sinh của Ðạo Cao Ðài, với Luật Tiến Hóa của Bát Hồn, loài người đầu tiên xuất hiện trên mặt Ðịa cầu nầy là do loài động vật cao cấp khỉ vượn tiến hóa mà thành. Ðó là những Hoá nhơn, người khỉ, thủy tổ của loài người.

Do đó, người nguyên thủy có trí não còn rất ngu khờ, tánh tình còn hung ác, nếp sống còn dã man, ăn lông ở lỗ.

Lúc đó, Ðức Phật Mẫu vâng lịnh Ðức Chí Tôn cho 100 ức Nguyên nhân đầu thai xuống cõi trần, để khai hóa đám Hóa nhân đó, đồng thời cũng để kinh nghiệm và tiến hóa.

Nhưng các Nguyên nhơn, khi đã mang xác phàm rồi, thì lại nhiễm trần, quên nguồn gốc và nhiệm vụ đã nhận lãnh lúc đi đầu thai, lại còn gây ra lắm tội lỗi nơi cõi trần, nên phải bị đọa luân hồi.

Ðức Chí Tôn thấy vậy mới động mối từ tâm, mở ra Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, để cứu giúp và dẫn dắt các Nguyên nhân trở về cựu vị. Nhưng Nhứt Kỳ Phổ Ðộ chỉ độ được 6 ức Nguyên nhân. (Ức là 100 000 ; 6 Ức là 600 000 người).

Ðức Chí Tôn lại mở Nhị Kỳ Phổ Ðộ, gồm Tam giáo (Nho, Thích, Ðạo) và Ngũ Chi Ðại Ðạo để giáo hóa nhơn sanh tu hành, nhưng cuối cùng cũng chỉ độ được 2 ức Nguyên nhân trở về cựu vị.

Như vậy, cả 2 thời kỳ Phổ Ðộ, Ðức Chí Tôn chỉ độ được 8 ức Nguyên nhân, còn lại 92 ức nguyên nhân vẫn đang chìm đắm nơi cõi trần.

Ðức Chí Tôn lại mở lòng Ðại từ Ðại bi lần thứ ba và cũng là lần chót, trước khi xảy ra Ðại cuộc Tận Thế và Hội Long Hoa, để chấm dứt Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước vào Thượng Nguơn Tứ Chuyển, và lần nầy, chính mình Ðức Chí Tôn đứng ra mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và đồng thời cũng mở ra Ðại Ân Xá Kỳ Ba, quyết độ cho hết 92 ức nguyên nhân trở về cựu vị.

Do đó, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được Ðức Chí Tôn giao nhiệm vụ mở cuộc giáo hóa các nguyên nhân còn đang mê muội nơi cõi trần.

Câu 7: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật khai hóa đám 92 ức Nguyên nhân đang còn mê muội nơi cõi trần.

Câu 8: Ðạo cao vô cực. Giáo xiển hư linh.

GIẢI NGHĨA

Ðạo: Ðạo pháp. (Xem Câu 6: Ðạo pháp trường lưu).

Cao: Ở trên cao.

Vô: Không.

Cực: Chỗ đầu cùng.

Vô cực: Không có cuối cùng, tức là không cùng tận.

Câu 8: Ðạo pháp cao siêu không cùng tận.

Câu 9: Giáo xiển hư linh.

GIẢI NGHĨA

Giáo: Dạy.

Xiển: Mở rộng ra, làm sáng tỏ thêm.

Hư: Trống không.

Linh: Thiêng liêng mầu nhiệm.

Giáo xiển là dạy rộng ra cho biết rõ thêm.

Hư linh: Cõi không không trên thượng từng không khí, thấy trống không mà rất thiêng liêng mầu nhiệm.

Câu 9: Dạy rộng ra cho biết rõ thêm về cõi Hư linh.

Khi mắt phàm ta không thấy gì cả, ta bảo đó là trống không. Nói như thế là tương đối, vì mắt phàm chỉ nhìn thấy một số ánh sáng hạn hẹp mà thôi, từ ánh sáng Tím đến ánh sáng Ðỏ. Còn tia Tử ngoại (Cực tím) hay tia Hồng ngoại thì mắt ta không nhìn thấy được. Ngoài ra, mắt ta cũng không thể thấy được các vật quá bé nhỏ như con vi trùng, huống chi là thấy được các nguyên tử hay điện tử.

Khoa học ngày nay chứng minh cho biết nhiều cái hiện hữu có thật, hữu hình hữu thể mà mắt ta không thể thấy được.

Nói một cách tuyệt đối thì không có cái gì là trống không cả, chỉ có điều là mắt ta thấy hay không thấy mà thôi. Tuy nhiên, với cặp mắt thiêng liêng (Huệ nhãn hay Thiên nhãn) thì mọi vật đều rất rõ ràng.

Câu 10: Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên.

GIẢI NGHĨA

Thổ: Phun ra, thổi ra.

Khí: Chất khí.

Thành: Làm nên.

Hồng: Cái cầu vòng, cái móng trời.

Nhi: Mà, tiếng dùng để chuyển ý.

Nhứt trụ: Một cây cột.

Xang: còn một âm nữa là XANH, nghĩa là chống đỡ, chống vững.

Thiên: Trời.

Câu 10: Thổi ra một chất khí biến thành cái móng, làm như một cây cột chống vững bầu trời.

Câu kinh nầy ngụ ý nói về quyền pháp mầu nhiệm và cao siêu của Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

Câu 11: Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác Ðịa.

GIẢI NGHĨA

Hóa: Biến thành.

Kiếm: Cây gươm, cây kiếm.

Thành: Làm nên.

Xích: Cây thước.

Nhi: Mà, tiếng dùng để chuyển ý.

Tam phân: 3 phân của cây thước.

Thác: Nâng, dùng 2 tay nâng một vật.

Ðịa: Ðất.

Thác Ðịa: là nâng đỡ giềng Ðất.

Câu 11: Biến cây kiếm thành cây thước, mà 3 phân đủ đỡ vững giềng Ðất.

Câu kinh nầy cũng nói lên cái quyền pháp vô biên của Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.

Nói về Phép Luyện Ðạo, hai câu Kinh 10 và 11 có ý nghĩa luyện cho Hậu Thiên biến thành Tiên Thiên, tức là luyện cho hữu hình trở về vô hình, tức là Huờn Hư, đắc đạo.

* Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xang Thiên, câu nầy có hàm ý nói quẻ LY của Hậu Thiên Bát Quái biến thành quẻ CÀN của Tiên Thiên Bát Quái, gọi là ÐIỀN LY:

Quẻ LY (image here) có một vạch đứt ở giữa, điền thêm vào chỗ trống của vạch đứt đó thì nó trở thành vạch liền, và quẻ LY biến thành quẻ CÀN (image), mà Càn tượng trưng cho Trời.

Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác Ðịa, có hàm ý nói quẻ KHẢM của Hậu Thiên Bát Quái biến thành quẻ KHÔN của Tiên Thiên Bát Quái, gọi là CHIẾT KHẢM:

Quẻ KHẢM (image) có một vạch liền ở giữa, nếu chặt cho nó đứt ra làm hai đoạn thì ta được quẻ KHÔN (image) có 3 vạch đều đứt đoạn, mà Khôn tượng trưng cho Ðất.

Khi đã CHIẾT KHẢM và ÐIỀN LY thì Hậu Thiên Bát Quái biến thành Tiên Thiên Bát Quái. Luyện được như vậy thì đắc đạo.

Câu 12: Công tham Thái Cực.

GIẢI NGHĨA

Công: Nỗi vất vả khó nhọc làm nên việc.

Tham: Góp mặt vào, tham dự.

Thái cực: chỉ Ðức Chí Tôn.

Câu 12: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật góp công cùng Ðức Chí Tôn.

Ðức Chí Tôn nắm cơ Tạo Hóa, Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật nắm cơ Giáo Hóa. Cái công Giáo hóa cũng bằng cái công sanh hóa. (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Cái công giáo hóa cũng đồng sanh.)

Câu 13: Phá nhứt khiếu chi Huyền quan, Tánh hiệp vô vi.

GIẢI NGHĨA

Phá: Làm vỡ ra.

Nhứt: Một.

Khiếu: Cái lỗ hổng.

Chi: Tiếng đệm.

Huyền: Sâu kín, huyền diệu.

Quan: Cái cửa ải.

Nhứt khiếu chi huyền quan: Một cái Khiếu Huyền quan, tức là một cái lỗ sâu kín làm cửa ải trong thân thể con người, nó ngăn lại, khó mở ra được, làm cho con người mê muội vô minh. Tu luyện là cốt để khai thông cái cửa ải nầy. Khiếu Huyền Quan nầy mà được mở hoát ra thì đắc đạo.

Trong Kinh Huyền Diệu Cảnh, tác giả Ly Trần Tử viết rằng:

"Trong mấy khiếu duy có một cái Khiếu Huyền Quan là Chúa tể. Ví dụ Huyền Quan là vua một nước, Tam quan Tam điền tỷ như Lục Bộ Thượng Thơ, 9 Khiếu kia phía trước phía sau ví như quan văn tướng võ, những cái lỗ nhỏ chơn lông ví như muôn dân. Nếu như chẳng có Khiếu Huyền Quan thì cũng như nước không vua, nhà không chủ, dân chúng phải điêu đứng khổ sở.

Thân con người mà không có Khiếu Huyền Quan thì cái thân không chủ, tức nhiên Thần phải mệt, Khí phải bị hại, ắt bị mê muội theo tửu điếm thanh lâu, thì làm sao sống lâu cho được, vì Tinh Khí Thần hao mòn lần lần.

Người tu luyện phải đem hết Chơn tâm Thực ý (Lòng ngay ý thiệt) mà luyện cho đến lúc hư cực. Ðược như vậy cũng như cái cây trăm thước mà mình đã leo đến mức chót, nhưng phải rán lên cao hơn nữa thì Huyền Quan Nhứt Khiếu mới tự nhiên xuất hiện.

Huyền Quan màu như sương tuyết. Luyện Huyền Quan hóa ra Kim Ðơn, hơi nó đỏ như màu châu sa, hơi nó sáng chói như màu thủy ngân. Nó không chân mà đi được, không hình mà động được, hễ tụ thì có, tán thì không còn, nên Huyền Quan Kim Ðơn hiện ra hay ẩn ẩn, thiệt là mầu nhiệm, không thể tả hết được.

Cho nên có câu: Thiên đắc nhứt dĩ thanh, Ðịa đắc nhứt dĩ ninh, Nhơn đắc nhứt dĩ Thánh." (Trời được một thì trong, Ðất được một thì yên, Người được một thì thành Thánh). Ðược một đó là được một Khiếu Huyền Quan, được món Kim Ðơn.

Kinh Kim Cang: Nhứt hiệp tướng bất khả thuyết. Nghĩa là: Âm Dương hiệp lại thành Kim đơn, khó tả khó nói cho rõ được.

Sách Ðại Học: Chí thiện chi Ðịa. Nghĩa là: Chỗ đất tốt hơn hết, không chi bì kịp.

Kinh Dịch nói: Huỳnh trung thông lý. Nghĩa là: Giữa Huỳnh Ðình thì thông lẽ nhiệm mầu.

Ðó là những tên đặt ra cho nhiều, kể chẳng hết, chớ chung cuộc cũng chỉ cái Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mà thôi."

Ngài Bảo Pháp Nguyễn trung Hậu, trong sách THIÊN ÐẠO của Ngài, có giải về Huyền Quan Khiếu, trang 125-126, như sau:

"Người tu hành, chừng nào luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy mở hoát ra.
Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn Cung, gom trọn Chơn Dương chánh đạo. . . .
Khi Tâm người đi đến chỗ Hư không rồi, thì Huyền Quan Nhứt Khiếu được mở hoát ra, tức là Thiên Nhãn đó, ấy là ngôi Thái Cực. Chừng ấy, sự hiểu biết không lo nghĩ mà biết, không học tập mà hay. Cái biết đó vốn có sẵn từ mấy kiếp trước, nay nhờ tu tỉnh mà được xuất hiện ở kiếp nầy, nhà tôn giáo gọi là Phát Huệ."

Tánh hiệp vô vi: Hiệp là hợp lại, Vô vi là không làm, nghĩa thường dùng là vô hình vô ảnh nhưng rất huyền diệu.

TÁNH: Theo Phật giáo, Tánh là cái bản thể chơn thật của mình vốn sáng suốt, an lạc, trong lặng. Tánh là cái nguyên lý chẳng dời đổi, chẳng tiêu mất như: Thiện tánh, Phật tánh.

Theo Thiền Tông thì cái Bổn lai Tự Tánh của ta tức cái Bổn lai Diệu giác Chơn tâm, cũng là cái Bổn lai Diện Mục.

Ðức Lục Tổ Huệ Năng nói kệ về Tánh:

Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch,
Nào dè Tánh mình chứa đầy đủ muôn Pháp,
Nào dè Tánh mình vốn không lay động,
Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn Pháp.

Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học Pháp vô ích, bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là Phật.

Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giảng về Tâm và Tánh:

"Nhà Nho nói: Tánh tự Tâm sanh. (Cái Tánh từ cái Tâm sanh ra). Ðó là lý thuyết của Ðạo Nho. Chỉ biết có một điều là ta quan sát có thể thấy hiện tượng mà tả trạng hình được, vì Ðạo Nho chưa phải là một tôn giáo huyền bí.

Còn Ðức Chí Tôn dạy ta biết rằng: Tánh là chơn tướng của Chơn Thần, còn Tâm là chơn tướng của Chơn linh.

Ðức Chí Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta. Hình thể thứ nhứt là Tâm, tức Chơn linh; thứ nhì là Tánh tức Chơn Thần; thứ ba là xác phàm thú chất nầy.

Ðức Chí Tôn hỏi: Tại sao từ trước đến giờ, theo Triết lý Ðạo Nho lấy nghĩa "Tánh tự Tâm sanh" mà tả ra? Bởi vì nó liên quan mật thiết cùng nhau. Trong Tâm mình như thế nào thì xuất Tánh ra y như vậy. Nhà Nho thấy hiện tượng mà đặt tên, còn Ðức Chí Tôn chỉ rõ cho biết: Chơn thần cũng tấn bộ như Chơn linh. Mỗi cá nhân đều có 2 năng lực ấy, có đủ quyền năng đào tạo ra hình hài xác thịt ta. Một Chơn linh cao trọng tự nhiên có một Chơn thần cao trọng."

Tánh hiệp vô vi là đem Tánh hiệp với Hư Vô, tức là huờn Hư. Nói cách khác, luyện Chơn thần huờn Hư (vì Tánh là Chơn thần), Tinh Khí Thần hiệp nhứt, đắc đạo.

Câu 13: Khai phá một Khiếu Huyền Quan cho thông suốt thì cái Tánh được huờn Hư, tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt, tạo được Chơn thần huyền diệu, đắc đạo.

Câu 14: Thống Tam Tài chi bí chỉ.

GIẢI NGHĨA

Thống: Trông coi bao gồm tất cả.

Tam Tài: 3 Tài là Thiên, Ðịa, Nhơn (Trời, Ðất, Người).

Chi: Tiếng đệm.

Bí: Kín đáo, bí mật.

Chỉ: Ý định, ý chỉ, ý hướng.

Bí chỉ: Ý chỉ bí mật, ý chỉ nhiệm mầu.

Câu 14: Chưởng quản cả Tam Tài: Thiên, Ðịa, Nhơn, trong một ý chỉ nhiệm mầu.

Ý nói: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật chỉ dùng tư tưởng mà thống quản cả Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Câu 15: Ða thi huệ trạch, Vô lượng độ nhơn.

GIẢI NGHĨA

Ða: Nhiều.

Thi: Làm, thi hành, sắp đặt làm ra.

Huệ: Ơn huệ, cái ơn làm cho người khác.

Trạch: Ơn huệ.

Ða thi huệ trạch: Nhiều lần ban bố ơn huệ.

Vô: Không.

Lượng: Ðo lường, số lượng.

Ðộ: Cứu giúp.

Nhơn: Người.

Vô lượng độ nhơn: Cứu giúp người đời nhiều không kể hết.

Câu 15: Nhiều lần ban bố ơn huệ cho nhơn sanh, cứu giúp người đời nhiều không kể hết.

Câu 16: Ðại bi, Ðại nguyện, Ðại Thánh, Ðại từ.

GIẢI NGHĨA

Ðại: Lớn.

Bi: Lòng trắc ẩn thương cảm các cảnh khổ não của chúng sanh, lúc nào cũng muốn cứu vớt chúng sanh ra khỏi phiền não và tai họa.

Ðại bi là Ðức bi lớn.

Nguyện: Lời thề hứa chắc với bản thân mình để mình cố gắng thực hiện cho kỳ được mới nghe.

Ðại nguyện là lời nguyện lớn. Phật vì thương xót chúng sanh, nên mỗi vị đều có phát ra lời Ðại nguyện:

- Ðức Phật A-Di-Ðà có phát ra 48 lời Ðại nguyện.
- Ðức Quan Âm Bồ Tát có phát ra 12 lời Ðại nguyện.
- Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có phát ra lời Ðại nguyện là: Cứu độ hết các chơn hồn tội lỗi nơi cõi U Minh.

Ðại Thánh: Ðức Thánh lớn.

Từ: Lòng thương yêu của người trên đối với kẻ dưới, lòng thương yêu của Phật đối với chúng sanh.

Ðại từ là Ðức từ lớn.

Sách Dưỡng Tử có câu: "Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử." Nghĩa là: Phật thương chúng sanh như mẹ thương con.

Câu 17: Tiên Thiên Chánh Ðạo, Nhiên Ðăng Cổ Phật.

GIẢI NGHĨA

Tiên Thiên: Trước khi tạo dựng Trời Ðất.

Chánh Ðạo: Ðạo chơn chánh.

Tiên Thiên Chánh Ðạo: Cái Ðạo chơn chánh có trước Trời Ðất. (Xem giải thích chi tiết chữ Ðạo trong phần Giải Nghĩa Kinh Tiên giáo).

Câu 17: Cái Ðạo chơn chánh có trước Trời Ðất, Ngài là Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, vị Phật xưa nhứt.

Câu 18: Vô Vi Xiển Giáo, Thiên Tôn.

GIẢI NGHĨA

Vô Vi: Không hình ảnh, không sắc tướng. Trái với Vô Vi là Hữu hình. (Xem giải thích chi tiết trong phần Giải Nghĩa Kinh Tiên giáo).

Xiển: Mở rộng ra, làm sáng tỏ thêm.

Giáo: Dạy.

Xiển Giáo: Dạy cho sáng tỏ, hiểu biết rõ ràng.

Thiên Tôn: Nghĩa đen là được tôn kính nơi cõi Trời, nhưng ở đây là chỉ phẩm tước do Ðức Chí Tôn phong thưởng. Ðức Chí Tôn là Ðại Thiên Tôn. Ðức Chí Tôn phong thưởng cho các Ðấng khác là Thiên Tôn.

Câu 18: Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là một Ðấng Thiên tôn, dạy cho sáng tỏ Ðạo Vô Vi.

CHÚ Ý: Không nên lầm lộn chữ Xiển giáo trong bài Kinh Phật giáo nầy với chữ Xiển giáo trong Truyện Phong Thần.

Trong Truyện Phong Thần, Xiển giáo là Chánh đạo, đối nghịch với Triệt giáo là Tả đạo Bàng môn.

Xiển giáo do Ðức Nguơn Thủy làm Giáo Chủ, còn Triệt giáo do Ðức Thông Thiên làm Giáo Chủ. Cả hai vị đều là học trò của Ðức Hồng Quân Lão Tổ.

2. Nguồn gốc 3 bài Kinh Tam giáo.

Ba bài kinh Tam giáo: Kinh Phật giáo, Kinh Tiên giáo, Kinh Nho giáo, do các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho ở chùa Hàn Sơn Tự, nơi Cô Tô Thành, bên Trung Hoa, rồi sau đó mới truyền qua Việt Nam.

Thời gian các Ðấng Thiêng Liêng ban cho Kinh Tam giáo, theo các bậc tiền bối kể lại, là trong thời Nhà Thanh, đời vua Thanh Nhơn Tông, niên hiệu Gia Khánh (1796 - 1820) và đời vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Ðạo Quang (1821 - 1851).

Như bài Kinh Tiên giáo, có in trong quyển sách: Huỳnh Ðình Nội Cảnh Tường Chú, do Hàm Hư Tử bình chú năm 1847.

3. Ghi chú về việc Giải nghĩa.

Trong phần Giải nghĩa 3 bài Kinh Tam giáo, có viết chữ Hán kèm theo, soạn giả căn cứ phần chánh vào Bản Kinh Hán văn in trong quyển "Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh" xuất bản năm 1928, của Nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, có sự phối hợp đối chiếu với Bản Kinh Hán văn in trong quyển "Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Kinh" của Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh, xuất bản năm 1929.

4. Giải nghĩa Kinh Phật giáo.

Phật giáo: đồng nghĩa Phật đạo, chỉ những tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật.

Thích giáo: Thích là chỉ Ðức Phật Thích Ca. Thích giáo là tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca lập ra tại Ấn Ðộ và Ðức Thích Ca làm Giáo chủ.

Từ ngữ Thích giáo tương ứng với các từ ngữ như: Lão giáo, Khổng giáo.

- Lão giáo là tôn giáo do Ðức Lão Tử lập ra và Ðức Lão Tử làm Giáo chủ.

- Khổng giáo là tôn giáo do Ðức Khổng Tử lập ra và Ðức Khổng Tử làm Giáo chủ.

Thích giáo dạy tín đồ tu thành Phật, nên Thích giáo cũng là Phật giáo, nhưng từ ngữ Phật giáo có nghĩa rộng hơn, vì Thích giáo là chỉ riêng về tôn giáo của Phật Thích Ca, còn Phật giáo là nói chung các tôn giáo mà giáo lý dạy tín đồ tu thành Phật.

Do đó, Bà La Môn giáo, Pythagore giáo, là thuộc về Phật giáo (hay Phật đạo), chớ không thuộc về Thích giáo.

Cho nên, bài Xưng Tụng Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật được gọi là bài Kinh Phật giáo thì sát nghĩa hơn.

Nhiên Ðăng Cổ Phật: Nhiên là đốt cháy, Ðăng là cây đèn, Cổ là xưa, Cổ Phật là vị Phật xưa. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, gọi theo tiếng Phạn là Dipankara, dịch ra Hán văn là: Nhiên Ðăng Phật hay Ðính Quang Phật. (Ðính là cái chân đèn). Kinh Trí Ðộ Luận viết: Như Nhiên Ðăng Phật, khi sanh ra, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Ðăng Thái Tử. Khi tu thành Phật thì gọi là Nhiên Ðăng Phật, xưa gọi là Ðính Quang Phật. Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật giáng sanh nơi nước Ấn Ðộ và mở Phật giáo tại đây vào thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 31: "Như kẻ bên Phật giáo tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Người ta gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh đời nhà Châu."

Theo Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, Ðức Phật Thích Ca có một tiền kiếp là Tỳ Kheo Nho Ðồng. Nho Ðồng từng gặp và cúng hoa cho Ðức Phật Nhiên Ðăng. Nho Ðồng mua hoa ấy từ một cô gái với giá rất đắt. Cô gái hỏi vì sao Nho Ðồng lại chịu mua hoa với giá đắt như thế. Nho Ðồng trả lời là mua hoa để cúng Ðức Phật Nhiên Ðăng. Cô gái liền tặng không bó hoa với lời nguyện là Cô với Nho Ðồng sẽ kết duyên vợ chồng trong các kiếp sau.

Sa môn Nho Ðồng là tiền thân của Phật Thích Ca, cô gái bán hoa là tiền thân của Công Chúa Gia Du Ðà La (Yasodhara).

Theo Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn thì: Ðức Phật Nhiên Ðăng có thọ ký cho Thiện Huệ Bồ Tát, phán rằng, về sau, Ngài Thiện Huệ Bồ Tát sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Phật phán với A Nan rằng: Về đời quá khứ, thuở xưa cách nay lâu xa vô lượng, chẳng có thể suy nghĩ bàn bạc được là bao nhiêu kiếp, Ðức Ðính Quang Như Lai (Nhiên Ðăng) xuất hiện ở thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, đều đắc đạo, rồi Ngài mới diệt độ (nhập Niết Bàn).

Theo giáo lý của Ðạo Cao Ðài thì:

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật là vị Phật xưa nhứt, đầu tiên hơn hết trong hằng hà sa số Phật trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy. Ngài được sanh ra từ thời Hỗn Ðộn, sau khi ngôi Thái Cực xuất hiện và trước khi tạo dựng Trời Ðất. Ngài giáng trần ở nước Ấn Ðộ, ứng vào thời vua Huỳnh Ðế bên Tàu, mở ra PG thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ. Ngài là Chưởng giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Ðại Hội, điểm đạo các vị đắc quả trong Nhứt Kỳ Phổ Ðộ.

Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật hiện nay chưởng quản từng Trời Hư Vô Thiên, là từng Trời thứ 10, ở bên trên Cửu Trùng Thiên, nơi đó có Ngọc Hư Cung để họp Triều đình của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế, thiết lập Thiên Ðiều cai trị CKTG.

Nối tiếp Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật thì có Ðức Phật Thích Ca giáng sanh nơi Ấn Ðộ, ứng vào thời nhà Châu bên Tàu, mở Phật giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.

Chí tâm qui mạng lễ: Chí là ý chí, lòng mong muốn mạnh mẽ làm một việc gì, tâm là lòng, chí tâm là lòng phấn khởi đem hết tâm chí ra thực hiện. Qui là đem mình về, nương theo, mạng là mệnh lệnh, lễ là cúng lạy.

Chí tâm qui mạng lễ là cúng lạy với tất cả ý chí và tâm hồn, đem mình về vâng chịu nghe theo.

Phật giáo
ID023821 - Category: Tự ĐiểnEN 🖶 Print this Tự ĐiểnEN
dictionaryEN : ENCYCLOPEDIA of CAODAISM - P
Tác Giả : Lê Kim Liên - Từ Chơn

Phật giáo

Phật giáo

Chinese: 佛敎

Buddhism, the doctrine taught by Siddartha Gautama, or Buddha in the six century B.C. The number of adherents was estimated at 470,000,000 (1881).

According to Caodaism, Buddhism had been existing long before that. In the First Amnesty, Dipankara Buddha had taught the doctrine. Siddhartha Gautama renovated and taught it in the Second Amnesty.


佛敎

A: Buddhism.

P: Bouddhisme.

Giáo: dạy, tôn giáo.

Phật giáo là những điều dạy bảo của Phật tạo thành một giáo pháp có hệ thống để dạy dỗ nhơn sanh. Đó là một nền triết học về đạo đức rất cao siêu, dạy nhơn sanh tự tỉnh, tự ngộ, tự giác, để cuối cùng thì thành Phật.

Hiện nay, khi nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay là một tôn giáo do Đức Phật Thích Ca mở ra và làm giáo chủ.

Trước thời Đức Phật Thích Ca thì đã có Phật giáo rồi. Đó là Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật giáng trần mở đạo. Đến thời Nhị Kỳ Phổ Độ, Thái Tử Sĩ Đạt Ta tu thiền định dưới cội Bồ đề, đắc thành Phật, xưng hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài khởi thuyết pháp dạy dỗ chư môn đệ, mở ra Phật giáo, truyền đến ngày nay.

Phật giáo là tôn giáo lớn có số tín đồ rất đông đảo trên thế giới, truyền bá ở các nước Á Đông như: Ấn Độ, Trung Hoa, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhựt Bổn, Tây Tạng, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Việt Nam,.... Tổng số tín đồ Phật giáo trên thế giới ước lượng 300 triệu người.

 

Phật Giáo
ID025453 - Category: Chương 🖶 Print this Chương
Phần : Phần III: Đạo giáo
Thánh Ngôn : Thánh Ngôn Tuyển Tập
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Long Thành (1942-1998)

Phật Giáo

1. Nguyên nhân Phật Đạo bị bế.

"Chư chúng sanh nghe :

Từ trước Ta giáng sanh lập Phật Giáo gần sáu ngàn năm thì Phật Đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói Phật giả vô ngôn. Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo Đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.

Dường này, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đọa A-Tỳ, thì hết lời nói rằng:"Phật Tông vô giáo", mà chối tội nữa. (TNHT, Q. I , 30 - 05-1926)

"Vốn từ Lục Tổ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bật thành; Chánh Pháp bi nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, tập riêng pháp luật buộc mối Đạo Thiền.

Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã cho ra nên cam để vậy, làm cho Phật Tông thất chánh có trên 3 ngàn năm nay, Vì Tam Kỳ Phổ Độ, Thiên Địa hoằng khai, nơi "Tây Phương Cực Lạc" và "Ngọc Hư Cung" mặt chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi; tại tông đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.

Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành Đạo . . . Ôi! Thương thay! công có công, mà thưởng chưa hề có thưởng; vì vậy mà Ta rất đau lòng.

TA đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, TA đương lo cứu vớt.

Chư tăng, chư chúng san hữu căn, hữu kiếp đặng gặp kỳ Phổ Độ này là lần chót; phải ráng sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trong giả luật. Chư Sơn đắc đạo cùng chăng là do ơi mình hành đạo. Phép hành Đạo Phật Giáo dường như ra sai hết, tương tự như gần biến t"Tả Đạo Bàn Môn". Kỳ truyền đã thất, Chư Sơn chưa hề biết chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào; cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mõi về Tây Phương mà cửa Tây Phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy. . . . . ." (TNHT, Q. I - 5 tháng 6 năm 1926)

2. Tu nhiều mà thành ít.

Lắm kẻ chịu khổ hạnh hành Đạo. . .Ôi ! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng. (TNHT. QI. Tr 22 ),

Nguyên từ buổi bế Đạo, tuy chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ Đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc Đạo cùng chăng. Nhưng mà có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít . (TNHT. QI. Tr 40)

3. Phổ độ lần chót.

Ta đến chẳng phải cứu một mình chư Tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần Ta đương lo cứu vớt.

Chư Tăng, Chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp đặng gặp kỳ Phổ Độ nầy là lần chót; phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trong giả luật. Chư Sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo…

Ta đã đến với huyền diệu nầy, thì từ đây Ta cũng cho chư Tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư Tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa. (TNHT. QI. Tr 20-22-23-40)

Thành kỉnh tụng Phật giáo tâm kinh
ID019785 - Category: Tự Điển 🖶 Print this Tự Điển
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Vần TH
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Thành kỉnh tụng Phật giáo tâm kinh

誠敬誦佛敎心經

Thành: Thành thật, chơn thật. Kỉnh: Kính: tôn kính. Tụng: đọc kinh. Tâm kinh: bài kinh dạy về tâm, nên phải dùng tâm mà lãnh hội. Phật giáo tâm kinh: bài kinh Phật dạy về tâm.

Thành kỉnh tụng Phật giáo tâm kinh: Thành kính tụng bài Phật giáo tâm kinh, là bài kinh Phật dạy về tâm.

Đây là một câu xướng của Lễ sĩ trong nghi tiết cúng Đại đàn hay Tiểu đàn, để đồng nhi bắt đầu tụng bài kinh Phật giáo: "Hỗn Độn Tôn Sư,....."

Thành kỉnh tụng Phật giáo tâm kinh
ID024692 - Category: Tự ĐiểnEN 🖶 Print this Tự ĐiểnEN
dictionaryEN : ENCYCLOPEDIA of CAODAISM - TH
Tác Giả : Lê Kim Liên - Từ Chơn

Thành kỉnh tụng Phật giáo tâm kinh

Chinese: 誠敬誦佛敎心經

To sincerely say the Buddhism Prayer.

In a Caodaist rite, after this phrase is sung out, all choirboys and choirgirls will recite the prayer.